Sunday, October 30, 2016

Tổng Bí thư thất thế, Đinh Thế Huynh gạt nước mắt bỏ Trọng ra đi.

Tổng Bí thư thất thế, Đinh Thế Huynh gạt nước mắt bỏ Trọng ra đi


Tử huyệt của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói chung là vấn đề thảm họa môi trường 4 tỉnh miền Trung do Formosa gây ra và vấn đề bức tượng vàng ròng 50 kg, quà tặng của Formosa mà Võ Kim Cự là kẻ môi giới là nói riêng sẽ là chiếc dây thòng lọng sẽ xiết cổ Tổng Bí thư Trong trong một ngày không xa.

Sáng 14/10, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (Hội nghị TW 4) đã kết thúc sau 6 ngày làm việc. Ngoài bài phát biểu bế mạc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với những lời lẽ xáo rỗng, vô hồn thì hầu như dư luận không hề biết kết quả của Hội nghị TW 4 ra sao?; những tuyên bố đao to búa lớn của Tổng Bí thư Trọng được triển khai thế nào? Trong lúc qua các thông tin về Hội nghị TW lần này do truyền thông nhà nước đưa tin về kết quả thì tẻ nhạt như cơm nguội. Điều đó đã tạo ra cho dư luận một sự nghi ngờ không nhỏ.

Tuy vậy, mọi sự hoài nghi của dư luận đã được giải tỏa, sau khi vào sáng 18/10, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các ĐBQH đơn vị bầu cử số 1 tiếp xúc cử tri tại quận Tây Hồ, Hà nội để thông báo về kết quả của Hội nghị TW 4 tới các cử tri lão thành cách mạng cũng như các cán bộ cao cấp đã nghỉ hưu trên địa bàn này. Ngoài việc nói nhưng lời nói xáo rỗng, chung chung mang tính đe nẹt, dọa dẫm hòng khuếch trương quyền lực vốn đã được lặp đi lặp lại nhiều lần, ở nhiều nơi trong giai đoạn gần đây. Như kiểu: “Trọng tâm của trọng tâm là phải chống suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống và tự diễn biến, tự chuyển hoá. Người đứng đầu mà tự tung tự tác, quyết định tất, quyết dự án, quyết cán bộ, đề bạt, tranh thủ cuối nhiệm kỳ đưa con cháu mình lên. Cứ thế là hỏng chế độ, quan trọng nhất là mất lòng tin” v.v...

Đáng chú ý, cuối bài phát biểu, trước các ý kiến bức xúc của các cử tri Quận Tây hồ truy vấn một cách quyết liệt, trước việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói quá nhiều nhưng hầu như không làm được cụ thể một việc nào đạt kết quả cho ra hồn. Ông Nguyễn Phú Trọng đã buộc phải thú nhận: "chống tham nhũng bây giờ khó lắm, vì ta tự đánh ta".

Nếu bỏ chúng ta bỏ qua việc ông Tổng Bí thư Trọng tự thừa nhận rằng bản thân ông cũng là kẻ đang (đứng trong đội ngũ) tham nhũng, hay như việc so sánh phát biểu đó của ông Trọng coi kẻ tham nhũng là quân ta, điều này ngược với quan điểm của ông Hồ Chí Minh về việc đấu tranh chống quan liêu tham nhũng coi đó là thứ giặc nội xâm. Đây là điều nhỏ, không đáng quan tâm đối với một người lãnh đạo hàng đầu của đảng CSVN với biệt danh là "Lú" vốn không biết gì ngoài cái mớ lý luận vô hồn của cái thứ tư tưởng thuộc loại cực kỳ phản động đã bị toàn thế giới bài trừ và vứt vào sọt rác.

Thì sẽ thấy phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã cho thấy sự thất bại ê chề của cái gọi là cuộc chiến có tên "chống suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống và tự diễn biến, tự chuyển  hoá", một mục tiêu trọng tâm của của các vấn đề trọng tâm trong Hội nghị TW 4 - khóa 12 lần này. Nói rõ hơn, đây là một cuộc chiến thanh trừng nội bộ lãnh đạo đảng mang hình thức và màu sắc "Đả Hổ, Diệt Ruồi" của Trung Quốc, do lãnh đạo đảng CSVN phát động dưới sự chỉ đạo sâu sát của chính quyền Bắc Kinh. Việc Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Đinh Thế Huynh vội vã bay sang Trung Quốc để báo cáo với ban lãnh đạo Bắc kinh từ ngày 19 đến ngày 21/10/2016 đã cho thấy điều đó.

Phe ông Trọng thất bại toàn tập tại Hội nghị TW 4

Trước khi tiến tới Hội nghị TW 4, truyền thông nhà nước dưới sự chỉ đạo của Ban Tuyên giáo đã dong trống, mở cờ cho chiến dịch chống tự diễn biến, tự chuyển hoá. Mà mục đích không ngoài việc loại bỏ các thành phần tay chân thân tín nhất của cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người được cho là có tư tưởng thân Mỹ và bài Tầu.

Trọng tâm nhất của phe ông Trọng trong Hội nghị TW 4 lần này là bằng mọi giá đánh đổ được 2 con "Hổ nhỡ" mang tên Đinh La Thăng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP. HCM và Vũ Huy Hoàng, cựu Bộ trưởng Bộ Công thương để triệt tiêu tận gốc các thành phần có tư tưởng thân Mỹ và bài Tầu. Đồng thời là để tạo đà và kiếm cớ ở lại hết nhiệm kỳ Đại hội khóa 12 (tới năm 2021). Tất nhiên, mưu đồ đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi về mọi mặt của con "Cáo già" Chủ tịch Nước Trần Đại Quang, kẻ đang có tham vọng kiêm 2 chức vụ Tổng Bí thư và Chủ tịch Nước. Việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bất ngờ tham gia Đảng ủy Công An TW và bắt giam Vũ Đức Thuận cũng như một số quan chức của Tổng công ty PVC vốn là tay chân thân tín của Đinh La Thăng và Trần Đại Quang trước khi khai mạc Hội nghị TW 4 đã cho thấy điều đó.

Thực ra, cựu Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng cũng bị tai bay vạ gió vì cũng có phần liên quan đến Trịnh Xuân Thanh, đàn em của Đinh La Thăng là điểm đột phá của chiến dịch "chống tự diễn biến, tự chuyển hoá" của ông Trọng. Phải hiểu cựu Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng đã về hưu rồi thì làm gì được ông ta và chuyện ông Hoàng có trách nhiệm trong việc bổ nhiệm con trai ông Vũ Quang Hải cũng như Trịnh Xuân Thanh thì là chuyện thường ngày, lãnh đạo đảng ở mọi cấp bổ nhiệm con ông, cháu cha thì ông nào không như thế?

Trước tham vọng và mưu đồ của Tổng Trọng, từ sau Đại hội Đảng 12 ông Trần Đại Quang đã nhận thấy Nguyễn Phú Trọng là nhân vật và là nguy cơ có khả năng đe dọa chiếc ghế quyền lực của mình. Chính vì thế nên Quang đã chính thức tuyên bố rằng mình đã tâm phục, khẩu phục về đầu quân chính thức cho phe ông Dũng và thề rằng sẽ bỏ thói lá mặt, lá trái gió chiều nào che chiều ấy như trước đây. Dù rằng trước đó Trần Đại Quang đã bị Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vô hiệu hóa qua các bằng chứng cụ thể trong các vụ nhận tiền chạy án với số lượng cực lớn để bỏ lọt các đại án tham nhũng.

Việc Chủ tịch Quang chính thức về đầu quân cho Ba Dũng, được ví như Rồng được chắp cánh, Hổ có thêm nanh vuốt và đã tạo ra cho phe của Nguyễn Tấn Dũng sức mạnh vô địch, chính thức nắm trọn vẹn bộ máy Bộ Công An. Mà bằng chứng là Bộ Công An đã vô hiệu hóa toàn bộ ý đồ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khi định xúc tiến vụ việc Trịnh Xuân Thanh hòng tạo ngòi nổ cho chiến dịch thanh trừng trên diện rộng dưới danh nghĩa chỉnh đốn đảng.

Trong vụ việc Trịnh Xuân Thanh bỏ trốn là điều bất thường với nhiều người kể cả ông Trọng, nhưng không bất ngờ đối với lãnh đạo Bộ Công An và cho đến nay họ biết rất rõ Trịnh Xuân Thanh ở đâu, hàng ngày ăn thức ăn gì, uống bia loại nào và ngồi đánh bài với những ai? Chứ người khôn thì chẳng có ai tin vào mấy tấm hình photoshop của Trịnh Xuân Thanh mà người ta (công an) nhờ đưa lên để trêu tức phe đảng của ông Trọng. Trịnh Xuân Thanh cũng đủ khôn để phạm phải việc không lạy ông tôi ở bụi này. Không hiểu làm sao mà Tập hợp Dân Chủ Đa Nguyên của ông Nguyễn Gia Kiểng ở bên Pháp mà lại có tài nhờ được Bộ Công An cho Trịnh Xuân Thanh chịu chụp hình đang đọc Dự Án Chính trị - Khai sáng kỷ nguyên thứ 2 để quảng bá cho tổ chức của mình?

Khi bước vào Hội nghị TW 4, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hết sức tự tin vì nghĩ rằng việc bắt giam Vũ Đức Thuận cũng như một số quan chức của Tổng công ty PVC vốn là tay chân thân tín của Đinh La Thăng (trong đó có cháu của Trần Đại Quang) mấy ngày trước đó và tiếp theo sẽ sờ tiếp đến Đinh La Thăng sẽ khiến phe ông Dũng lo sợ. Qua khẩu khí của bài diễn văn khai mạc Hội nghị TW 4 của Tổng Bí thư sẽ thấy điều đó, một lần nữa ông Trọng lại nhầm to. Hơn nữa ông Tổng Bí thư Trọng không biết rằng Ban Chấp hành TW đã giăng một cái bẫy lớn mà có thể quật ngã ông Trọng và kể cả việc "bắt sống".

Trong buổi chiều ngày làm việc thứ 2 của Hội nghị TW 4, khi Tổng Bí thư Trọng đang trình bài về cái gọi là "chống suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống và tự diễn biến, tự chuyển hoá", coi đó là một mục tiêu trọng tâm của của các vấn đề trọng tâm trong Hội nghị TW 4 - khóa 12 lần này. Thì lập tức, một Ủy viên Trung ương thuộc tỉnh Kiên Giang đã đứng lên ngắt lời Tổng Bí thư và khẳng định, việc cấp bách nhất là thảm hoạn môi trường do Forrmosa gây ra là điều phải được Hội Nghị TW 4 đặt lên hàng đầu để giải quyết. Một số đông các UVTW vỗ tay đồng tình. Lập tức vấn đề Formosa được đưa ra bàn thảo theo biểu quyết của số đông, trong đó yêu cầu làm rõ trách nhiệm của ông Võ Kim Cự và truất quyền Ủy viên TW trong lúc ông Cự có mặt đang ngồi dự hội nghị.


Ông Trọng và vây cánh hoàn toàn bất ngờ vì chủ quan, chỉ nghĩ rằng mục đích của Hội nghị TW 4 để đánh tham nhũng, cụ thể là các vụ đại án. Mà ông Trong đã quên mất rằng, trước đó ngày 1/8/2016 khi tiếp xúc với cử tri TP. Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã khẳng định rằng, sẽ xử lý nghiêm bất kể ai, tổ chức nào liên quan đến Formosa. Không chỉ thế, việc Công An tỉnh Khánh Hòa bắt blogger Mẹ Nấm ngày 10/10/2016 với các bằng chứng đưa trên truyền hình nhà nước, đó là những khẩu hiệu bảo vệ môi trường, chống Formosa mà bất cứ người yêu nước nào cũng cần phải làm. Điều đó đã gây phản ứng mạnh mẽ của giới ngoại giao phương Tây, cái đó ập vào Hội nghị TW 4 trong bối cảnh sức ép của Trung Quốc đối với Việt Nam hết sức nặng nề càng làm cho không khí tại hội nghị hết sức căng thẳng.

Một số Ủy viên TW thuộc phe của ông Trọng đã có nhiều ý kiến thấy rằng, vấn đề chống tự diễn biến, tự chuyển hoá là nghị quyết đảng buộc phải thực hiện, còn vấn đề Formosa sẽ đưa ra bàn bạc tại một thời điểm thích hợp hơn. Lập tức có ý kiến yêu cầu Ban chấp hành TW phải di sâu làm rõ và thẩm định chất lượng bức tượng màu vàng do ban lãnh đạo Formosa Hà Tĩnh tặng cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có phải là bằng vàng nguyên chất dùng để hối lộ như dư luận đồn đoán hay không?

Đến nước đó thì Tổng Bí thư Trọng lâm vào tình thế “Đi cũng dở mà ở cũng không xong”, phiên làm việc ngày thứ 3 được Ban Thư ký hội nghị yêu cầu nghỉ sớm hơn bình thường 1h30’. Và ngay tối hôm đó, nguồn tin cho biết đã có sự thống nhất trong đảng, tạm dừng việc đấu tranh chống tham nhũng, chỉ tập trung xử lý các vụ đại án đã có từ trước; kể cả vụ PVC cũng chỉ xử lý theo hồ sơ ban đầu và không mở rộng, Đồng thời việc xử lý truất chức vụ Ủy viên TW của ông Võ Kim Cự và việc xử lý các cá nhân có liên quan đến Formosa.

Tuy vậy, sáng ngày làm việc tiếp theo, dù rằng các Ủy viên TW thuộc các phe đã được huấn thị các nghị quyết nêu trên, nhưng đa số không đồng tình với việc tha tội cho ông Võ Kim Cự và tiếp tục yêu cầu xử lý nghiêm khắc.

Tổng Bí thư Trọng chủ quan, khinh địch

Qua đó cho thấy, Tổng Bí thư Trọng không đánh giá hết thực chất năng lực của bản thân, với những gì ông nắm được. Đó là chưa kể đến năng lực lãnh đạo cũng như tuổi tác của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, không cho phép ông có thể gánh vác được trọng trách cao cả như thế. Quan trọng hơn, giữa một đám quan chức tham nhũng, theo nhận xét của PCT Nước Nguyễn Thị Doan là "ăn không chừa thứ gì của dân" như thế, thì một người được coi là thanh liêm (ăn hối lộ ít hơn) như ông Trọng thì liệu các thành viên của băng đảng tham nhũng - những đồng chí của ông Nguyễn Phú Trọng có chịu để cho ông một phần đất "đất" trong Đảng để tồn tại hay không là điều còn khó. Vậy thì còn nói gì đến chuyện tham vọng chính trị?

Thực ra trong lúc này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thực chất không hề có quyền lực. Ông Trọng không nắm được quân đội, người của ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Đại tướng Ngô Xuân Lịch đâu có phải là tướng trận mạc, ông Lịch đi lên từ Tổng cục Chính trị là một viên quan văn thì biết gì về điều binh, khiển tướng. Mà chắc chắn các tướng lĩnh thực thụ trong quân đội Việt Nam hiện nay họ không thể chấp nhận một người chỉ huy như thế. Song với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thì Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Đại tướng Ngô Xuân Lịch chỉ là một thứ thuốc an thần. Chưa kể đến chuyện đây là một nhóm phò Tầu, điều mà ai cũng ghét.

Quyền bính trong quân đội Việt Nam lúc này nằm trong tay Trung tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tướng Giang là tướng lĩnh trận mạc và là một người trưởng thành từ trận chiến chống Trung Quốc năm 1979, cánh tay phải của Đại tướng Đỗ Bá Tỵ. Quan trọng hơn, người đang nắm chức vụ thống lĩnh tối cao các lực lượng vũ trang (bao gồm công an, quân đội, dân quân tự vệ bán vũ trang…) ở Việt Nam là Chủ tịch Nước Trần Đại Quang, với vai trò là người đứng đầu Nhà nước Việt Nam về đối nội và đối ngoại, ngoại giao an ninh quốc phòng, và hiện nay ông Ba Dũng đang là liên minh chính trị với ông Trần Đại Quang.

Còn quyền bính của lực lượng "Thanh kiếm lá chắn" - Công An thuộc về ai thì chắc đã rõ không cần phải nhắc đến. Vì ngoài Bộ trưởng Tô Lâm và 5 Thứ trưởng Bộ Công An hiện nay đều do ông Ba Dũng dựng lên trước đây, hơn thế nữa Bộ trưởng Tô Lâm và Bí thư Thành ủy Sài Gòn Đinh La Thăng là hai hạt giống mà Ba Dũng nâng niu nhất.

Kết:

Tóm lại, tử huyệt của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói chung là vấn đề thảm họa môi trường 4 tỉnh miền Trung do Formosa gây ra và vấn đề bức tượng vàng ròng 50 kg, quà tặng của Formosa mà Võ Kim Cự là kẻ môi giới nói riêng sẽ là chiếc dây thòng lọng sẽ xiết cổ Tổng Bí thư Trong trong một ngày không xa. Ông Trọng đừng có tham vọng giữ chức TBT đủ 4 năm cho tới hết nhiệm kỳ đại hội 12, mà hãy cố mà trụ được cho đủ nửa khóa như đã thỏa thuận. Cứ xem ông Đinh Thế Huynh nhân vật số 2 trong đảng, người thân tín của ông Nguyễn Phú Trọng từng được Bắc kinh ủng hộ để giữ chức Tổng Bí thư ĐH 12 và là người được cho là sẽ kế nhiệm ông Trọng còn bỏ Trung Quốc theo Mỹ thì cũng biết số phận ông Trọng sẽ ra sao.

Bởi ở đời, họ phù thịnh chứ ai dại gì đi phù suy. Đinh Thế Huynh hiểu điều dó hơn ai hết.

Việt Dũng

(Tin Tức Hàng Ngày)

Saturday, October 29, 2016

TƯ LỆNH QUÂN ĐOÀN I NGÔ QUANG TRƯỞNG NÓI VỀ SƯ ĐOÀN 3 BB TẠI CHIẾN TRƯỜNG QUẢNG TRỊ

TƯ LỆNH QUÂN ĐOÀN I NGÔ QUANG TRƯỞNG NÓI VỀ SƯ ĐOÀN 3 BB TẠI CHIẾN TRƯỜNG QUẢNG TRỊ *

Trong các số trước, chúng tôi đã lược trình về diễn tiến các trận đánh lớn tại mặt trận Quảng Trị trong suốt 32 ngày, tính từ sáng ngày 30 tháng 3/1972 khi CSBV tung 45 ngàn quân tấn công cường tậ

Vương Hồng Anh
http://vignette3.wikia.nocookie.net/paradox-modfanmadebackup/images/d/dd/Images784917_Bai_tuong_Ngo_Quang_Truong_bi_mat_tiet_lo_phunutoday.vn_1.jpg/revision/latest?cb=20160324132355

Nhìn lại 32 ngày bi tráng của cuộc chiến:

Trong các số trước, chúng tôi đã lược trình về diễn tiến các trận đánh lớn tại mặt trận Quảng Trị trong suốt 32 ngày, tính từ sáng ngày 30 tháng 3/1972 khi CSBV tung 45 ngàn quân tấn công cường tập vào tất cả các vị trí phòng ngự của Sư đoàn 3 Bộ binh và 2 lữ đoàn 147 và 258 TQLC, đến chiều ngày 1/5/1972 khi những người lính VNCH cuối cùng triệt thoái khỏi Quảng Trị. Từ năm 1972 đến nay đã có rất nhiều bài viết phân tích, ghi nhận về cuộc chiến Mùa Hè 1972 tại Quảng Trị mà theo một số quân sử gia Hoa Kỳ đó là một trong những trận chiến bi tráng nhất, và cũng rất hào hùng trong chiến sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.




Suốt trong 32 trực diện với CQ, các đơn vị của Sư đoàn 3 BB và các lực lượng tăng phái gồm lữ đoàn 147, 258 TQLC, lữ đoàn 1 Kỵ binh, 3 liên đoàn BĐQ: 1,4,5, các đơn vị Pháo binh, Công binh chiến đấu, Không quân chiến thuật và chiến lược Việt Mỹ… đã nỗ lực chận đứng được các trận tấn công cường tập của CQ. Dù Quảng Trị bị thất thủ và bị CQ tạm chiếm trong một thời gian ngắn, nhưng lực lượng VNCH đã loại ngoài vòng chiến 3 trung đoàn chủ lực CSBV tại các phòng tuyến Đông Hà, Ái Tử, căn cứ Phượng Hoàng, Bắc Thạch Hãn…

Sau khi Quảng Trị thất thủ, ngày 2 tháng 5/1972, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã điều động trung tướng Ngô Quang Trưởng, lúc bấy giờ là tư lệnh Quân đoàn 4, ra Huế để chỉ huy Quân đoàn 1 thay thế trung tướng Hoàng Xuân Lãm. Ngay sau khi nhận chức, tướng Trưởng đã lập kế hoạch tái chiếm Quảng Trị và bảo vệ Cố đô Huế. Ông cũng đã dành thời gian tìm hiểu về cuộc chiến Quảng Trị. Sau đây là phần nhận định của vị tư lệnh cuối cùng của Quân đoàn 1 về những ngày cuối cùng tại mặt trận Quảng Trị. Phần nhận định này đã được ông trình bày trong loạt bài viết cho Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ, sau đó được phổ biến trong cuốn “The Easter Offensive 1972” và cuốn Chiến Trận Mùa Hè 1972 do ông Trần Phan Anh biên soạn. Sau đây là một số trích đoạn được sắp xếp lại theo diễn tiến của trận chiến.


* Tướng Trưởng: từ  Cần Thơ đến Trị Thiên

Tôi (trung tướng Trưởng) nhận được lệnh của Tổng thống VNCH tiếp nhận chức vụ tư lệnh Quân đoàn 1. Tôi đã phục vụ tại Quân đoàn 1 dưới quyền chỉ huy của tướng Lãm trong một thời gian nên những biến họa xảy ra tại chiến trường này không làm tôi ngạc nhiên. Câu hỏi được nêu lên là tướng Lãm và bộ tham mưu trực thuộc có đủ khả năng điều động và yểm trợ các đại đơn vị trên một chiến trường rộng lớn đang sôi động hay không” Bây giờ sự thật đã cho thấy câu trả lời. Tôi đã theo dõi tình hình chiến sự ở Quân khu 1 ngay từ khi cuộc tổng tấn công bắt đầu và chuẩn bị sẵn sàng khi được gọi ra chỉ huy chiến trường này. Tôi đã chọn lựa một số sĩ quan thân tín mà tôi muốn đem theo, một khi Tổng thống VNCH thông báo quyết định về việc chọn tôi thay trung tướng Lãm. Từ bộ tư lệnh Quân đoàn 4 ở Cần Thơ, tôi đã bay ra Huế cùng vài sĩ quan thân cận. Tôi đến Huế giống như sự trở về của một người con trong đại gia đình quân sĩ và là người bạn cố tri của thành phố này, nơi đây tôi đã phục vụ với tư cách là tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh (từ tháng 6/1966 đến tháng 8/1970). Tôi cảm nhận là có sự ban thưởng dành cho tôi khi nhận ra được rằng rằng niềm tin của mọi người vẫn còn đè nặng lên tôi. Sự kiện này đã bảo đảm cho tôi có được những điều cần thiết nhất trong những giờ phút nguy kịch nhất của lịch sử.


* Những ngày cuối của trận chiến Quảng Trị:

Các hoạt động cuối cùng của CSBV trong những ngày cuối tháng 4/1972 đưa đến sự thất thủ của lực lượng VNCH tại phòng tuyến thị xã Quảng Trị. Các đơn vị phòng thủ Quảng Trị đã chiến đấu trong tuyệt vọng và gần như phải tự bảo vệ cho chính mình. Vùng hoạt động của Sư đoàn 3 BB đã thu hẹp theo từng ngày đi qua. Trong thời gian này các cuộc tấn công của Cộng quân từ hướng Tây vào phía Nam Quảng Trị gần ranh giới tỉnh Thừa Thiên đã cắt Quốc lộ 1 từ hướng Nam và cản trở sự tiếp vận của các đơn vị VNCH trên đoạn đường dài 7 km. Trước tình thế đó, phản ứng đầu tiên của vị tư lệnh Quân đoàn 1 (trung tướng Lãm) là chỉ thị các đơn vị phụ trách Tiếp vận ráng đẩy các đoàn quân xa vận chuyển vượt qua các chốt cản của địch quân. Tiếp đó là vị tư lệnh Sư đoàn 3 BB (chuẩn tướng Giai) lập đi lập lại các quân lệnh để giải tỏa áp lực đối phương ở Quốc lộ 1 từ hướng Bắc. Để thực hiện quân lệnh này, tướng Giai buộc phải chuyển hướng hoạt động của một thiết đoàn đang giữ nhiệm vụ trọng yếu tại phòng tuyến đầu Quảng Trị để làm lực lượng dẫn đầu cho các cuộc hành quân ở hướng Nam. Cuối cùng tư lệnh Quân đoàn 1 đã điều động 1 tiểu đoàn TQLC (thống thuộc lữ đoàn 369) đang phòng thủ ở hướng Tây Bắc sông Mỹ Chánh để giải tỏa Quốc lộ 1 từ hướng Nam ra. Các cuộc di quân này đã chia bớt số nhiên liệu và đạn dược được coi là tối cần thiết cho sự bảo vệ Quảng Trị, thế nhưng vẫn không giải tỏa con đường huyết mạch đó.




Thời tiết trở nên xấu hơn vào ngày 27 tháng 4 và Cộng quân đã chiếm lấy cơ hội này để khởi động các cuộc tấn công. Các hoạt động trong ngày này đã báo hiệu rằng sự bắt đầu của đối phương trong việc đẩy mạnh các nỗ lực để cưỡng chiếm các phần đất còn lại của tỉnh Quảng Trị đang ở trong sự bảo vệ của lực lượng VNCH. Trong ngày này, dọc theo các tuyến phòng tuyến mới của Sư đoàn 3 BB và các đơn vị tăng phái về hướng Đông, Bắc và Tây, các đơn vị trú phòng đều báo cáo đụng địch hoặc bị pháo kích. Tất cả các đơn vị ở tuyến đầu đều bị pháo và giao tranh với bộ binh tùng thiết của CQ. Một số đơn vị bị địch quân lấn tuyến phòng ngự nhưng vẫn nỗ lực cố thủ. Vào cuối ngày 27 tháng 4/1972, nhiều thành phần của lữ đoàn 1 Kỵ binh bị đẩy ngược về phía Quốc lộ 1 trong đường kính từ hai đến ba km, cùng lúc đó, căn cứ Ái Tử đang hứng chịu các trận mưa pháo của CQ. Để đáp ứng các yêu cầu của lệnh Sư đoàn 3 BB báo động tình trạng khẩn cấp, Không quân chiến thuật và chiến lược (B 52) của Hoa Kỳ đã bất chấp các trở ngại về thời tiết tiến hành ngay các phi vụ oanh tạc để ngăn chận sức tấn quân của CQ vào Quảng Trị.

Trong ngày kế tiếp, 28 tháng 4/1972, nhiều chiến xa của CQ tiến đến gần cầu Quảng Trị bắc ngang sông Thạch Hãn, trong khu vực trách nhiệm của trung đoàn 2 BB. Một thiết đoàn Kỵ binh được điều động tăng cường cho trung đoàn 2 để chận địch và đã giữ được cầu nhưng sau đó đã phải rút lui về tuyến sau, các cánh quân của lữ đoàn 1 Kỵ binh được triệt thoái về trong vòng 1 cây số ở phía Bắc căn cứ Ái Tử. Trong khi đó, vị lữ đoàn trưởng bị thương nhẹ và đã được di tản ra khỏi trận địa.


Trong ngày 29 tháng 4/1972, tình hình Quảng Trị đã vô cùng nguy kịch, Cộng quân thay đổi các mũi tấn công để chuyển qua một nỗ lực mới. Trong khi đó, các cấp chỉ huy đơn vị VNCH lại lo lắng đến tình trạng tiếp liệu và đạn dược đang bị thiếu hụt. Vài khẩu đại bác đã bị phá hủy sau khi tất cả đạn dược còn lại đã được bắn đi. Nỗ lực giải tỏa Quốc lộ 1 tiến hành chậm vì thiếu sự phối hợp và nhất là thiếu cường lực phản công. Lực lượng trú phòng thị xã Quảng Trị được tái tiếp tế bằng trực thăng với nhiều rủi ro nguy hiểm trên đường bay, đặc biệt là đoạn dọc theo Quốc lộ 1.

* Kế hoạch mật của tướng Giai:
https://i1.wp.com/www.generalhieu.com/giai.jpg

Trước thực trạng nguy biến của tình hình chiến trường, ngày 30/4/1972, tướng Giai đã gọi các sĩ quan chỉ huy trực thuộc về họp tại bộ Tư lệnh Hành quân Sư đoàn 3 BB đặt trong Cổ Thành. Tại cuộc họp này, ông phổ biến kế hoạch triệt thoái về phía Nam sông Thạch Hãn để lập một phòng tuyến mới. Theo lời tướng Trưởng, trước đó, tướng Giai đã nghĩ đến việc di tản căn cứ Ái Tử nằm về phía Bắc sông Thạch Hãn và triệt thoái về phía Nam, những ngày cuối tháng 4/1972, tiếp liệu và đạn dược trong căn cứ còn lại rất ít. Tướng Giai tự mình soạn thảo kế hoạch triệt thoái, ông chỉ thảo luận với vị cố vấn trưởng, ông sợ rằng nếu các sĩ quan chỉ huy biết được kế hoạch này, họ sẽ vô tình phá hỏng sự thực hiện kế hoạch bằng các hành động hấp tấp. Ông cũng chưa vội báo cho trung tướng Lãm tư lệnh Quân đoàn. Điều giản dị là ông chỉ muốn tiến hành với tất cả thận trọng để hoàn tất kế hoạch.




Cuối cùng kế hoạch được tướng Giai phổ biến khi ông thấy tình hình đòi hỏi sự tái phối trí để giữ phòng tuyến Quảng Trị. Theo kế hoạch, lữ đoàn 147 TQLC triệt thoái khỏi căn cứ Ái Tử, các đơn vị khác sẽ bắt đầu triệt thoái vào buổi sáng hôm sau 1/5/1972. Khi nhận được kế hoạch triệt thoái của tướng Giai, trung tướng Lãm lặng thinh như là một sự đồng ý, dù rằng ông chưa bao giờ xác nhận sự chấp thuận của ông về kế hoạch này. Tướng Lãm cũng chưa đưa ra bất cứ một quân lệnh, chỉ thị nào cho tướng Giai. Nhưng đến sáng ngày 1/5/1972, tướng Lãm gọi cho tướng Giai và nói rằng ông không chấp thuận kế hoạch triệt thoái của tư lệnh Sư đoàn 3 BB, đồng thời ra lệnh cho tướng Giai phải buộc tất cả các đơn vị tiếp tục phòng thủ tại vị trí cũ và tử thủ bằng mọi giá. Sự hồi lệnh của tướng Lãm là sự lập lại các chỉ thị của Tổng thống Thiệu từ Sài Gòn ban ra cho tư lệnh Quân đoàn 1. Tướng Giai đã không còn đủ thời gian cần thiết để thu hồi các quân lệnh của chính mình và cùng lúc đó các quân lệnh mới được phổ biến cho các cấp chỉ huy thuộc quyền chỉ huy của tướng Giai. Một số đơn vị báo cáo là các đơn vị đã di chuyển đến đơn vị mới. Tướng Giai cố gắng thuyết phục các đơn vị trưởng tăng phái tuân theo các chỉ thị mới của Quân đoàn. Chỉ trong vòng 4 giờ, các sự chỉnh đốn vị trí để phòng thủ bảo vệ Quảng Trị đã hoàn toàn sụp đổ. Các đơn vị phòng thủ ở hướng Bắc chung quanh căn cứ Ái Tử ào ạt vượt sông Thạch Hãn để tiến về hướng Nam như một dòng thác đổ. Chỉ còn đơn vị có quân số đầy đủ và được cấp chỉ huy kiểm soát chặt chẽ là lữ đoàn 147 TQLC. Cuối cùng vị lữ đoàn trưởng đã ra lệnh cho các đơn vị rời Quảng Trị lúc 14 giờ 30, để lại sau lưng vị tư lệnh Sư đoàn 2 và bộ tham mưu của ông, tất cả đơn độc trong Cổ thành không có lực lượng phòng thủ. Khi biết được chuyện gì đã xảy ra, tướng Giai và các sĩ quan tham mưu đã trèo lên 3 chiếc thiết vận xa M 113 trong cố gắng đuổi kịp các đơn vị Sư đoàn 3 BB. Tuy nhiên cố gắng của tướng Giai đã thất bại vì Thiết vận xa chở ông đã bị cản đường ở phía trước. Quốc lộ 1 tràn ngập người chạy loạn và quân sĩ thất lạc đơn vị. Cuối cùng tướng Giai phải trở lại Cổ Thành và sau đó được trực thăng Hoa Kỳ bốc đi cùng với vài sĩ quan vào lúc 16 giờ 55 phút ngày 1 tháng 5/1972.


http://hoiquanphidung.com/showthread.php?22

Chúng ta cùng chửi Việt Cộng - TS.Nguyễn Ngọc Sẵng

Chúng ta cùng chửi Việt Cộng - TS. Nguyễn Ngọc Sẵng

Văn hóa Việt Nam đang bị xói mòn tột độ từ ngày người cộng sản chiếm Miền Bắc và kể từ tháng Tư năm 1975 khi họ dùng bạo lực xé bỏ hiệp định Ba Lê chiếm trọn cả đất nước.

Hành vi chà đạp văn hóa xuất hiện hàng ngày, hàng giờ trong xã hội. Hành vi kém văn hóa luôn xuất hiện trong sự ứng xử của cán bộ lãnh đạo cao cấp cộng sản.

Hà Nội được cả nước phong là “đất ngàn năm văn vật”, miền đất có nhiều văn nhân, thi sĩ, nghệ sĩ vang danh và là niềm tự hào của dân tộc về văn hóa, nhưng kể từ ngày bọn Việt cộng tràn vào thì Hà Nội lại là nơi đầu tiên có những món không ai dám dùng đó là loại “bún mắng, cháo chửi”. Một sản phẩm của bọn vô gia đình, vô văn hóa, vô tổ quốc Việt cộng. Một nổi đau cho những ai còn có lòng với quê hương, với văn hóa dân tộc.

Một số trí thức, những anh em dân chủ, nhóm xã hội dân sự, dân oan và đồng bào các tôn giáo đang trong giai đoạn xóa sổ bọn cộng sản cầm quyền. Họ bị đàn áp tàn bạo, bị triệt nguồn sống, nhưng họ vẫn hiên ngang tiến bước vì sự tồn vong của đất Việt, con người Việt Nam.
Họ rất dũng cảm, nhưng theo tôi nghĩ họ cần thêm một chiến thuật nữa là:
Công khai chửi thẳng vào mặt bọn cộng sản, chửi vào mặt cha mẹ, vợ con và những thân nhân Việt cộng, Việt gian để áp đảo tinh thần họ, làm nhục ý chí họ.
Dù biết rằng chửi không phải là hành động văn hóa, nhưng khi đối diện với bọn ngu ngốc, tàn bạo người dân không đủ sức để đương đầu, vì vậy cần phải có thêm chiến thuật hỗ trợ là chửi thẳng vào mặt bọn họ và gia đình họ, để làm nhục họ, để buộc họ phải chùng bước.

Hiện đã có những trí thức như Giáo sư Tương Lai, nguyên Viện Trưởng Viện Xã Hội Học Việt Nam, kiêm Tổng Biên Tập Tạp Chí Xã Hội Học khi ông trả lời nhà báo Mặc Lâm về lời phát biểu của tên Đinh Thế Huynh, Ủy Viên Bộ Chinh Trị, Thường Trực Ban Bí Thư Trung Ương Đảng, khi tên nầy đề nghị “phải xây dựng văn hóa khinh bỉ”. Giáo sư Tương Lai đã chửi thẳng vào mặt tên Ủy Viên Bộ Chính Trị nầy.
“Tôi cho câu đó là câu nói ngu xuẩn, bởi vì sao? Thực ra việc gì mà phải kêu gọi nền văn hóa khinh bỉ. Bản thân người ta đã khinh bỉ lắm rồi. Cái người phải móc tiền ra khi đi trên đường để dúi cho công an thì người ta đã coi cái đối tượng mà mình ném đồng tiền vào mặt hắn hay dúi vào tay hắn với một thái độ cung kính hay sợ sệt chăng nữa nhưng thằng nhận cũng như người ném ra đều biết rằng ‘khinh nhau như mẻ’.” (trích trong Sổ Tay Thường Dân của Tưởng Năng Tiến, Người Dân số 314).
Giáo sư Tương Lai chửi tên Ủy Viên Bộ Chinh Trị Đinh Thế Huynh là ngu xuẩn, thì làm gì nhau?
Cùng trong bài báo nầy có đoạn: “Từ nông thôn ông ấy bảo thằng xã nó ăn được thì tại sao tao không ăn được? Thằng huyện bảo thằng tỉnh nó ăn được tại sao tao không ăn được? Thằng tỉnh bảo Bộ chinh trị nó còn ăn, thằng Tổng bí thư nó còn ăn tại sao tao không ăn… cái đó nó trở thành nỗi nhục nhã, đó là một sự thật nhưng mà khinh bỉ tham nhũng không thì đấy là đánh chuột vuốt đuôi và là lời nói mị dân”.
Giáo sư Tương lai gọi Tổng Bí Thư đảng cộng sản là “thằng”. Đây là cái dũng của người trí thức, đây cũng là danh dự và sứ mạng của người trí thức trước hiện tình đất nước.

Chửi tuy không tốn nhiều công sức, nhưng hiệu quả không phải là nhỏ. Những dân tộc vùng đông nam Châu Á, nhất là Việt Nam, họ rất coi trọng sĩ diện. Trong văn hóa làng xã, người Việt Nam đặt sĩ diện lên hàng đầu, làm mất sĩ diện, nhất là nơi công cộng, sẽ là mối thù không nhỏ.

Thử nghĩ nếu một tên cán bộ cộng sản hà hiếp, áp bức dân chúng nơi đông người bị đồng bào xúm lại chửi mắng thậm tệ, chắc chắn là hắn chùng bước. Hắn /bọn hắn không thể hành hung nhiều người cùng một lúc.

Cha mẹ hắn biết con mình bị mọi người chửi mắng, chắc cũng bị xấu hổ lây.
Vợ con hắn biết chồng, cha mình bị bà con, làng nước chửi bới, chắc chắn họ bị nhục.
Những nổi nhục đó sẽ dồn nén vào tên xuẩn động, chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới hắn, và hắn sẽ chùng bước. Đó là bước khởi đầu cần thiết để hắn hồi đầu lại với dân tộc, bớt được sự hành hung mà hắn giáng lên đồng bào.

Một lợi thế nữa là những tên xuẩn động không dám hành hung người chửi bọn chúng nơi công cộng, vì chúng biết rằng những hành động côn đồ, khuôn mặt côn đồ sẽ hiện lên các trang mạng Facebook chỉ trong vòng vài phút. Trong vài phút cả nước, năm châu bốn bể sẽ thấy khuôn mặt côn đồ của thể chế côn đồ, và sẽ bị nhận loại nguyền rủa. Và họ biết rõ là khi cộng sản sụp đổ họ không còn chổ trốn vì hành vi đàn áp dã man của họ mọi người đều thấy.

Họ nghĩ gì, nêu một hôm con họ đi học về, nói rằng hình của ba bị đăng lên Facebook với không biết bao nhiêu lời nguyền rủa từ mọi người? con họ nghĩ gì về cha mình? Họ có được giấc ngủ yên?.

Chúng ta phải tận dụng những yếu tố chúng ta có để làm họ chùng bước. Từ chùng bước đền lùi bước là một khoảng cách gần và dễ thấy.

Khi họ bắt đầu lùi bước là người tranh đấu tiến bước và sự thành công đang trước mặt.
Họ cố tình hủy hoại văn hoá dân tộc để thay thế vào đó loại văn hoá cộng sản khuyến khích, dạy dỗ con tố cha, vợ tố chồng, con cháu đem cha mẹ ông bà ra đấu tố, loại văn hoá mà dưới lừa trên, trên gạt dưới. Làm ác càng nhiều, càng có nhiều cơ hội leo lên bức thang quyền lực trong hệ thống cầm quyền của cộng sản. Đạo đức cách mạng là vậy

Chúng ta muốn có văn hoá, tôn trọng một xã hội nhân văn, đầy tình tự dân tộc, nhưng hiện tại rất cần thiết có thêm một vũ khí mới để triệt tiêu bọn cộng sản, đó là mọi người cùng lên tiếng chửi bọn cộng sản, chửi dai dẳng, chửi cay đắng, chửi thậm tệ, chửi tàn mạt để họ thấy rằng xã hội không chấp nhận họ, xã hội nguyền rủa họ, xã hội khinh miệt họ và gia đình, tổ tiên họ, để họ sớm ăn năn, hối cải để đồng hành với dân tộc, xây dựng lại đất nước. Chỉ chửi cộng sản và chửi tới bao giờ không còn nó nữa.

Nếu đồng loạt chửi cộng sản thì những người thờ ơ thấy thêm được rằng bọn cộng sản là bọn phi nhân, phi nghĩa bị đồng bào chửi bới, nguyền rủa. Người thờ ơ sẽ thấy thêm ánh sáng, sức mạnh của chính nghĩa, họ mạnh dạn hơn, và có thể họ sẽ bắt đầu đồng hành, hoặc ít nhất là hổ trợ cho cuộc tranh đấu chung nầy.

Sau khi cộng sản sụp đổ mọi người chúng ta trở lại cuộc sống nhân bản, văn hóa của dân tộc để Việt Nam cùng sánh vai, ngưỡng cao mặt cùng thế giới, để Nhật Bản, Thái Lan, Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc, Mã Lai và các nước không còn dựng bản “coi chừng người Việt Nam ăn cắp”. Sản phẩm đó của cộng sản, chúng ta trả lại cho họ.

TS.Nguyễn Ngọc Sẵng

LÒNG NHÂN ĐẠO CỦA KẺ THUA CUỘC VÀ SỰ BẤT NGHĨA CỦA NGƯỜI THẮNG TRẬN

LÒNG NHÂN ĐẠO CỦA KẺ THUA CUỘC VÀ SỰ BẤT NGHĨA CỦA NGƯỜI THẮNG TRẬN *



Lòng nhân đạo của kẻ thua cuộc và sự bất nghĩa của người thắng trận 
Cuộc chiến đã chấm dứt hơn 41 năm rồi, nhưng di sản để lại của hai bên là gì. Ở đây tôi không nhìn về mặt cơ sở vật chất mà từ góc nhìn nhân văn. Cái tôi gọi là sự nhân văn của bên thua cuộc và sự bất nghĩa của bên chiến thắng. Đã đến lúc chúng ta nhìn lại bản thân và học hỏi sự nhân văn của người khác.

Lòng nhân đạo của kẻ thua cuộc 
Theo Đạo Luật Chiến tranh tại Hội nghị Geneva năm 1864 đã tuyên bố mọi cuộc chiến phải đề cao yếu tố nhân đạo quốc tế (IHL). Nếu một chuẩn tướng gây tổn thất lực lượng nhiều hơn mức cho phép, anh ta sẽ phải từ chức, thậm chí khép vào tội ác chiến tranh.
Đảng Dân Chủ đã bỏ rơi đồng minh VNCH, nhưng sự vĩ đại của nước Mỹ nằm ở chỗ xã hội dân sự vẫn phát triển mặc cho những quyết định sai lầm của giới chính trị. Nghĩa là dù đảng Dân Chủ nhẫn tâm với VNCH thì người Việt Nam vẫn được xem là một phần trách nhiệm của người Mỹ.

Ngày 7/4/1975 Tổng Thống Gerald Ford bước xuống phi trường với một em bé Việt Nam trên tay, đó là dấu hiệu cho sự sụp đổ được báo trước của VNCH và cũng để thông báo cho người dân Mỹ về một tương lai mới.

Mở đầu bằng chiến dịch Babylift — chiến dịch quy mô lớn được đặt tên theo cuộc di tản bắt đầu từ 3—26 tháng 4, 1975. Cùng với đó là chiến dịch New Life, hơn 110,000 người tị nạn đã được di tản khỏi Nam Việt Nam. Chiến dịch được thực hiện bằng 30 chuỗi chuyến bay do MAC (Cơ Quan Kiểm Soát Không Quân) thực hiện bằng hai phi cơ dân sự C—5A Galaxy và C—141 Starlifter. Nhiều trẻ em Việt Nam đã được nhận nuôi bởi nhiều gia đình trên khắp thế giới.

Các tổ chức xã hội bao gồm Holt International Children’s Services, Friends of Children of Viet Nam (FCVN), Friends For All Children (FFAC), Catholic Relief Service, International Social Services, International Orphans and the Pearl S. Buck Foundation đã tài trợ các cơ sở vật chất cho chính phủ. Những chuyến bay tiếp tục cho đến khi những đợt pháo kích của Bắc Việt và những đơn vị quân VC đã khiến những chuyến bay từ sân bay Tân Sơn Nhất bị đóng băng. Khi doanh nhân Robert Maccauley nhận được tin phải mất hơn một tuần nữa để di tản những đứa trẻ mồ côi vì những thiếu thốn về máy bay vận chuyển quân sự, ông ấy đã điều một máy bay Boeing 747 từ Pan Am và dự tính cho 300 trẻ em mồ côi rời khỏi đất nước, ông trả tiền cho chuyến bay bằng cách thế chấp ngôi nhà của mình.

Theo Adoption Today journal, có ít nhất 45,000 trẻ em đã được bay đến Mỹ và khoảng 1,300 trẻ được đưa đến Canada, Châu Âu và Úc.

Đến năm 1979 khi phong trào thuyền nhân của những người tị nạn CS gây xúc động đến Cao Ủy LHQ, thì Mỹ cũng là nước hào phóng nhất khi đồng ý tiếp nhận thêm một triệu công dân Việt Nam, từ các đảo tị nạn nổi tiếng của thuyền nhân Bidong, Malaysia hay Galang, Indonesia… Cùng với đó là sự trợ giúp y tế từ Pháp một đồng minh khác trên con tàu ánh sáng (Le De Lumière Port Villa).

Theo TS Charles Marmar, sau 40 năm cuộc chiến, hiện vẫn còn 11% cựu quân nhân bị ”hội chứng căng thẳng hậu chiến” (PTSD) dằn vặt và chưa cho thấy dấu hiệu phục hồi. Khi đến Washington bạn sẽ được đặt những đóa hoa lên bia đá tưởng niệm gần 59,000 các chiến sĩ hy sinh (Mỹ lẫn Việt) trong chiến tranh Việt Nam.

Sau này Mỹ cũng tiếp tục hỗ trợ nhà nước VNXHCN bằng nhiều hình thức nhân đạo nổi bật có công cuộc chống HIV/AIDS với $80 triệu viện trợ mỗi năm, năm 2004 Việt Nam thua kiện trước WHO vì những cáo buộc Mỹ sử dụng Dioxin gây dị dạng thai nhi Việt Nam, dù vậy Mỹ vẫn đồng ý cấp cho VN $4 triệu. Nhà KH Ngô Đức Anh đã làm việc tại Trung tâm sức khỏe khoa học Texas năm 2006, cùng các đồng sự đã tổng hợp tất cả những tài liệu trước đây về CĐDC nhằm tìm ra nguyên nhân, tuy nhiên 11 nguồn thông tin từ VN đều yếu phương pháp luận và không có giá trị trong việc nghiên cứu. Khi những điểm mấu chốt về mối quan hệ giữa việc phun chất diệt cỏ và dị dạng bẩm sinh sụp đổ, những liên kết mới trở nên có sức thuyết phục.

Đỉnh cao cho việc bình thường hóa quan hệ là chuyến thăm năm 3/2/1994 của TT Bill Clinton, và lệnh gỡ bỏ cấm vận kinh tế năm 1995 cho Việt Nam, giúp CPVN “xây dựng cái gọi là Kinh tế thị trường định hướng XHCN, bỏ qua bước Tư bản”?

Sự bất nghĩa của người thắng trận
Trong cuốn ”Cẩm Nang Về Chiến Tranh Việt Nam” người Mỹ đã nhận định Hà Nội không biết đến cái gì là giá trị cuộc sống. Việc Bắc Việt xé hiệp ước Paris bất và chấp tấn công Nam Việt Nam, đã sạch bóng quân Mỹ, chỉ còn lại chính những đồng bào và luôn cả hy sinh quân đội của họ càng chứng tỏ chiến thắng 30/4/1975 chỉ là thống nhất về mặt địa lý, chứ chưa phải trên cuộc chiến tư tưởng

Năm 1976 CP Mỹ chủ động hàn gắn mối quan hệ với điều kiện được cho phép (JAC) tìm kiếm xác nạn nhân của Mỹ còn mất tích trong chiến tranh, nhưng đã bị từ chối. Đến 1980 công việc tìm kiếm mới được phép tiến hành.

Năm 1979 CPVNXHCN lấy cớ đánh CS Khmer Đỏ sau đó đóng quân lại mười năm, bất chấp sự cảnh cáo của Mỹ và phải nhận lệnh cấm vận. Một quyết định táo bạo của TBT thân Liên Xô Lê Duẩn đã đẩy người dân vào cảnh lao đao khốn cùng, ăn bobo và cơm độn khoai sắn. Không khác lắm điều Vladimir Putin đang khiến nước Nga của ông phải chịu đựng vào thời điểm này.

Theo cuốn ”Bên Thắng Cuộc”của Huy Đức, 18/11/2000, Ông Phan Văn Khải nhớ lại: ”Ông Phiêu nói như thời chiến tranh làm cho họ rất khó chịu. Ông ấy muốn tỏ rõ thái độ của một chính quyền CS. Nhưng, ông Phiêu không hiểu tình hình thế giới giờ đây đã khác. Phe XHCN đã tan rã. Vấn đề là mối quan hệ giữa hai quốc gia, chúng ta cần Mỹ. Bill Clinton nhớ lại: Tôi chỉ Pete và nói, ông đại sứ không ngồi sáu năm rưỡi trong nhà tù ‘Hà Nội Hilton’ vì muốn thực dân hoá Việt Nam. Clinton nhận xét, dường như những người mà ông gặp ở Việt Nam, chức vụ càng cao hơn thì ngôn ngữ càng ”sặc mùi” CS theo kiểu cũ hơn.

Năm 2014 trong chương trình Giai điệu tự hào, PGS—TS Nguyễn Thị Minh Thái, kể về buổi họp báo của bà với những cựu quân nhân mắc ”hội chứng căng thẳng hậu chiến” (PTSD) với một thái độ hồ hỡi như thể họ xứng đáng bị như thế trong khi một phụ nữ như bà có thể đầy lòng trắc ẩn?

Ngoài mặt CPVNXHCN cổ vũ cho tinh thần hòa hợp dân tộc, nhưng bên trong, họ ngấm ngầm ngăn chặn nó. Điển hình vào ngày 19/6 ”Kỷ niệm ngày Quân Lực VNCH” mỗi năm, họ ngăn cản từng đoàn người đến viếng nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa thắp hương lên mộ phần chiến sĩ. Khi các anh chỉ còn là nắm mồ vẫn bị chế độ này giam cầm, quản chế đủ điều. Họ cũng là người Việt Nam cơ mà? Tại sao luôn giữ ngọn lửa hận thù như vậy?

Civil Right Defense xếp Việt Nam vào hạng 3 các nước có tự do ngôn luận tồi tệ nhất, Mỹ và Canada là những nước thường xuyên phải tiếp nhận tị nạn chính trị Việt Nam. Kể từ khi lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo, vấn đề nhân quyền được các tổ chức XHDS trong và ngoài nước quan tâm không vì thế mà tốt lên, ngược lại ngày càng tồi tệ. Bất chấp các giao ước nhân quyền CPVNXHCN đã cam kết trong các văn kiện Quốc Tế.
Các bạn như tôi cũng là những người hiểu rõ nhất về giáo dục lòng thù hận. Học sinh Việt Nam được dạy về tội ác Mỹ—Ngụy thay vì nền giáo dục có thể giữ tính trung lập và để lịch sử tự phán xét, không nhiều trong chúng ta thoát được ”tâm lí của kẻ chiến thắng”, hay ”anh dũng đánh đổ thực dân, đế quốc.”

Nhưng khi giới trẻ biết rõ Donald Trunp, bà Hillary Clinton hơn cả giới lãnh đạo trong nuớc, điều đó cho thấy yêu cầu về dân chủ từ trong lòng xã hội là có thật, đã đến lúc Việt Nam có cái nhìn khác hơn về nước Mỹ như Thủ Tướng Phan Văn Khải nói ở trên :”…tình hình thế giới giờ đây đã khác. Phe xã hội chủ nghĩa đã tan rã.”

Thursday, October 27, 2016

Chấn động: Thanh niên miền Bắc hiên ngang làm lễ kỷ niệm ngày Quốc Khánh Việt Nam Cộng Hòa.

Chấn động: Thanh niên miền Bắc hiên ngang làm lễ kỷ niệm ngày Quốc Khánh Việt Nam Cộng Hòa
Source: Sự Thật TV - Youtube Posted on: 2016-10-27
Tham chiếu bài viết: "Tôi Biết Ơn VNCH" của tác giả Nguyễn Ngọc Già

Di sản của nền Đệ Nhị Cộng Hòa.

Di sản của nền Đệ Nhị Cộng Hòa

Bù nhìn, tham nhũng, hèn nhát, thối nát, ngụy quân, ngụy quyền, độc tài, tàn ác, đánh thuê, phản dân, tư sản mại bản, phong kiến thân Mỹ



Cafe Luật Khoa
23-10-2016
Bù nhìn, tham nhũng, hèn nhát, thối nát, ngụy quân, ngụy quyền, độc tài, tàn ác, đánh thuê, phản dân, tư sản mại bản, phong kiến thân Mỹ, tay sai đế quốc,  bất hợp pháp, phi nhân tính, dối trá, xỏ lá, ba que,…
Chỉ là một số ít những ngôn từ vẫn hay được sử dụng để nói về chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, một chính quyền tồn tại 20 năm (1955-1975) tại miền Nam Việt Nam trước khi bị xóa sổ khi những binh đoàn quân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (hay còn gọi là Bắc Việt) tràn vào Sài Gòn mùa xuân năm 1975. Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa đánh dấu chấm hết cho một cuộc chiến đẫm máu mà kết cục của nó khiến cho “triệu người vui” và cũng làm cho “triệu người buồn”.
Có một câu ngạn ngữ Châu Phi nói “Chừng nào sư tử còn chưa biết viết, sử sách vẫn mãi ngợi ca những kẻ thợ săn“.
Phải chăng những cái nhìn phê phán cay độc, xem thường, và dè bỉu chính quyền Việt Nam Cộng Hòa vốn bấy lâu nay vẫn được tuyên truyền giảng dạy rộng rãi trong nước đã chỉ là những lời “ngợi ca những người thợ săn”?
Nhà sử học kỳ cựu người Mỹ Keith Weller Taylor, giáo sư sử học đại học Cornell, một trong những sử gia hàng đầu thế giới trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam, có lẽ đã có một mối hoài nghi gần giống như thế khi ông tiến hành làm cuốn sách “Những Tiếng Nói Từ nền Đệ Nhị Cộng Hòa Nam Việt Nam (1967-1975)” (Voices from the Second Republic of South Vietnam (1967–1975).
Trần Dạ Từ CD's LaunchNhà sử học Keith Weller Taylor (Ảnh: lrc.cornell.edu)
Cuốn sách không đầy 200 trang này tập hợp các bài viết từ 10 tác giả vốn là những công chức, quân nhân, và chính trị gia từng phục vụ cho nền Đệ Nhị Cộng Hòa của chính phủ Nam Việt Nam (kéo dài từ năm 1967 đến 1975).
Bằng cái nhìn của những người trong cuộc, những người đã trực tiếp góp mồ hôi công sức tham gia quản trị, bảo vệ, và xây dựng đất nước bằng kiến thức, khả năng, và bằng lòng yêu nước chân thành của chính họ (cho dù nhiều người sẽ tranh cãi rằng thứ họ yêu, Nam Việt Nam, chưa bao giờ là một đất nước hợp pháp thật sự), các tác giả trong cuốn sách này đã đóng góp được những tiếng nói chân thành và sát thực về thực trạng Nam Việt Nam trong giai đoạn đầy biến động của nền Đệ Nhị Cộng Hòa.
Những người đọc vốn đã quen với phiên bản lịch sử chính thống được tuyên truyền trong nước có lẽ sẽ ngạc nhiên khi biết rằng nền Đệ Nhị Cộng Hòa, bằng những cách không công bằng, đã luôn bị “gói chung một rọ” với nền Đệ Nhất Cộng Hòa (1955-1963) và giai đoạn giao thời giữa hai nền cộng hòa như thế nào. Và họ có lẽ cũng sẽ ngạc nhiên mà biết rằng khi khái niệm dân chủ còn là một thứ gì đó mơ hồ lẩn khuất trong làn khói chiến tranh, tại miền Nam, đã có một cuộc thử nghiệm xây dựng đất nước dân chủ vốn cuối cùng bị những dòng thác lũ của định mệnh nhấn chìm.
Câu chuyện thật của nền Đệ Nhị Cộng Hòa có vẻ không hẳn là câu chuyện của một chính quyền chuyên chế hủ bại.
Nó có vẻ là câu chuyện bi tráng của một thế hệ người Việt Nam đã cố gắng xây dựng một chính quyền quốc gia tại miền Nam Việt Nam độc lập, vững mạnh theo hướng dựa trên hiến pháp, công bằng, dân chủ, và thượng tôn pháp luật, giữa những điều kiện chiến tranh ngặt nghèo, thiếu thốn, khi mà một đồng minh lớn từ từ bỏ rơi họ một cách cay nghiệt.
Ai đó sẽ cười nhạt “trong lịch sử làm gì có chữ nếu”, nhưng có lẽ đã đến lúc tất cả chúng ta cùng tưởng tượng, rằng nếu loài sư tử biết viết…
oOo
Trích đoạn “Những Tiếng Nói Từ nền Đệ Nhị Cộng Hòa Nam Việt Nam (1967-1975)” 
Voices from the Second Republic of South Vietnam (1967–1975)
Chủ biên: Keith Weller Taylor (Nhà xuất bản đại học Cornell năm 2015)
“…Năm 1967, một hiến pháp mới được ban hành và thực thi, tạo ra nền Đệ Nhị Cộng Hòa (1967-1975). Dưới quyền tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, chính thể này ổn định tình hình chính trị, và càng lúc càng chịu trách nhiệm cho sự tồn tại của chính nó hơn khi quân đội Mỹ rút lui, và vào năm 1973 rút hẳn hoàn toàn.
Trong những năm này, các công dân bình thường, những nhà giáo dục, nhà báo, chính trị gia, doanh nhân, các nhà quản trị, luật sư, thẩm phán, lãnh đạo quân đội và các nhà ngoại giao cùng nhau nỗ lực xây dựng một chính phủ dựa trên hiến pháp (constitutional government) bằng việc tổ chức các cuộc bầu cử tương đối cởi mở cùng sự có mặt của một ngành hành pháp, một ngành lập pháp và một ngành tư pháp.
Vừa trỗi dậy từ một chính thể thực dân và từ những cuộc tranh đấu trong một quá trình phi thực dân hóa đầy náo động, không có sẵn truyền thống chủ nghĩa hiến pháp (constitutionalism) hay truyền thống dân chủ, và với một quốc gia láng giềng nung nấu ý định hủy diệt cuộc thử nghiệm chính trị của nó, lại thêm việc có một đồng minh đang trong thời kỳ muốn từ bỏ nỗ lực giúp đỡ của họ nhất, đất nước này tuy thế vẫn bền trí và đã giành được nhiều thành tựu.
Danh sách các thành tựu của nền Đệ Nhị Cộng Hòa đã luôn bị phớt lờ bởi gần như tất cả những ai đã từng viết về những năm cuối của cuộc chiến; danh sách đó là một nỗi xấu hổ cho người Mỹ bởi vì một trong những ý tưởng đã được phe theo quan điểm phản chiến truyền bá. Ý tưởng này cuối cùng đã thống trị hoàn toàn tư duy chính trị và học thuật Hoa Kỳ, nó cho rằng chính phủ tại Sài Gòn là một nền độc tài không thể cứu vãn được, không xứng đáng với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, hay là chính quyền đó thể nào cũng thất bại.
Ý tưởng này tạo ra một sự an ủi mang tính đạo đức cho người Mỹ vốn đã hoàn toàn có thể cảm thấy khổ sở với việc phải quay lưng với một đồng minh đang bị đe dọa trong thời khác họ cần giúp đỡ nhất; ý tưởng này phản ánh sự thất vọng của người Mỹ hơn là phản ánh những gì đang diễn ra lúc đó với người Việt.
Những tiếng nói trong cuốn sách này phản ánh những khát vọng và nỗ lực của những người đã từng cống hiến cho tương lai của nền Đệ Nhị Cộng Hòa.
Có ít nhất bốn thành tựu quan trọng đạt được trong thời Đệ Nhị Cộng Hòa.
Đầu tiên, từ quan điểm chiến trận, quân đội Việt Nam Cộng Hòa (Army of the Second Republic of Vietnam, viết tắt ARVN) gánh lấy tránh nhiệm chiến đấu. Cho dù cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 làm xoay chuyển ý kiến công luận Mỹ sang chống lại cuộc chiến, cuộc tấn công này đã có một ảnh hưởng rất khác đến Nam Việt Nam.
h1Tổn thất nặng nề của các lực lượng Cộng sản Tết Mậu Thân 1968 (Ảnh: pinterest.com/emmajchapman)
Những tổn thất của lực lượng Cộng sản giúp tạo điều kiện cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa giành lại quyền kiểm soát phần lớn các khu vực đồng quê và bắt đầu thực thi một số chính sách được dân chúng các miền nông thôn ủng hộ.
Thêm vào đó, bằng việc mang chiến tranh vào thành thị, lực lượng Cộng sản đã tập hợp quần chúng đô thị chống lại chính những người Cộng sản; một số lớn dân chúng đô thị đã nhận ra rằng họ có một thứ nào đó để chiến đấu vì nó: nền Đệ Nhị Cộng Hòa. Các lực lượng Hoa Kỳ càng rút lui bao nhiêu, các lực lượng Nam Việt Nam lại càng nhận thêm trách nhiệm bảo vệ đất nước của họ.
Vào hai năm 1970 và 1971, quân đội Việt Nam Cộng Hòa, thông qua phối hợp với quân đội Mỹ, hoặc được quân đội Mỹ trợ giúp hậu cần, đã tiến hành các chiến dịch xuyên biên giới lớn tại Campuchia và Lào trong nỗ lực làm suy giảm khả năng của quân đội Bắc Việt trong việc sử dụng các nước này làm bàn đạp cho các cuộc tấn công vào miền Nam.
Các chiến dịch này đã chịu nhiều tổn thất và gây ra tranh cãi, nhưng chúng giúp phát triển năng lực và kinh nghiệm của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, trong khi kiềm giữ được các lực lượng Bắc Việt. Trong Chiến Dịch Xuân – Hè 1972, khi gần như toàn bộ quân bộ binh Hoa Kỳ đã rời Việt Nam, quân đội Việt Nam Cộng Hòa, với trợ giúp hậu cần của Hoa Kỳ, đã đẩy lùi một cuộc xâm lăng đánh tận lực từ ba mặt của quân đội Bắc Việt. Tuy nhiên, ba năm sau đó, không có sự trợ giúp vật chất và tinh thần của phía đồng minh, nền Đệ Nhị Cộng Hòa đã bị áp đảo.
Thứ hai, sau chiến dịch Tết Mậu Thân, an ninh đã được tái phục hồi đầy đủ tại các miền thôn quê, tạo điều kiện cho một chương trình cải cách điền địa được tiến hành. Chương trình này cách mạng hóa kinh tế, xã hội và chính trị tại các khu vực đồng quê vùng sâu vùng xa nhất. Mặc dù phần lớn là bị các nhà quan sát ngoại quốc phớt lờ, chương trình này tạo điều kiện cho một mối quan hệ công bình hơn giữa miền thành thị và miền thôn quê, và cho một sự xây dựng tiềm năng nông nghiệp của đất nước vốn có thể làm nền tảng cho phát triển kinh tế trong tương lai.
Thêm vào đó, cuộc cải cách điền địa này được thực hiện một cách hòa bình và với sự giúp đỡ của quần chúng các miền thôn quê. Theo đó, nó cho thấy một hình ảnh tương phản với những cuộc cải cách ruộng đất đầy máu và nước mắt tại Trung Quốc và tại Bắc Việt Nam, tạo ra thêm một lý do rõ ràng cho sự tiếp diễn cuộc chiến.
Thứ ba, các thành quả lớn trong sản xuất và phân phối gạo, quản lý thị trường, thăm dò dầu khí, và chính sách thuế khóa đặt Nam Việt Nam vào vị trí sẵn sàng cho sự độc lập kinh tế sau cùng khi mà viện trợ Hoa Kỳ đang giảm dần.
Một thế hệ mới của các nhà quản trị, nhiều người trong số họ được đào tạo tại các trường đại học Mỹ và có các nguyện vọng ái quốc mạnh mẽ, mang lại những thái độ mang tính cải cách, thực tế, và hành động vào trong một nền hành chính quan liêu được thừa hưởng từ quá khứ thực dân. Đối mặt với những vấn đề khó khăn, cả tới mức tuyệt vọng, của đất nước, sự quản trị nền Đệ Nhị Cộng Hòa cho thấy một khả năng tiến hành các sáng kiến táo bạo, mặc cho việc các nguồn lực dần cạn kiệt đi khi mà đồng minh Hoa Kỳ khuất xa dần.
Thứ tư, đã có những bước tiến dài được thực hiện trong việc xây dựng một hệ thống chính quyền dựa trên hiến pháp với các cuộc bầu cử đa đảng phái cho một hệ thống lập pháp lưỡng viện (bicameral) và với một ngành tư pháp tương đối độc lập vốn đã giúp tăng cường các cơ chế pháp lý bảo vệ quyền cá nhân và các chuẩn mực dân chủ trong chính trị.
h1Bầu cử ở Sài Gòn năm 1967 (Ảnh: virtual-saigon.net/)
Các nhà phê bình người Mỹ thường đánh giá các tiến triển hiến pháp của người Việt Nam bằng cách so sánh với những gì họ cho là thành tựu của chính hệ thống chính phủ Mỹ của họ, vốn đã có tuổi đời đến hơn hai thế kỷ. Nhưng nếu so sánh với quá khứ ngay trước đó của đô hộ thực dân và chiến tranh, nền Đệ Nhị Cộng Hòa cho thấy nhiều điểm cấp tiến.
Các thành tựu này không có nghĩa là nền Đệ Nhị Cộng Hòa không có khiếm khuyết. Nhiều quốc gia hậu thuộc địa, bao gồm cả hai quốc gia Việt Nam, đã luôn phụ thuộc một cách thái quá vào các nguồn lực do các cường quốc lớn cung cấp.
Tương phản với trường hợp Bắc Việt Nam, khiếm khuyết lớn nhất của nền Đệ Nhị Cộng Hòa là sự phụ thuộc của nó vào một đồng minh không đáng tin cậy. Các lãnh đạo của nền Đệ Nhị Cộng Hòa đã có khuynh hướng xem đồng minh Mỹ là luôn sẵn có và những nhà lãnh đạo này đã không tìm ra cách để, hoặc là gìn giữ mối quan hệ với đồng minh này hoặc là thay thế nó khi chính sách của Mỹ đã xoay chiều.
Nền Đệ Nhị Cộng Hòa đã thất thủ trong một cuộc cạnh tranh tuyên truyền giữa người Mỹ với nhau. Trong cuộc cạnh tranh đó, chính thể này chịu tổn thất do nó bị gộp chung vào với những lỗi lầm của nền Đệ Nhất Cộng Hòa (1955-1963 – ND) và của giai đoạn Đứt Quãng (Interregnum period, 1963-1967 – ND).
Dĩ nhiên, như có thể được làm với bất kỳ quốc gia nào, và đặc biệt với một quốc gia non trẻ đang khốn khó với những kẻ thù ghê gớm, một con mắt phê phán luôn tìm ra thiếu sót. Nhưng những người Mỹ có cái nhìn phê phán, trong sự ngạo mạn bá quyền của họ, đã đi xa hơn thế và thách thức cả tính chính đáng (legitimacy) của nền Đệ Nhị Cộng Hòa trong vai trò một quốc gia độc lập (sovereign state).
Thêm nữa, hiệp định hòa bình mà chính phủ Hoa Kỳ đã thương lượng với Bắc Việt phản ánh thái độ ngạo mạn này bằng cách làm tổn thương hiến pháp và chủ quyền quốc gia của nền Đệ Nhị Cộng Hòa.
Giống như cách mà Pháp đã được xem là thương lượng thay mặt cho (và đồng thời làm phương hại đến) những người Việt Nam theo chủ nghĩa quốc gia trong Hiệp định Geneva 1954, Hoa Kỳ cũng đã làm vậy trong Hiệp định Paris 1973.
Ngô Đình Diệm đã xem Hiệp định Geneva là một thứ mà trong đó người Pháp qua mặt ông ta để thương lượng với kẻ thù của chính ông ta. Và Nguyễn Văn Thiệu cũng xem Hiệp định Paris là một thứ mà trong đó người Mỹ qua mặt Thiệu để thương lượng với kẻ thù của ông. Cả hai bản hiệp định này đều chứa những điều khoản hoặc là có khả năng hoặc là trong thực tế đã làm cản trở những người Việt Nam theo chủ nghĩa quốc gia.
Một lý do làm cho Hiệp định Geneva gây tranh cãi chính là Pháp đã tôn trọng triệt để một thỏa thuận quốc tế vốn có vẻ là thừa nhận yêu sách đòi quyền đại diện một quốc gia tự chủ của những người Cộng sản Việt Nam. Trong khi đó, Pháp lại bỏ bê việc thông qua một hiệp ước trao trả độc lập mà họ đã thương lượng với những người thuộc phe quốc gia do Bảo Đại làm đại diện.
Sự tự phụ này của người Pháp trong việc giữ lại chủ quyền tại Sài Gòn là nền tảng ban đầu cho các thiết kế của người Pháp nhằm để nắm giữ quyền điều hành chính quyền tại Sài Gòn cho đến khi có các cuộc “bầu cử” thống nhất, vốn được mong đợi là sẽ được tổ chức hai năm sau đó, như nêu trong nội dung Hiệp định Geneva.
h1Lịch sử có công tâm với Ngô Đình Diệm trong vai trò một nhà ái quốc? (Ảnh: biografiasyvidas.com)
Ngô Đình Diệm từ chối các thiết kế này. Ông cho rằng nó là sự nối tiếp của việc nền thực dân Pháp nắm quyền quyết định về tương lai của người Việt. Cuộc bầu cử tháng 10 năm 1955 mà Ngô Đình Diệm tổ chức để truất phế Bảo Đại và qua đó mở đường cho sự công bố nền Đệ Nhất Cộng Hòa, trong thực tế, chính là một hành động tuyên ngôn giành độc lập từ người Pháp của những người Việt Nam theo chủ nghĩa quốc gia. Việc này lúc đó khả dĩ bởi vì những người Việt quốc gia đã tìm được một đồng minh là Hoa Kỳ. Tuy nhiên, khi cuối cùng người Mỹ đạt được thỏa thuận với những người Cộng sản tạo điều kiện cho việc Hoa Kỳ từ bỏ các vấn đề Việt Nam, những người Việt quốc gia trở thành tứ cố vô thân.
Có lẽ là không có cách nào để có thể vượt qua chính cái khiếm khuyết chủ yếu này của việc không có một đồng minh đáng tin cậy trong khi những đồng minh của kẻ thù thì duy trì gắn bó cho đến cuối. Và có lẽ là không có cách nào để có thể vượt qua rào cản của việc bị liên kết, trong tâm trí của người Mỹ, với những thất bại cùa nền Đệ Nhất Cộng Hòa và của giai đoạn Đứt Quãng.
Nhưng có thể tranh luận, như một số các tác giả trong cuốn sách này sẽ làm, rằng nền Đệ Nhị Cộng Hòa đã hoàn toàn có thể nâng cao sự hiệu quả trong việc xoay xở với đồng minh Hoa Kỳ, bằng cách tham gia tích cực hơn vào không gian công luận Mỹ nhằm kéo dài và tối ứu hóa các cam kết của Hoa Kỳ vào sự tồn tại của Nam Việt Nam, bất kể sự gian khó khi mà người Mỹ đang bị hút vào những xung đột nội địa của chính họ…”
h1Bìa sách “Những Tiếng Nói Từ nền Đệ Nhị Cộng Hòa Nam Việt Nam (1967-1975)” (Ảnh: amazon.com)
Tìm đọc thêm:

Tuesday, October 25, 2016

Nguyễn Thị Từ Huy - Bộ phận nào trong xã hội có thể đẩy nhanh quá trình dân chủ hóa ?(IV)

Nguyễn Thị Từ Huy - Bộ phận nào trong xã hội có thể đẩy nhanh quá trình dân chủ hóa ?(IV)

Đầu năm 2016, ngay trước đại hội XII của đảng cộng sản Việt Nam, tôi có viết một loạt bài đặt vấn đề về khả năng cải cách hệ thống chính trị ở Việt Nam.


Kết quả hình ảnh cho Bộ phận nào trong xã hội có thể đẩy nhanh quá trình dân chủ hóa ?


Đầu năm 2016, ngay trước đại hội XII của đảng cộng sản Việt Nam, tôi có viết một loạt bài đặt vấn đề về khả năng cải cách hệ thống chính trị ở Việt Nam. Lúc đó, phải thừa nhận rằng tôi có đôi chút hy vọng khi diễn giải kết quả của đại hội như là sự thắng thế của những lãnh đạo muốn giữ một sự độc lập nhất định với Trung Quốc và muốn chống tham nhũng, mà dẫn đầu là ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư tái cử. Nhưng gần một năm đã trôi qua, trong khoảng thời gian đó bao nhiêu thảm hoạ môi trường, thảm hoạ xã hội, đã xảy ra, mà không một dấu hiệu nào cho thấy hệ thống lãnh đạo có mong muốn và có đủ khả năng cải cách. Trái lại, người ta chỉ thấy sự gia tăng bắt bớ và đàn áp nhân quyền, đàn áp báo chí, và gần đây nhất, mới ngày hôm qua, chính quyền còn đàn áp cả những người dân khốn khổ, những người dân đã bị dồn vào chỗ không còn phương tiện sống.

Đến lúc này đã có thể nói rằng, vì không có năng lực cải cách, hệ thống chính trị Việt Nam (vốn đã là nguyên nhân của mọi sự suy thoái trong xã hội và là nguyên nhân của sự kìm hãm phát triển, kìm hãm mọi phương diện) đã bước vào giai đoạn trầm kha với với vô số khối u đã đến hồi di căn vô phương cứu chữa. Nhìn đâu trong xã hội cũng thấy vấn đề : giao thông ư ? y tế ư ? môi trường ư ? kinh tế ư ? khoa học ư ? sản xuất ư ? giáo dục ư ? Có lĩnh vực nào là không có lời oán thán vang lên dậy đất ? Biển chết, đồng bằng khô cạn, trong khi thành phố lại ngập lụt, bão lũ tàn phá, nhà máy thuỷ điện xả lũ khiến dân phải chết, cá không chỉ chết vì nhà máy thép xả chất độc xuống biển miền trung, hàng tấn cá còn chết trắng cả thủ đô, và nhiều nơi khác trên đất nước. Cá chết vì độc tố, và người chết vì ung thư do hàng ngày đưa chất độc vào người thông qua thực phẩm.

Một hệ thống chính trị bất lực và thất bại. Uy tín của đảng cầm quyền đã sa sút tận đáy. Chỉ cần phân tích một ví dụ, trong vô vàn ví dụ, để làm dẫn chứng cho sự bất lực của hệ thống: ví dụ về việc chống tham nhũng.

Thất bại trong việc chống tham nhũng không chỉ biểu hiện ở chỗ một tội phạm tham nhũng như Trịnh Xuân Thanh có thể trốn thoát một cách dễ dàng. Mà giả sử có bắt được Trịnh Xuân Thanh thì việc chống tham nhũng cũng vẫn sẽ thất bại như thường. Bởi vụ xử Trịnh Xuân Thanh, nếu có thể xảy ra, chỉ thành công khi chính quyền dám đưa ra toà tất cả những yếu tố liên quan, từ người lái xe cho ông Thanh, chủ sở hữu của cái xe hơi đắt tiền do ông Thanh sử dụng, đến người bố có cái công ty đã đứng tên căn biệt thự xa hoa do ông Thanh sử dụng, đến cấp trên của ông Thanh là ông Đinh La Thăng, đối tượng trong nhiều bài viết trên blog của nhà báo Huy Đức trong đó ông Huy Đức đã vạch ra cụ thể những gì ông Thăng đã làm. Và ông Đinh La Thăng là uỷ viên Bộ chính trị, cơ quan quyền lực cao nhất nước, nơi quyết định mọi vấn đề của quốc gia. Loạt bài của nhà báo Huy Đức đã chạm trực tiếp đến uy tín của Bộ chính trị. Để xử vụ Trịnh Xuân Thanh còn phải đụng đến tất cả các nhân vật quan trọng tại những nơi ông Thanh từng làm việc, không chỉ Dầu khí, Bộ Công thương, Tỉnh uỷ tỉnh Hậu giang, mà còn phải đụng đến cả các nhân vật đã ký duyệt thuyên chuyển công tác cho ông Thanh, sau tất cả những sai phạm mà ông đã thực hiện, đó là Ban tổ chức Trung ương. Nếu luật pháp không xử được tất cả các đối tượng liên quan, thì Trịnh Xuân Thanh có quyền nói rằng ông ta bị oan, bởi ông ta không tham nhũng một mình. Còn người dân thì không nhìn vụ việc như là một vụ chống tham nhũng, mà như là một vụ thanh trừng phe cánh trong đảng. Vì thế, nếu không xử được đến tận mắt xích cuối cùng có liên quan đến vụ việc thì không thể coi đó là một thành công, dù có bắt và xử Trịnh Xuân Thanh. Vậy, ông Đinh La Thăng có bị đưa ra xử không ? Ban tổ chức Trung ương có bị đưa ra xử không ? Nếu ông Thăng bị xử và khai ra những người khác, cao hơn ông ta, thì những người đó có bị xử không ?

Tham nhũng là con đẻ của hệ thống chính trị độc tài độc đảng, trong đó luật pháp chỉ là công cụ của đảng cầm quyền. Và một khi pháp luật chỉ là công cụ cho một đảng phái thì nó đánh mất vai trò, đánh mất giá trị, và đánh mất hiệu lực của nó. Tham nhũng chỉ có thể bị hạn chế hoặc được giải quyết khi có một nền luật pháp công minh. Một nền luật pháp công minh lại không thể tồn tại trong chế độ độc tài độc đảng. Toàn bộ sự luẩn quẩn này cho thấy rằng hệ thống chính trị độc đảng hiện tại của Việt Nam là nguyên nhân đẻ ra tham nhũng và tự nó, bản thân hệ thống, không thể giải quyết vấn đề tham nhũng. Bằng chứng là đã xử Vinashin, Vinalines, nhưng, mượn cách nói của Huy Đức, các nhân vật như Trịnh Xuân Thanh và đồng chí của ông ta lại cho ra đời những Vinashin, Vinalines khác, trong khi mà các nhân vật hưởng lợi lớn nhất từ các vụ tham nhũng thì lại không thể đụng tới. Càng chống tham nhũng, càng thất bại, tham nhũng càng phát triển và mang những bộ mặt mới, những hình thái mới.

So sánh một chút để thấy rằng, nếu Thủ tướng Manuel Valls của Pháp mà ký quyết định thần tốc một cách mờ ám cho phép một công ty huỷ hoại môi trường cỡ Formosa hoạt động thì ông ta đã phải bị toà án sờ gáy từ lâu. Nicolas Sarkozy, sau khi rời khỏi ghế tổng thống liền bị gọi ra toà nhiều bận, dù rằng cho đến lúc này toà vẫn chưa có bằng chứng cho các nghi ngờ về sai phạm tiền bạc của ông ta, và vì thế ông ta vẫn ra tái tranh cử tổng thống. Nhưng giả sử các bằng chứng được thu thập thì ông ta nhất định vẫn sẽ phải hầu toà.

Đó là sự khác biệt căn bản giữa một nhà nước pháp quyền như Cộng hoà Pháp và một nhà nước đảng quyền như Việt Nam. Toà án Việt Nam bất lực, không thể sờ gáy các lãnh đạo cao cấp, vì họ được đảng độc quyền bảo trợ.

Tham nhũng sẽ tiếp tục là căn bệnh ung thư huỷ hoại dân tộc chừng nào quyền lực tuyệt đối còn nằm trong tay một đảng chính trị duy nhất, chừng nào còn chưa có tam quyền phân lập. Chừng nào mà cả ba nhánh quyền lực còn bị chi phối bởi sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng thì chừng đó mọi thứ vẫn còn tiếp tục suy thoái, tha hoá, và như những gì mà cựu Phó ban Tuyên giáo Trung ương Vũ Ngọc Hoàng đã nhìn thấy : nếu quyền lực tuyệt đối của đảng không bị kiểm soát thì đảng tất yếu sẽ suy thoái hơn nữa, và sự suy thoái của đảng sẽ dẫn tới sự sụp đổ chế độ.

Nói những điều trên để dẫn tới nhận định rằng thất bại trong việc quản lý, điều hành và giải quyết các vấn đề đất nước là điều không thể tránh khỏi khi mà Việt Nam vẫn duy trì mô hình chính trị độc tài độc đảng hiện tại. Đây là một tình thế đau xót mà chúng ta phải hình dung, bởi vì đó có thể là thực tế chờ đợi chúng ta : trước khi chế độ sụp đổ thì môi trường có thể đã bị huỷ hoại hết, dân có thể đã mất hết đường sống ; nghĩa là dân tộc có thể phải chịu nhiều hậu quả quá nặng nề trước khi chế độ sụp đổ.

Người Việt Nam, muốn tự cứu mình, không thể ngồi chờ chế độ sụp đổ.

Thất bại không thể tránh khỏi của chính quyền đương nhiệm, của đảng cầm quyền đương nhiệm, đòi hỏi ở Việt Nam phải hình thành những đảng phái chính trị khác, những đảng chính trị có khả năng giải quyết các vấn đề của quốc gia, có khả năng cứu nước, cứu môi trường, cứu dân tộc khỏi thảm hoạ diệt vong. Đòi hỏi này giờ đây đã là một đòi hỏi cấp bách, trước tình thế tuyệt vọng mà cả nước đang lâm vào hiện nay.

Nguyễn Thị Từ Huy
Paris, 19/10/2016

(Blog RFA)