Tuesday, May 9, 2017


30-4 Nhìn Lại: Trách Nhiệm Về Ai?

09/05/2017
30-4 Nhìn Lại: Trách Nhiệm Về Ai?

Chẳng những đảng DC ép chính quyền Nixon/Ford phải tháo chạy mà còn..

Nhân dịp 42 năm ngày đau buồn của đất nước, ta thử xem lại một góc cạnh của chuyện cũ.

Trong lịch sử nhân loại, có lẽ chưa có cuộc chiến nào gây tranh cãi như cuộc chiến VN, từ nguyên nhân, đến diễn tiến, hậu quả,... Đọc cả trăm cuốn sách thì sẽ thấy cả trăm luận cứ, chẳng ai đồng ý với ai. Mà tranh cãi mạnh nhất dĩ nhiên là vấn đề trách nhiệm. Ai chịu trách nhiệm khơi mào, ai chịu trách nhiệm chấm dứt chiến tranh?

Ở đây, ta chỉ nói từ phiá “ta”, tức là từ phiá VNCH và đồng minh thôi. Chứ dưới góc nhìn của CSVN thì mọi chuyện rõ như ban ngày: tất cả là lỗi “đế quốc Mỹ và đám tay sai ngụy quyền”, nói chuyện với đầu gối có ý nghiã hơn.

Nói về khơi mào chiến tranh thì có vẻ quá bao quát. Ta đang nói về chiến tranh nào? Nhìn gần thì cuộc chiến bắt đầu tháng Chạp năm 1960 khi CSBV đẻ ra cái quái thai Mặt Trận Giải Phóng để thôn tính Miền Nam. Nhìn xa hơn một chút thì cuộc chiến bắt đầu tháng Chạp năm 1946 khi Pháp đánh Việt Minh (VM) tại Hải Phòng đưa đến cuộc chiến dành độc lập của VM. Hội nghị Geneve và vĩ tuyến 17 chỉ là cuộc hưu chiến ngắn. Nhìn xa hơn nữa thì phải nói cuộc chiến bắt đầu thời Phan Thanh Giản khi Pháp khởi quân chiếm VN, nẩy sinh ra các phong trào kháng chiến chống Pháp bằng vũ lực, liên tục cho đến thời Đề Thám, Phan Đình Phùng,... rồi các phong trào Việt Quốc, Việt Cách và Việt Minh.

Thực tế lịch sử là cả ba khởi điểm trên đều khó tách riêng ra được. Nếu Pháp không xâm chiếm VN thì đã không có các cuộc kháng chiến, có thể đã không có phong trào VM, đã không có chia đôi đất nước, đã không có cuộc chiến 60, và đã không có ngày 30-4.

Điều đáng suy gẫm là cho dù Pháp không đô hộ VN thì cũng chưa chắc là đã không có hiện tượng CSVN, và đã không có cuộc chiến quốc-cộng. Phong trào quốc tế CS với chủ trương sơn đỏ cả thế giới, chắc chắn đã không bỏ qua nước VN ta. Và nếu chúng đến VN, ai biết được phản ứng của dân VN đã như thế nào? Có sẵn sàng chấp nhận chế độ CS không hay cũng đã có một cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa phe CS và phe không chấp nhận CS?

Bàn đến đây thì ta lại thấy lộ ra một vấn đề khác: cuộc chiến dai dẳng hiển nhiên là khởi đi từ tinh thần ái quốc dành độc lập, đã biến thể thành cuộc chiến ý thức hệ quốc-cộng. Như vậy thì biến thể từ lúc nào?

Hồ bắt đầu ra tay bắt cóc và thủ tiêu các lãnh tụ Việt Quốc và Việt Cách cuối 1945, chỉ vài tháng sau khi chính phủ liên hiệp được thành lập. Nhưng khi đó hệ thống thông tin còn cực kỳ thô sơ, không có TV, báo chí, internet như ngày nay, trong khi VM ém nhẹm nên tuyệt đại đa số dân ta không hay biết gì về việc VM tráo trở. Cái gian ý của Hồ là dụ dỗ Chu Bá Phượng ở lại nội các để thiên hạ tưởng VNQDĐ vẫn hợp tác với VM. Do đó, khi Pháp đánh VM và VM hô hào tiêu thổ kháng chiến thì cả nước hưởng ứng ngay.

Do đó, ta có thể nói cuộc chiến năm 46 khởi đi như là cuộc chiến dành độc lập, có khá nhiều người không CS tham gia để đánh Pháp. Cuộc chiến này chuyển hướng hẳn qua cuộc chiến quốc-cộng từ những năm 49-50, sau khi Mao chiếm được cả lục địa Trung Hoa, tràn qua VN, một mặt giúp Hồ đánh Pháp, mặt khác cũng giúp Hồ tung ra nhiều chính sách (cải cách ruộng đất, thuế má,...) nhằm cộng sản hoá những vùng do VM chiếm giữ khiến rất nhiều người không CS bỏ chiến khu, “về thành”, trong khi Pháp bắt đầu trả độc lập cho VN và tướng De Lattre thành lập quân đội quốc gia VN, từng bước trao quyền cho sĩ quan VN.

Một cách tóm gọn, có thể nói trách nhiệm xa gây ra cuộc chiến tại VN chính là thực dân Pháp, trong khi trách nhiệm gần hơn là cộng sản quốc tế. Cả hai thế lực đều mang mộng thôn tính nước ta và gặp phải sự chống đối của dân ta, đưa đến chiến tranh triền miên trên đất nước ta.

Có một cách khác để bàn về trách nhiệm: đó là nhìn lại những cơ hội tránh chiến tranh.

VN đã có một cơ hội rất lớn có được độc lập và vẹn toàn lãnh thổ trong hòa bình ngay sau Thế Chiến II, khi TT Roosevelt đòi hỏi các cường quốc Âu Châu trao trả độc lập cho các thuộc địa.

Ý kiến trên đáng tiếc thay đã không thành hình sau khi TT Roosevelt qua đời và khi tướng De Gaulle ngoan cố không chấp nhận nhả Đông Dương, ép TT Truman phải giúp Pháp trở lại Đông Dương, như cái giá phải trả để Pháp tham gia vào khối liên minh Mỹ-Tây Âu (NATO) chống sự bành trướng của CS Liên Xô tại Âu Châu. TT Truman đánh giá đồng minh với Âu Châu để cản CS Liên Xô quan trọng hơn độc lập của các thuộc địa. Mỹ quyết định giúp Pháp trở lại Đông Dương. Làm mất đi một cơ hội lớn để VN được độc lập và tránh chiến tranh.

Dĩ nhiên nếu trường hợp đó xẩy ra thì khi đó, 1945-46, cũng là lúc VM với Hồ Chí Minh đang nắm quyền, và cả nước VN đã được “độc lập” dưới chế độ CS rồi, cho dù dưới danh nghiã chính phủ liên hiệp với sự hiện diện của Việt Cách, Việt Quốc, và vài nhân vật độc lập không đảng phái trong nội các. Câu hỏi là trong trường hợp đó, Hồ có cộng sản hoá VN không, có còn chấp nhận chính phủ liên hiệp không, và người quốc gia có tiếp tục chấp nhận Hồ không? Hay là sẽ có ngay nội chiến quốc-cộng? Nhìn vào việc Hồ thanh toán chính phủ liên hiệp cuối năm 45 thì câu trả lời quá rõ.

Dù sao thì trách nhiệm của tướng De Gaulle cũng thật lớn khi ông nhất quyết không chịu nhả Đông Dương khi đó.

Một cơ hội tránh chiến tranh, bảo toàn lãnh thổ, và đạt được độc lập nữa là trận chiến Điện Biên Phủ. Khi đó VM đánh ván bài xả láng, tung gần hết lực lượng ra để hạ Pháp ngay khi Hội Nghị Geneve đang diễn tiến để tìm giải pháp cho Đông Dương, với sự giúp đỡ mạnh của Mao. Khi VM đe dọa Điện Biên Phủ, Pháp đã yêu cầu Mỹ giúp, trải thảm bom tiêu diệt lực lượng CS khi đó đang tập trung quanh thung lũng Điện Biên, nhưng TT Eisenhower từ chối can dự nếu không có vài “đồng minh” tham gia cùng, chủ yếu là Anh Quốc. Nhưng Anh là bạn thực dân của Pháp, sợ Mỹ nhẩy vào sẽ diệt cả CS lẫn Pháp và tóm thâu VN vào ảnh hưởng của Mỹ, và vẫn bực mình vì bị Mỹ ép làm mất các thuộc điạ lớn như Ấn Độ, Miến Điện, và vài nước Phi Châu, không chịu can thiệp cùng với Mỹ.

Việc Mỹ-Anh không can thiệp đưa đến chiến thắng cho VM tại Điện Biên Phủ rồi tại Geneve luôn, tặng cho CSVN cái tiếng chính danh đuổi được thực dân Pháp, ít nhất trên một nửa nước và củng cố sức mạnh của CSVN cho đến khi họ trở thành đối thủ tay đôi của Mỹ ít năm sau.

Nếu như Mỹ nhẩy vào cuộc khi đó, biết đâu CSVN đã bị tiêu diệt ngay tại Điện Biên Phủ và giải pháp Bảo Đại với Quốc Gia VN đã trường tồn? Tức là VN đã được độc lập mà không có cuộc chiến quốc-cộng luôn.

Trách nhiệm này phải nói là của chính TT Eisenhower, một ông tướng giỏi về quân sự, nhưng không có viễn kiến chính trị [trong Thế Chiến II, đã từng dừng quân sau khi vượt biên giới Pháp-Đức, nhường cho Liên Xô chiếm Ba Lan, Tiệp, Đông Đức và Bá Linh, đưa đến tình trạng CS hóa một nửa Âu Châu sau đó].

Bây giờ ta nhìn qua giai đoạn cuối của cuộc chiến, ai chịu trách nhiệm để VNCH lọt vào tay CSBV?

Cho đến nay, ngay cả trong khối người Việt tỵ nạn, đã có không ít người vẫn mạnh miệng tố cáo TT Nixon cùng với Ngoại Trưởng Kissinger, thông đồng bán đứng Nam VN cho Trung Cộng, để tập trung nỗ lực cứu Do Thái.

Lập luận này chỉ là cái lý chạy tội của đảng Dân Chủ Mỹ, không hơn không kém, mà nhiều người vô tình hay cố tình đã chấp nhận và lập lại.

Hiển nhiên là đảng DC lúc đầu rất hăng say trong lý tưởng bảo vệ tự do, dân chủ, nhân quyền, thích can thiệp vào chuyện thiên hạ, làm người hùng cứu nhân độ thế. TT Kennedy trong diễn văn nhậm chức để đời đã nói rất hùng hồn là nước Mỹ “sẽ trả bất cứ giá nào, chịu bất cứ gánh nặng nào, nhận bất cứ khó khăn nào, để hỗ trợ tất cả các nước bạn, chống lại tất cả kẻ thù, để bảo đảm sự sinh tồn và thành công của tự do”. Nổ lớn hơn kho đạn Biên Hòa.

TT Johnson đã tiếp nối con đường đó sau khi TT Kennedy bị ám sát. Cho đến tháng Tám 1964, TT Johnson vẫn còn được hậu thuẫn rất mạnh khi nghị quyết Vịnh Bắc Việt, Tonkin Gulf Resolution, gần như khoán trắng cho TT Johnson đánh Bắc Việt, đã được biểu quyết với tỷ lệ phiếu 416-0 tại Hạ Viện và 88-2 tại Thượng Viện.

Nhưng cái nhìn của dân Mỹ về chiến tranh VN bắt đầu chuyển hướng khi cuộc chiến kéo dài quá lâu vì những sai lầm và thất bại chính trị và quân sự của Mỹ, và khi các phong trào chống sự tham chiến của Mỹ nổi lên mạnh từ những năm 67-68. Dân Mỹ mất kiên nhẫn, kinh hãi trước những cảnh máu lửa chết chóc của chiến tranh được thấy trong mỗi bữa ăn gia đình trên TV, đau buồn khi nhìn thấy con số cả chục ngàn thanh niên về Mỹ trong quan tài phủ cờ, và hàng trăm ngàn thanh niên khác giải ngủ trong tình trạng què cụt trong khi viễn ảnh hoà bình mù tịt, cũng như bị lay chuyển bởi các xách động gọi là “phản chiến” của truyền thông và giới trí thức cấp tiến thiên tả, được cổ võ và điều khiển thẳng từ Mạc Tư Khoa và Hà Nội.

Trong khi đảng CH còn cầm cự, muốn giúp VNCH thì đảng DC bắt đầu tháo chạy, khi trong cuộc bầu tổng thống năm 1968, các ứng viên “phản chiến” đe dọa nặng nề TT Johnson, đến độ ông phải bỏ cuộc, không ra tranh cử nữa. Phe “phản chiến” thất bại, cựu PTT Nixon vào Tòa Bạch Ốc, nhưng đảng DC chiếm đa số tại cả Thượng Viện lẫn Hạ Viện, với sự đắc cử của hàng loạt dân biểu và nghị sĩ “phản chiến”.

TT Nixon thuộc loại diều hâu, nhưng bị áp lực nặng phải rút ra khỏi Nam VN. Dù vậy, ông không chấp nhận rút ra theo kiểu phe DC đòi hỏi, tức là rút ra chỉ với một điều kiện duy nhất là mang các tù binh Mỹ về nước, còn số phận Nam VN ra sao thì tuyệt đối không thắc mắc.

Trong suốt thời gian nắm quyền, ông đã gặp phải chống đối tuyệt đối của phe đối lập DC và TTDC thiên tả suốt ngày bôi bác miền Nam và ca tụng VC, chưa kể hàng vạn người xuống đường biểu tình liên tục cả mấy năm trời. Chỉ trong nhiệm kỳ đầu, TT Nixon đã bị Hạ Viện DC biểu quyết hơn 80 lần, trung bình 3 tuần một lần trong suốt bốn năm, đòi Mỹ chấm dứt can dự vào cuộc chiến.

Tháng Chạp 1969, Thượng Viện DC thông qua luật Church-Cooper cấm triệt mọi hoạt động quân sự trên lãnh thổ Lào. Đường mòn Hồ Chí Minh được các nghị sĩ DC Mỹ bảo đảm an toàn tuyệt đối. Trong chiến dịch Lam Sơn 719 năm 1971, khi CSBV phản công với ít nhất 5 sư đoàn [binh đoàn 70, sư đoàn 304, 308, 320, và 2], trọng pháo và thiết giáp, chống lại vài tiểu đoàn dù VNCH bảo vệ cuộc triệt thoái về nước, quân Mỹ án binh bất động bên này biên giới, chỉ hỗ trợ pháo binh lai rai vì bị trói tay bởi luật Church-Cooper. Năm 1974, VNCH bất lực nhìn CSBV chuyển quân và súng đạn ào ạt vào Nam VN qua đường mòn HCM. TT Nixon muốn đánh bom, nhưng bị vướng xình lầy Watergate, không đủ hậu thuẫn chính trị để vượt qua luật Church-Cooper. “Đương mòn” đã thành xa lộ nhờ các nghị sĩ DC Mỹ.

Tháng 6, 1970, Thượng Viện DC thông qua một tu chính Church-Cooper cấm chính quyền Nixon không được chi một đồng nào cho cuộc chiến tại Căm-Pu-Chia, cấm đánh bom xứ này luôn. Đến phiên các mật khu VC trên đất Căm-Pu-Chia được Thượng Viện DC Mỹ bảo đảm an toàn tuyệt đối. VC di chuyển bộ tư lệnh từ “R” qua Căm–Pu-Chia.

Năm 1972, vẫn nghị sĩ DC Frank Church ra dự luật cấm mọi chi tiêu liên quan đến chiến tranh tại cả vùng Đông Nam Á, ngoại trừ trong mục đích rút quân. Nhưng may mắn cho VNCH, quốc hội không đạt được đồng thuận, nên dự luật này không thi hành được.

Một năm sau, 1973, lấy cớ Hiệp Định Paris đã ký, cũng TNS Church lại cho thông qua luật mới xác nhận cắt hết mọi viện trợ quân sự cho Đông Nam Á. Lần này được Hạ Viện DC thông qua luôn. Và được thi hành. Cũng năm 1973, quốc hội thông qua War Power Act, Quyền Tham Chiến, bắt tổng thống phải xin phép quốc hội nếu tham gia bất cứ cuộc chiến nào quá ba tháng.

Ông Frank Church, nghị sĩ DC của Idaho, là người có trách nhiệm lớn nhất trong việc giết Nam VN.

Tháng Ba năm 1975, khi VC bắt đầu ào ào đổ quân dọc miền Trung, tiến về Sàigòn, quốc hội DC bác đơn của TT Ford xin tháo khoán khẩn cấp 700 triệu viện trợ quân sự đã được phê chuẩn từ lâu nhưng chưa xuất quỹ. Tháng Tư năm đó, khi VC gõ cửa Sàigòn, quốc hội DC cũng bác luôn đơn xin viện trợ khẩn cấp 300 triệu để tăng cường bảo vệ thủ đô.

Nhìn vào diễn tiến trên, với các nỗ lực không ngừng nghỉ của khối dân cử DC để ép từ TT Johnson đến TT Nixon rồi TT Ford phải chấm dứt sự can dự của Mỹ vào cuộc chiến tại Nam VN bằng cách cắt tiền, ra luật cấm đoán đủ chuyện, làm sao có thể nói TT Nixon là người chịu trách nhiệm về việc mất VNCH? Điều ngạc nhiên đáng nói là việc ông đã cầm cự dai dẳng được 4 năm, vớt vát đến cùng, trước khi ký Hiệp Định Paris.

Trên phương diện ngoại giao, sách lược của ông là làm sao tạo được chia rẽ trong khối CS quốc tế giữa Liên Xô và Trung Cộng, để giảm hậu thuẫn của họ đối với CSBV, hậu thuẫn tinh thần cũng như tiền bạc và súng đạn, rồi đích thân ông đi nói chuyện trực tiếp với cả hai đối thủ để tìm giải pháp cho cuộc chiến.

Có nghiã là những nỗ lực của Kissinger-Nixon khi móc nối với Mạc Tư Khoa và nhất là Bắc Kinh, phải nói là để tìm cách vớt vát, gỡ gạc được bao nhiêu hay bấy nhiêu trước áp lực của khối phản chiến và quốc hội DC, chứ không phải là chuyện đi đêm để bán đứng Nam VN cho TC.

Khi VNCH rơi vào tay CSBV, hàng triệu người dân miền Nam bỏ phiếu bằng chân trốn chạy CS, cản trở và gây rối loạn các cuộc điều quân của các tướng Phú và Trưởng, trong khi VC thẳng tay bắn đại bác vào cả dân lẫn quân ta, đưa đến hàng trăm ngàn người chết trong các cuộc trốn chạy quân CSBV từ Cao Nguyên và miền Trung. Ta thua. Sau 30-4, hàng trăm ngàn người bị đi tù cải tạo, hàng trăm ngàn người khác chết trên Biển Đông. Phe cấp tiến DC và TTDC trắng mắt, tìm cách chạy tội, thả lập luận Nixon bán đứng miền Nam cho TC. Thực tế là cánh cấp tiến thiên tả trong đảng DC đã tập trung mọi nỗ lực chống phá việc Mỹ tham chiến ngay từ những năm TT Johnson vừa đổ quân vào miền Nam, 1964-65. Tất cả những tiếng nói chống đối ồn ào nhất như vợ chồng Jane Fonda/Tom Hayden, hay Frank Church, hay Robert Kennedy, Eugene McCarthy, và sau đó George McGovern,... đều thuộc đảng DC hết.

Ngay cả đến khi VC đe dọa chiếm hết miền Nam, khối DC cũng vẫn là khối chống đối mọi biện pháp cứu nguy, thà chống mắt nhìn Miền Nam rơi vào tay CSBV chứ không chịu chi thêm một xu viện trợ quân sự khẩn cấp do TT Ford xin. Ngay cả việc nhận những người Việt nạn nhân CS vào tỵ nạn khi đó cũng bị khối DC chống, trong đó nổi bật nhất có TNS Biden, TNS Kerry, thống đốc Brown, tất cả đều thuộc đảng DC hết.

Công bằng mà nói, để mất nước là trách nhiệm của chính chúng ta trước tiên, trước khi chúng ta xỉa tay đổ thừa người khác. Ta thua vì lãnh đạo dở, lệ thuộc quá nhiều vào viện trợ Mỹ, vì hậu phương thiếu đoàn kết, vì chính sách “dân chủ” nửa chừng xuân dung túng cho những phá rối của đám chính khách thời cơ lực lượng cẳng giữa, hay đám nhạc sĩ, sinh viên phản chiến ngây ngô, linh mục và sư sãi ôm mộng hão làm giáo chủ,... Tất cả chỉ khiến cho sự hy sinh của người lính Cộng Hòa trở thành công dã tràng.

Hồ sơ VN còn quá nhiều bí ẩn chưa giải toả hết mà cũng có thể không bao giờ có câu trả lời cuối cùng. Nhưng nhìn vào những diễn biến trên, trách nhiệm của khối cấp tiến DC không thể chối cãi. Chẳng những đảng DC ép chính quyền Nixon/Ford phải tháo chạy mà còn không cho chúng ta cơ hội chống đỡ khi cắt hết tiền bạc và súng đạn để có thể tiếp tục cuộc chiến, rồi còn muốn đóng cửa không cho chúng ta vào tỵ nạn.

TT Nixon đã từng thẳng tay thả bom Bắc Việt, tung quân qua đánh mật khu VC bên Căm-Pu-Chia, bí mật thả bom xứ này mấy tháng ròng rã mà cả VC lẫn Sihanouk đều không dám lên tiếng phản đối vì há họng mắc quai. Nếu không bị quốc hội DC khoá tay, ai biết được ông sẽ đi xa tới đâu. Đổ bộ Vinh hay Hải Phòng?

Các ông Nguyễn Tiến Hưng và Hoàng Đức Nhã đã nhiều lần kết án Kissinger và Nixon đã ma-nớp đủ kiểu kể cả áp lực và lừa gạt TT Thiệu để rút ra khỏi Nam VN, không sai. Nhưng có lẽ họ ở trong cuộc quá gần, quan hệ trực tiếp với Kissinger và Nixon quá nhiều, chỉ nhìn thấy hai ông này mà không nhìn thấy cả quốc hội và phong trào “phản chiến” bên Mỹ, nên không đánh giá đúng mức áp lực trên đầu TT Nixon. Theo ông Nhã, TT Thiệu trách TT Nixon không giữ lời hứa sẽ cứu VNCH, chỉ chứng tỏ lãnh đạo VNCH quả không hiểu gì hay không muốn hiểu chính trị Mỹ, nhất là sau gần cả trăm biểu quyết của quốc hội và sau vụ Watergate.

CSVN huyênh hoang đấm ngực khoe công, thật ra chỉ thắng nhờ... ù lỳ, coi rẻ mạng sống dân và bộ đội, chết bao nhiêu cũng bất cần để đám lãnh đạo chiếm quyền. Tướng Westmoreland đã từng nói, trong quân đội Mỹ, nướng quân như Giáp thì ông ta chưa lên được đại úy đã bị ra toà án quân sự rồi.

Từ phiá Mỹ, truyền thông mỵ dân, trí thức cấp tiến thiên tả, đảng DC yếu đuối, đó chính là những thành phần chịu trách nhiệm lớn nhất cho cơn ác mộng 30 tháng 4 của chúng ta. (07-05-17)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: Vulinh11@gmail.com. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Monday, May 8, 2017

30/4 – Xâm lược hay Giải phóng: Từ góc nhìn công pháp quốc tế

Một cách khách quan, để nhận định một cuộc chiến diễn ra dưới cơ chế là một cuộc xung đột nội địa hay quốc tế, trước tiên phải xác định được danh nghĩa pháp lý của các bên tham gia, mà cụ thể hơn, họ có được xem là quốc gia (“state”) t

Có đủ căn cứ và cơ sở để cho rằng tồn tại hai quốc gia tách biệt trên lãnh thổ Việt Nam từ năm 1955 cho đến năm 1975.

Bộ đội Bắc Việt chiếm lĩnh Sài Gòn, ngày 30/4/1975. Ảnh: Herve GLOAGUEN/GettyImages
.
Đây là một bài viết mà người đọc cần đi đến cuối bài.

Một cách khách quan, để nhận định một cuộc chiến diễn ra dưới cơ chế là một cuộc xung đột nội địa hay quốc tế, trước tiên phải xác định được danh nghĩa pháp lý của các bên tham gia, mà cụ thể hơn, họ có được xem là quốc gia (“state”) theo quy định của pháp luật quốc tế hay không?


Sự công nhận của cộng đồng quốc tế không quan trọng?

Pháp luật quốc tế vẫn chưa có một định nghĩa hay tiêu chuẩn chính thức để xác định danh tính quốc gia. Cho đến nay, quốc gia, các tổ chức và các học giả quốc tế đều dựa vào 4 tiêu chuẩn từ Điều ước Montevideo về Quyền và trách nhiệm của Quốc gia, ký kết vào năm 1933.

Đây vốn chỉ là một điều ước khu vực giữa các quốc gia thuộc Châu Mỹ lục địa. Tuy nhiên, theo cân nhắc của nhiều học giả, các tổ chức học thuật có thẩm quyền (như International Law Association  hay International Law Commission) và thực hành của nhiều quốc gia khác nhau; bốn tiêu chuẩn này thật sự chỉ pháp điển hoá tập quán pháp quốc tế. Vì vậy, chúng được xem là căn cứ hợp pháp để xác định tư cách quốc gia.

Bốn tiêu chuẩn được ghi nhận gồm: 

(1) Lãnh thổ xác định

(2) Dân cư xác định (cả hai tiêu chuẩn này không cần thiết phải tuân thủ theo một số lượng cụ thể), 

(3) Chính phủ có năng lực kiểm soát hiệu quả và 

(4) Năng lực tham gia vào điều ước với quốc gia khác.

Có ba điểm cần chú ý trong bộ tiêu chuẩn nói trên.

Một là, khái niệm dân cư không đồng nghĩa với việc nó phải thuộc một nhóm dân tộc, màu da hay tôn giáo nhất định. Theo đó, một quốc gia không nhất thiết chỉ có dân cư thuộc một nhóm dân tộc, màu da hay tôn giáo. Ngược lại, không nhất thiết hai nhóm dân cư cùng thuộc một dân tộc, màu da hay tôn giáo thì phải cùng một quốc gia với nhau.

Hai là, dù chính phủ có năng lực kiểm soát hiệu quả có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hình thành quốc gia, điều này không nên được hiểu đồng nghĩa với việc chính phủ, chính quyền đương thời tương đồng với sự tồn tại của chính quốc gia đó. Ta có thể hiểu rõ hơn vấn đề này thông qua vài ví dụ như Somalia, Palestine, và Đài Loan.

Somalia tính cho đến nay, có thể đã được xem là “failed state” – “một quốc gia thất bại”, nơi mà chính quyền trung ương biến mất (hoặc không đủ năng lực kiểm soát quốc gia) và được thay thế bởi chủ nghĩa bộ tộc và lãnh chúa địa phương. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là quốc gia Somalia không còn tồn tại và ai cũng có thể xâm chiếm vùng lãnh thổ nói trên.

Tương tự, có thể nói rằng Palestine vẫn chưa có được một chính phủ hiệu quả thống nhất lãnh đạo. Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) được xem là một đại diện lý tưởng cho Palestine, nhưng tranh chấp bạo lực giữa các phe phái như Hamas hay Fatah vẫn còn đó. Mặc dù vậy, việc không có một chính phủ hiệu quả đại diện cho nhóm dân cư này cũng không đồng nghĩa với việc quốc gia Palestine không tồn tại.

Đài Loan, xét mọi mặt, ở một mức độ mạnh mẽ và rõ ràng hơn, có thể xem là một quốc gia độc lập – đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của Montevideo. Tuy nhiên, Đài Loan cũng đang đẩy mình vào thế khó theo mặt pháp lý,  tương đương với miền Nam Việt Nam mà bài viết sẽ phân tích ở phần sau.

Ba là, dù yêu cầu thứ tư có nhắc đến việc tham gia vào điều ước quốc tế với quốc gia khác, điều này không đồng nghĩa với việc chính phủ đó phải được cộng đồng quốc tế công nhận. Yêu cầu này nhằm nói đến quyền hạn và năng lực thực thi điều ước nếu được ký kết, không phải nhằm ám chỉ rằng quốc gia đó phải được cộng đồng quốc tế chấp nhận. Hiển nhiên, điều này cũng chỉ mang tính tương đối.

Nhiều học giả đã và đang cân nhắc sức nặng của yếu tố cộng đồng quốc tế, hay cụ thể nhất là việc được tiếp nhận trở thành thành viên của Liên Hiệp Quốc (United Nations – UN). Trên thực tế, được UN hay các cường quốc công nhận là một bước đệm quan trọng, nhưng sự đồng thuận chung của cộng đồng học thuật thế giới và các tổ chức học thuật có thẩm quyền thì đây không phải, và không nên là một yêu cầu bắt  buộc.

Một dân tộc – hai quốc gia? Khả dĩ.

Với những thông tin như trên, chúng ta có thể tập hợp lại và tạo nên một bức tranh chung về “statehood” của hai miền Nam Bắc Việt Nam.

Vĩ tuyến 17 chia cắt Việt Nam làm hai miền. Ảnh: BBC.

Trước tiên, có đủ căn cứ và cơ sở để cho rằng tồn tại hai quốc gia tách biệt trên lãnh thổ Việt Nam từ năm 1955 cho đến năm 1975.

Cả hai quốc gia đều có lãnh thổ và dân cư xác định, có chính phủ có năng lực kiểm soát hiệu quả; đều từng tham gia vào các hiệp ước, hiệp định quốc tế.

Vì vậy, dù chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và các đồng minh có tuyên bố chính phủ Việt Nam Cộng hòa là ngụy quân, ngụy quyền, bù nhìn của Mỹ; hay ngược lại, dù chính quyền Việt Nam Cộng hòa có lên án chính quyền miền Bắc là quân cờ của Cộng sản, quên lịch sử cha ông… thì cũng không làm thay đổi danh tính pháp lý của họ theo quy chuẩn pháp luật quốc tế.

Tuy nhiên, cách nhìn nhận này cũng không hẳn là hoàn toàn không có kẽ hở.

Đầu tiên, cả hai quốc gia đều cho rằng mình là đại diện hợp pháp cho toàn Việt Nam; tương tự  như vấn đề “Một Trung Hoa ” (One China) giữa Đài Loan và Trung cộng hiện tại. Điều này cũng đồng nghĩa với việc tranh chấp hai miền mang dáng dấp của một cuộc nội chiến hơn là tranh chấp liên quốc gia. Tuy nhiên, theo người viết, điều này không làm mất đi bản chất nhà nước của hai quốc gia theo tiêu chuẩn của Montevideo.

Thứ hai, phải tính đến luận điểm cho rằng Ngô Đình Diệm, chính quyền Bảo Đại và Hoa Kỳ đã không tôn trọng Hiệp định Geneva và không tuân thủ việc thi hành cuộc tổng tuyển cử 1956 như dự định.

Nhưng nếu cho rằng Hiệp định Geneva giải quyết được vấn đề Việt Nam thì cũng không tôn trọng quyền dân tộc tự quyết (self-determination) của một bộ phận người dân Việt Nam, quy định tại Khoản 2, Điều 1, Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Đặc biệt, bối cảnh pháp lý của hai chính quyền tồn tại song song ở thời điểm này tương đối phức tạp.

Tính chính danh của chính phủ VNDCCH chủ yếu dựa vào cuộc tổng tuyển cử năm 1946. Tính chính danh này càng được tăng cường hơn sau khi vua Bảo Đại chính thức thoái vị và trao lại ấn tín, quốc bảo của hoàng triều Nguyễn cho đại diện chính Phủ VNDCCH Trần Huy Liệu ngày 25/8/1945.

Tuy nhiên, với Hiệp định Sơ bộ Pháp-Việt ngày 6/3/1946, được ký kết giữa ông Jean Sainteny, đại diện chính phủ Cộng hòa Pháp, và ông Hồ Chí Minh cùng ông Vũ Hồng Khanh, đại diện chính phủ VNDCCH; VNDCCH chỉ còn lại phía Bắc Việt Nam (và vẫn thuộc khối Liên hiệp Pháp), miền Nam Việt Nam vẫn thuộc nhà nước Cộng Hòa Pháp với lời hứa hẹn cho một cuộc trưng cầu dân ý – thống nhất với VNDCCH trong tương lai. Ngày 1 tháng 6 năm 1946, người Pháp thành lập Nam Kỳ Quốc đặt thủ phủ tại Sài Gòn.
Trong giai đoạn từ 1946 đến 1949, sự cứng đầu của cựu vương tân Quốc trưởng Bảo Đại đối với các đại biểu Pháp cũng đã giúp Quốc Gia Việt Nam thành lập với cơ sở của Hiệp ước Elysée (8/3/1949). Trải qua nhiều biến cố với cuộc “đảo chính bằng phiếu” của ông Ngô Đình Diệm, chính quyền Quốc gia Việt Nam cũng có nền tảng pháp lý khá tương đồng với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Vì vậy, việc Cộng hòa Pháp tự tiếp tục cho mình toàn quyền sắp đặt ngày tổng tuyển cử với Hiệp định Geneva là can dự vào nội bộ Việt Nam, một việc làm không thỏa đáng, đặc biệt khi hai bên duy nhất chấp nhận ký kết hiệp định chỉ có chính phủ kháng chiến của VNDCCH và nhà nước Cộng hòa Pháp, còn chính phủ Bảo ĐạiHoa Kỳ đều phản đối Hiệp định.

***

Với tất cả các thông tin nói trên, cân nhắc nền tảng pháp lý tương đồng, năng lực quản lý tương đương, có đầy đủ lý do (theo công pháp quốc tế) để cho rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa là hai thực thể nhà nước hoàn toàn độc lập.

Vậy nên, hành vi dùng vũ lực quân sự để tước đoạt chính quyền, lãnh thổ của một quốc gia khác, theo định nghĩa của Điều 1, Nghị quyết 3314 năm 1974 của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc, là hành vi xâm lược theo công pháp quốc tế.

Tài liệu tham khảo:

Toàn văn Hiến chương Liên Hiệp Quốc

Toàn văn Nghị quyết 3314 Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc

Thomas D. Grant; Defining Statehood: The Montevideo Convention and its Discontents (Columbia Journal of Transnational Law, 1999)
James Crawford; The Creation of State of Palestine: Too much too soon? (EJIL, 1990)

Luatkhoa.org

Saturday, May 6, 2017

Cứ Tới 30/4 Lại Nhắc Chuyện Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc

06/05/201700:00:00(Xem: 769)
Cứ Tới 30/4 Lại Nhắc Chuyện Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc
Gần tới tháng tư, những người Việt Nam lớn tuổi, tức những người đã từng trải qua tháng tư năm 1975, đều nhớ lại biến cố mất Miền nam do Lê Duẩn, dựa vào sự yểm trợ tích cực của Trung cộng, cả quyết dùng chiến dịch biển người xua quân cưởng chiếm cho bằng được Miền nam. Khi dép râu dẩm lên Miền nam thì xã hội bắt đầu đảo lộn. Gia đình bắt đầu ly tán Nhà cửa, của cải của người dân lần lược trao qua tay kẻ chiến thắng để chuộc tội tư sản.

Có người hỏi về số phận những viên chức của Chánh quyền Sài gòn, Lê Duẩn trả lời bằng cử chỉ đưa bàn tay cứa ngang cổ. Võ văn Kiệt “nhơn từ” đề nghị cho đi tập trung cải tạo để khai thác sức lao động của họ phục vụ lợi ích xã hội chủ nghĩa cho tới kiệt sức sẽ thả ra về cho gia đình chăm sóc. Chết sống sẽ do khả năng sanh tồn trong cải tạo định đoạt.

Những người may mắn thoát được ra nước ngoài, với hai bàn tay trắng, bắt đầu làm lại cuộc đời. Gian khổ nhưng được tự do. Với họ, ngày 30/04 không gì khác hơn là kỷ niệm đau thương.

Ở lại hay ra đi, cả hai đều chỉ thấy mình là người dân bị mất nước, mất tất cả, chớ không ai thấy Miền nam được giải phóng, đất nước được thống nhứt. Trong những người cộng sản, có thể có triệu người vui thật sự vì có điều kiện chiếm đoạt tài sản của dân Miền nam làm giàu, còn trìệu người kia, có lương tâm trong sáng, khi vào thấy Miền nam không như họ hiểu do bị chế độ tuyên truyền, bắt đầu đau buồn, ân hận đã cống hiến mạng sống, tuổi trẻ sai lầm, thật hoang phí. Họ là nhũng kẻ đã trao thân nhằm tướng cướp.

Khi Hà nội áp đặt chánh sách xã hội chủ nghĩa cai trị Miền nam thì xã hội Miền nam ngày càng thêm tan nát, những giá trị xã hội, đạo đức bị bứng gốc và đảo ngược. Hệ quả là thực tế ngày nay ở Việt nam.

Thực tế sau 42 năm

Rồi sự phấn khởi chiến thắng cũng lần lần lắng dịu, nhà cầm quyền bắt đầu thấy chiến thắng chỉ có nghĩa là chiếm được Mìền nam, chỉ thống nhứt về mặt hành chánh, nhân tâm ngày càng phân tán, sự bất mản chế độ ngày càng thể hiện khắp nơi trong dân chúng. Hà nội bắt đầu thay đổi thái độ, đưa ra kêu gọi “Đại đoàn kết toàn dân”, ban hành chánh sách “Hòa hợp dân tộc”. Chủ trương của nhà cầm quyền cộng sản là “Hòa hợp dân tộc”. Họ chưa bao giờ nói “Hòa giải, Hòa hợp dân tộc”.

Ngay sau Hiệp định Paris năm 1973, Hà nội đã đưa ra đề nghị “Hội Đồng Hòa giải, Hòa hợp dân tộc” gổm ba thành phần để lo tổ chức tổng tuyển cử, tái lập hòa bình. Nhưng cái “ Hội Đồng Hòa giải Hòa hợp dân tộc” kia chết chưa kịp khai tử vì họ đã dùng võ lực chiếm trọn Miền nam. Sau những năm “đổi mới”, họ thấy rỏ chỉ khi người dân nhìn nhận chánh quyền và hợp tác mới là quan trọng cho đất nước phát triển, nhứt là khối người Việt nam Hải ngoại vừa có khoa học kỷ thuật, vừa có vốn, nên nhà cầm quyền cộng sản quan tâm hơn đến vấn đề “Đại đoàn kết toàn dân”.

Nhưng sau 42 năm kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược, vấn đề hoà hợp hoà giải dân tộc được nhà nước Hà nội nhắc đến nhiều lần, trong các cuộc họp Đại hội đảng cộng sản, Hội Nghị Trung ương hay bất cứ nơi nào có những người cầm quyền phát biểu, nhưng thực tế vẩn chưa đạt dưọc kết quả mà họ mong đợi.

Sốt ruột, Hà nội ban hành nào Nghị Quyết 36 ngày 26 tháng 03 năm 2004, nào Nghị quyết 23 ngày 16 tháng 01 năm 2008, những chương trình giao lưu họp mặt do Ủy Ban nhà nước về người Việt nam ở nước ngoài tổ chức để thúc đẩy thực hiện Hòa hợp dân tộc. Thế nhưng 42 năm dài vẩn chưa đủ để cho dân tộc có thể quên đi những tổn thương quá nặng nề do chánh sách cộng sản tạo ra và để lại.

Người cộng sản vẫn còn suy nghĩ ta/địch, cách mạng/ngụy. Họ kêu gọi hòa hợp dân tộc, chớ chưa bao giờ họ nói “Hòa giải” bởi họ cho rằng họ nắm trọn chánh nghĩa. Hòa hợp là mọi người xếp hàng về dưới trướng của đảng cộng sản vì đảng cộng sản đã mở rộng vòng tay đón nhận những “người con hoang” trở về. Tức không hề có chuyện Hòa giải, hai bên nhìn lại để thấy đúng/sai mà thật lòng sửa đổi vì một tiêu chung là quyền lợi đất nước, dân tộc. Có hòa giải thật lòng tự nhiên có ngay hòa hợp.

“Hòa giải, Hòa hợp dân tộc”

Hiệp định Paris qui định “Hội Đồng Quốc gia Hòa giải Hòa hợp dân tộc” gồm ba thành phần ngang nhau, và công nhận hai thực thể chánh trị ngang nhau ở Miền nam là Chánh quyền Sài gòn và Chính phủ Cách mạng Lâm thời; hai chính thể này phải tiến đến một giải pháp chính trị trong tình trạng có đầy đủ các quyền dân chủ và không có sự can thiệp của Mỹ. Có một điều khoản qui định “tất cả tù chính trị đều phải được thả trên tinh thân “hòa giải và hòa hợp dân tộc, nhằm chấm dứt thù hằn, giảm bớt đau khổ và đoàn tụ các gia đình”.

Nguyên văn như sau:

“Ngay sau khi ngưng bắn, hai bên Miền nam Việt nam sẽ:

– Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia;

– Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín nguỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh....”.

Nhưng ba ngày trước khi ký Hiệp Định Paris, Kissinger còn tuyên bố tại một cuộc họp báo rằng chính sách của chính phủ Mỹ là không “áp đặt một chính phủ liên hiệp hay một chính phủ liên hiệp trá hình trên nhân dân Việt Nam”. Ngày 23 tháng Giêng năm 1973 Nixon tuyên bố trên các đài truyền thanh và truyền hình Mỹ rằng Hoa Kỳ “vẫn tiếp tục công nhận chính phủ Cộng Hòa Việt Nam như là chính phủ chính danh độc nhất ”. Nhưng trong chánh trị, xưa nay, chưa bao giờ có bạn muôn thuở, thù muôn đời. Nên sau đó, Mỹ đã bán đứng trọn vẹn Miền nam Việt nam cho cộng sản Bắc việt. Và Hà nội đã vứt bỏ từ lâu đề nghị do chính họ đưa ra, áp dụng triệt để chánh sách trả thù giai cấp lên toàn dân Miền nam bởi “Người quét đường cũng có tôi với Cách mạng” (dạy trong học tập ở khu phố).

Không thể có “Hòa giải và Hòa hợp” với cộng sản

Khi nói “Hòa giải và Hòa hợp” với cộng sản không có gì khác hơn nói “Hòa giải và Hòa hợp” với Thiện và Ác. Hoặc nói “tư tưởng Dân chủ Tự do Nhơn quyền” có thể hòa giải và hòa hợp với “Chủ nghĩa lý luận không có con người và chủ nghĩa vô nhơn bản” được không?

Hồ Chí Minh tin tưởng tuyệt đối ở bác Xít và bác Mao là hai người không thể sai lầm nên đã học tập nhuần nhuyễn tư tưởng của Mao. Xin trích vài nét nổi bật trong tư tưởng chánh trị của Mao:

“Làm chánh trị như làm chiến tranh. Không thể có xây dựng nếu không có phá bỏ, hủy diệt.

Trước hết, và căn bản, Mao chủ trương phá bỏ, hủy diệt Quốc tế cộng sản. Vì có làm như thế thì Trung quốc mới bình đẳng với Nga, Mỹ và xây dựng thế giới mới 3 cực.

Tần Thỷ Hoàng không có gì ghê gớm cho lắm vì hắn chỉ chôn sống có 460 nho sĩ. Chúng ta sẽ chôn sống ít lắm cũng phải 46000 trí thức tiểu tư sản.

Phải thực hiện vườn không, nhà trống triệt để về vật chất và tinh thần. Mỗi người phải như một tờ giấy trắng, không được quyền sở hữu tài sản, nhà đất, và không được có kiến thức, tri thức. Tất cả phải thành “không”, sạch bách! Những người dân như vậy mới thông minh” (M.H.Bernard, Mao Tsé-toung, 1893-1976, VOIX, Paris 2003).

Mao chủ trương chánh trị độc tài tuyệt đối như vậy để duy trì chế độ lâu dài. Bởi Lê-nin dạy rỏ “Một chế độ sẵn sàng thực thi khủng bố vô giới hạn thì không thể nào bị lật đổ.” (Simon LEYS, Essais sur la Chine, Robert Laffont, Paris 1998, trg 4.)

Nhơn đây tưởng cũng nên nhắc lại một chuyện xưa thời còn biên giới Thạch hãn để thấy cộng sản không chỉ xem Chánh quyền là kẻ thù (Ngụy quân, Ngụy quyền), mà cả người dân bình thường cũng là kẻ thù cần phải tiêu diệt. Trần Đĩnh kể trong Đèn Cù II (trang 461-462): “Sông đã lấp thành tên, mà báo cứ ca ngợi cô Lý oằn lưng chèo lái. Hầu hết nghe đều cười. Tự giễu và rộng lượng. Nhưng khi Sinh nói ở Vĩnh Linh, anh đã chứng kiến những người ở phía bên Nam kia bị ta bắt sang chôn sống kêu rất lâu dưới huyệt, tôi lại thấy mọi người lạnh mặt lại. Sẵn sàng bao dung với ta và hóa đá với địch”. Phải chăng việc tàn sát tập thể ở Huế năm Mậu thân 1968 chỉ là tiếp nối truyền thống man rợ này của Quân đội nhân dân?

Phải có Dân chủ mới hòa giải và hòa hợp

Cho tới nay, Hà nội chỉ kêu gọi mọi người về dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản nên trong vài tháng qua đã xảy ra lắm chuyện ỏ Việt nam nói rỏ không thể có “Hoà hợp, Hòa giải dân tộc” nếu không có Dân chủ.

Những bài hát tinh cảm đang hát bổng bị cấm. Sách vở biên khảo về lịch sử đã phát hành bị thu hồi vô cớ (về Trương Vĩnh Ký của Nguyễn Đình Đấu).

Về lịch sử, văn hóa, những kiến trúc cổ ở Sài gòn bị phá để bán địa điểm cho doanh nhơn ngoại quốc xây cơ sở mới. Hà nội không cần thấy người dân Sài gòn thương tiếc đó là một phần ký ức đời sống của họ bị Hà nội thêm một lần nữa cướp mất. Họ không thể thấy đó là chương trình phát triển đô thị. Không chỉ riêng với Miền nam nơi bị cưởng chiếm 30/04/75, mà với cả Miền Bắc, người cộng sản cũng chủ trương biến đầu óc mọi người phải sạch như tờ giấy trắng để họ nhồi nhét đìều họ muốn. Những trận đánh Gạc Ma, chiến tranh biên giới hoàn toàn không tồn tại trong sách giáo khoa lịch sử thời Xã hội chủ nghĩa. Người trẻ chỉ còn tìm kiếm qua thông tin trên mạng, để họ kêu gọi nhau trân trọng những gì vốn dĩ thuộc về sự thật và lịch sử dân tộc.

Không thừa nhận lịch sử thì làm sao hòa giải và hòa hợp dân tộc được?

Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã, trả lời đài BBC, cho rằng một trong những yếu tố quan trọng để dẫn đến hoà hợp hoà giải dân tộc, đó là thừa nhận vai trò của Việt Nam Cộng Hoà: “Theo tôi bất cứ một giai đoạn lịch sử nào cũng có vai trò của nó. Nếu thừa nhận vai trò đó, của hai bên, nó sẽ dễ dàng hoà hợp. Các nhà nghiên cứu, làm sử đặt ra vấn đề là phải thừa nhận Việt Nam Cộng hoà là một thực thể. Trong giai đoạn đó có một thực thể, trong đó có vấn đề đối nội đối ngoại, có những điểm tốt, không tốt, lịch sử phải khách quan. Ví dụ như trong vấn đề Hoàng Sa, phải chấp nhận là Việt Nam Cộng hoà đã có trách nhiệm, và Hoa Kỳ cũng đã có phản ứng. Mà khi có phản ứng tức là Trung Quốc đã xâm lược. Đó là một điều phải khẳng định”.

Nên thấy bất cứ một giai đoạn lịch sử nào cũng có vai trò của nó. Nếu thừa nhận vai trò đó, của hai bên, thì mới có thể hoài giải và hoà hợp được.

Khi chỉ có người Bắc mới thông minh, mới có lý luận nên mới lãnh đạo đảng được, như Nguyễn Phú Trọng nói, thì mọi người chỉ còn biết phải đặt mình dưới trướng đảng độc tài thối nát mà thôi.

Nguyễn thị Cỏ May

Chiến tranh Chánh trị Trước

06/05/201700:00:00(Xem: 1006)
Chiến tranh Chánh trị Trước
Nhiều dấu chỉ cho thấy, trong cơn xung đột hoả tiễn và nguyên tử do CS Bắc Hàn gây ra, dù đã bày binh bố trận, sẵn sàng chiến tranh qui ước hay nguyên tử, nhưng TT Trump hiện đang dùng hình thái chiến tranh tâm lý, chiến tranh chánh trị trước.

Hải Quân Mỹ nghi binh hướng về tập trận ngoài biển của CS Bắc Hàn, chiến đấu chiến lược Mỹ đáp xuống Nam Hàn, dàn hoả tiễn THAAD và hệ thống ra đa lợi hại của Mỹ khẩn cấp bố trí, hải quân Nhựt, Nam Hàn phối hợp cùng Mỹ để gọi là tập trận nhưng thực tế là bố trí đội hình xung trận. Đô đốc Mỹ Harry Harris Jr. Tư Lịnh Lực Lượng Mỹ ở Thái bình dương điều trần trước Ủy ban Quân vụ Thượng viện Mỹ ngày 27/4, khẳng định Hải quân Mỹ đã tập hợp đủ lực lượng và sẵn sàng tấn công CS Triều Tiên ngay trong đêm nếu thấy cần thiết.

Nhưng TT Trump một tổng thống mà báo chí Mỹ gọi là người không thể đoán trước được sẽ nói gì làm gì. Trong cơn dầu sôi lửa bỏng sắp chiến tranh ấy với CS Bắc Hàn, TT Trump lại tuyên bố trật bàn đạp, hạ nhiệt một cách bất thường nếu không muốn nói là kỳ dị. Ông tuyên bố tréo cẳng ngỗng rằng Kim Jong-un “khá thông minh” và Ông “vinh hạnh” gặp y. TT Trump cũng điện thoại cho Thủ Tướng Thái Lan, Singapore và TT Phi cũng về hồ sơ Bắc Triều Tiên. Kim Jong-un phóng thêm một hoả tiễn, lần thứ sáu từ đầu năm nay, nhưng thất bại thê thảm. TT Trump tuyên bố Ông “không vui” và Chủ Tịch TC cũng không vui vì CS Bắc Hàn thiếu “tôn trọng” TQ. Khi được hỏi liệu “không vui” có đồng nghĩa với “hành động quân sự” hay không, TT Trump trả lời: “Tôi không biết. Chúng ta sẽ chờ xem”.

Lời tuyên bố hạ nhiệt, cũng như khen Kim Jong-un trái ngược với hành động của Ông và bộ tham mưu cận chiến tranh của Ông trước đó. TT Trump và các giới chức thẩm quyền ngoại giao, quân sự mở hội nghị giống như Hội Nghị Diên Hồng trong lịch sử VN trước khi quân dân VN đoàn kết chống kẻ thù là quân Tàu sang xâm lăng VN.

TT Trump hôm 26-04 mời toàn thể 100 thượng nghị sĩ Mỹ tới Tòa Bạch Ốc để có thể họp mặt, không báo chí, không nghe lén được. TT Trump mở đầu cuộc tường trình mật chánh yếu liên quan đến CS Bắc Hàn. Tiếp theo bộ tham mưu an ninh, tình báo, hành quân trong nội các, Bộ trưởng Quốc phòng Jim Mattis, Ngoại trưởng Rex Tillerson, Giám đốc Tình báo Quốc gia Dan Coats và Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, Tướng Chủ Tịch Tham Mưu Liên quân Joseph Dunford lần lượt thuyết trình.

Đây là một cuộc họp mật ít khi xảy ra giữa Hành Pháp và Lập Pháp, thường những buổi điều trần hay tường trình mật của Hành Pháp cho Thượng Viện thì Hành Pháp sang Quốc Hội trình bày cho ủy ban, chớ ít khi cả khoáng đại Thượng Viện sang Toà Bách Ốc như kỳ này.

TNS đảng Dân chủ Chris Coons của Ủy ban Đối ngoại Thượng viện nói với các phóng viên sau cuộc họp: "Đó là một cuộc họp nghiêm túc, nêu rõ ý kiến và phương án chọn lựa quân sự, nếu được yêu cầu, cũng như chiến lược ngoại giao mà theo tôi là rõ ràng và tương ứng với mối đe dọa này".

Sau đó, Phó Tổng thống Mike Pence, Ngoại trưởng Rex Tillerson và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mattis đến thực hiện một cuộc họp tương tự trước tất cả 431 dân biểu. Một tuyên bố chung giữa ông Tillerson và ông Coats nói rằng: "Chúng tôi sẵn sàng bảo vệ Hoa Kỳ và các đồng minh của chúng ta" nếu chiến lược ngoại giao không chặn được Bắc Triều Tiên theo đuổi việc phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt.

DB Ed Royce, Chủ tịch Uỷ ban Đối ngoại Hạ viện, một dân biểu Cộng hòa đại diện bang California, nói với các phóng viên sau đó rằng: "Chúng ta phải phối hợp hành động." Ông Royce cho biết ủy ban của ông trong các tuần tiếp theo sẽ thảo luận các lựa chọn, bao gồm cả sự cần thiết phải trừng phạt tài chính Bắc Triều Tiên.

Ông Adam Schiff, người đứng đầu đảng Dân chủ trong Ủy ban Tình báo Hạ viện, nói các cuộc họp của chính quyền Trump là triệt để và thỏa đáng trong việc trả lời các câu hỏi từ các thành viên của Quốc hội.

Còn Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson sẽ chủ toạ phiên họp với Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc hôm 28/4 để thúc đẩy các biện pháp trừng phạt quốc tế nghiêm ngặt hơn đối với Bình Nhưỡng.

Quyết tâm của Lập Pháp sẵn sàng cho chiến tranh chống CS Bắc Hàn khác với tuyên bố của TT Trump khen Kim Jong-un làm cho nhiều người thắc mắc. Phát ngôn viên của TT Trump minh xác tổng thống Trump đã nói sẽ gặp Kim Jong-un “nếu các điều kiện cho phép”, “mà các điều kiện trong hiện tại không cho phép điều này”.

Thế mà CS Bắc Hàn sợ. Bộ trưởng Ngoại giao của CS Bắc Hàn viết thư nhờ 10 nước ASEAN can gián Mỹ. Quan Thầy của CS Bắc Hàn là TC, Chủ Tịch Tập cận Bình điện thoại cho TT Trump. Ngoại trưởng TC la làng chiến tranh xảy ra là đại hoạ. Ngoại trưởng Mỹ Tillerson tuyên bố có thể đàm phán với CS Bắc Hàn về ngưng hoả tiễn và nguyên tử không phải ngưng giai đoạn mà ngưng hoàn toàn vài chục năm.

Ép phê của đòn chiến tranh chánh trị này rất tốt và lợi cho Mỹ. Nhân dân Mỹ thấy TT Trump không phải là người hiếu chiến, chủ chiến, không chủ hoà quá thành chủ bại. Đàm phán với kẻ thù không phải là hèn, là có tội. Với kiểu làm bàn của TT Trump nếu có chiến tranh xảy ra với CS Bắc Hàn, là do CS Bắc Hàn hiếu chiến, Mỹ và đồng minh chỉ tự vệ, chớ không phải ỷ mạnh hiếp yếu. Chỉ ngày hôm sau là 27-4 thôi phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Cảnh Sảng lên tiếng, Mỹ đã “tích cực” khi mở ra hướng giải quyết căng thẳng ở Triều Tiên thông qua đàm phán.

Theo Reuters, hôm 30-4, tổng thống Mỹ Donald Trump còn chủ hoà mạnh hơn nữa, đã điện đàm với thủ tướng Thái Lan, Singapore. Trước đó, hôm thứ Bảy 29/04, TT Trump cũng đã điện đàm cho TT Phi cũng về hồ sơ Bắc Triều Tiên để vận động các biện pháp duy trì áp lực ngoại giao và kinh tế đối với CS Bắc Triều Tiên.

Nhưng đối với TT Trump người không thể tiên đoán trước được hành động của Ông. Kim Jong-un phải coi chừng Ô. Trump nói vậy chớ không phải vậy, tệ hơn vậy nhiều. Chính Chủ Tịch TC còn lặng người ngạc nhiên khi Ô Trump báo tin như sét đánh ngang mày là chiến hạm Mỹ phóng 59 hoả tiễn vào Syria. TT Nga Putin cũng hết hồn khi biết tin này vì Ông đâu có dè TT Trump hành động như vậy. Cái kiểu TT Trump khen Kim Jong-un cũng như khi Ô. Trump khen TT Putin, nhưng khi thấy Ô Putin hành động bất lợi cho Mỹ là Ông Trump để một bên tình cảm mà hành động vì quyền lợi quốc gia Mỹ.

Thế cho nên Kim Jong-un coi chừng, cà chớn cà chua, làm nư chống Mỹ nữa, thì chỉ cần một một cú điện thoại mật của TT Trump nhơn danh tư lịnh tối cao quân lực, thì như Đô đốc Mỹ Harry Harris Jr. Tư Lịnh Lực Lượng Mỹ ở Thái bình dương đã trình với Quốc Hội ngày 27/4, khẳng định Hải quân Mỹ đã tập hợp đủ lực lượng và sẵn sàng tấn công CS Triều Tiên ngay trong đêm nếu thấy cần thiết, thì thành trì của CS Bắc Hàn sẽ nằm trong biển lửa.

Và tin của VOA, Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ CIA Mike Pompeo khẩn cấp bay sang họp với các giới chức tình báo Hàn Quốc ở Seoul là một điều đáng suy nghĩ đến việc Kim Jong-un sẽ bị ám sát một cách thê thảm do “hành động che dấu” của tình báo TQ hay Mỹ hay của một quân nhân cảm tử của CS Bắc Hàn. Tin VOA cũng loan báo Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ hôm 1/5/2017 đã cử và khẩn cấp điều Chuẩn tướng Lương Xuân Việt, một người Mỹ gốc Việt sang làm Tư Lệnh Phó Đặc Trách Hành Quân của Quân đoàn 8 Quân đội Mỹ trú đóng tại Nam Hàn../. (VA)

Kinh Tế Nhập Môn: Món Nợ Của Mỹ

06/05/201700:00:00(Xem: 2034)
Kinh Tế Nhập Môn: Món Nợ Của Mỹ
Hoa Kỳ là Quốc Gia Mắc Nợ? Đáng Lo mà chưa Đáng Sợ

Trong cuộc tranh luận hiện nay về ngân sách liên bang, báo chí cứ nhắc đến gánh nợ quá cao của nước Mỹ, giờ đã mấp mé 20 ngàn tỷ đô la - và sẽ còn tăng. Tình hình rồi sẽ ra sao?...

Hoa Kỳ là siêu cường có sức mạnh kinh tế và quân sự đứng đầu thế giới nên cũng chịu gánh nặng cho hai sức mạnh đó. Nhu cầu chi tiêu quốc phòng và tiền lời cho các khoản nợ là gánh nặng tiêu biểu nhất. Nhưng phải chăng vì vậy mà Hoa Kỳ sẽ bị suy yếu như nhiều nước mắc nợ khác, điển hình là Nhật Bản và Trung Quốc? Câu giải đáp sẽ thuộc phạm vi kinh tế, nhưng còn đi xa hơn vậy. Xin hãy nói về kinh tế trước.

Được gọi là công trái, hay nợ của công quyền, gánh nợ của Chính quyền Liên bang Hoa Kỳ lên tới 20 ngàn tỷ Mỹ kim, nhưng bên trong có 5,5 ngàn tỷ (27%) là do các cơ quan liên bang cho nhau vay. Số sai biệt, 14,5 ngàn tỷ, mới là “món nợ công chúng”, debt held by the public. Món nợ thuần này lại được phân giải làm hai loại: nợ ngoại quốc và nợ trong nội bộ Hoa Kỳ. Nợ ngoại quốc là khi giới đầu tư của nước ngoài cho Chính phủ Mỹ vay tiền, khoản nợ đó chi bằng 42% của “nợ công chúng”. Nhiều người thiếu am hiểu cứ sợ Trung Quốc là chủ nợ của nước Mỹ nên có thể dùng khoản nợ đó làm võ khí tài chánh để đạt mục tiêu chính trị.

Sự thật thì khối nợ ấy của Tầu cũng nhỏ, chỉ ở khoảng một ngàn 150 tỷ, thua khoản nợ của nước Nhật cho Mỹ vay và năm qua, Bắc Kinh đã từng bán khoản nợ ấy ra ngoài mà không làm thị trường tài chánh Hoa Kỳ bị rúng động. Đấy chỉ là kho đạn giấy!

Nhưng khối công trái quá lớn của Mỹ quả là có vấn đề.

Năm 2012, ba kinh tế gia Carmen Reinhart, Vincent Reinhart và Kenneth Rogoff (xin gọi tắt là RRR) đã nghiên cứu tình hình nợ nần của 26 nền kinh tế lớn trên thế giới từ năm 1800 đến 2011 để cảnh báo rằng nếu công trái cao quá 90% sản lượng thì kinh tế có thể bị tăng trưởng thấp hơn. Vì khoản nợ của Mỹ nay đã lên tới 106% Tổng sản lượng GDP nên ai cũng nói tới lời cảnh báo của các kinh tế gia RRR.

Chúng ta cần tìm hiểu tương quan nhân quả của hai khái niệm: gánh nợ cao là nguyên nhân của tăng trưởng thấp, hay ngược lại, vì tăng trưởng thấp mà quốc gia mắc nợ nhiều hơn? Ta chưa có câu trả lời dứt khoát vì qua 10 công trình nghiên cứu bằng kinh toán học do bộ ba RRR khảo sát, có ba trường hợp tăng trưởng thấp mới dẫn đến nợ cao và bảy công trình kia lại kết luận ngược: nợ cao làm giảm đà tăng trưởng. Khó hiểu!

Kinh tế học nhập môn dạy là Chính quyền đi vay khi bị bội chi ngân sách, chi nhiều hơn số thu nhờ thuế khóa. Khi đi vay thì ngân sách phải trả tiền lời, nếu công trái tăng thì tiền lời cũng tăng và khoản chi đó làm chính quyền không dùng vào việc có thể đem lại lợi ích kinh tế cao hơn. Câu hỏi đáng quan tâm hơn sẽ là: nếu chính quyền không thu đủ thuế để trả nợ thì sao? Người ta gặp rủi ro trễ nợ, vỡ nợ và nguy hiểm nhất là bị phá sản.

Chuyện nợ nần của Hoa Kỳ chưa tới độ nguy kịch đó. Tiền lời đi vay chỉ chiếm 6% của ngân sách liên bang hiện nay và dù có tăng thì cũng chưa thể dẫn tới tình trạng vỡ nợ, hoặc phá sản.

Nhưng, kinh tế cũng là chính trị, nếu Quốc hội không cho phép vay thêm, tức là nâng mức vay tối đa, thì quốc gia có thể rơi vào tình trạng “vỡ nợ kỹ thuật” hay technical default. Nước Mỹ không vỡ nợ, nhưng có thể mất điểm tín nhiệm trên thị trường trái phiếu và phải trả phân lời cao hơn khi Quốc hội không nâng trần nợ làm Chính quyền Liên bang phải đóng cửa dăm ba ngày. Chuyện ấy đã xảy ra năm 2011 và nhất thời tạo ra tâm lý khủng hoảng nhờ sự tố giác của các chính khách. Rồi thôi! Nước Mỹ chưa vỡ nợ, chưa chết….

Bây giờ, ta lật qua một trang khác của ngân sách liên bang.

Đấy là một bảng kết toán chi tiêu chia làm ba loại: các khoản dự chi bắt buộc, dự chi nhiệm ý và tiền lời (thuần) phải thanh toán. Dự chi bắt buộc là các mục chi đã được quyết định từ nhiều năm trước, như An sinh Xã hội Social Security, Bảo dưỡng Y tế Medicare và các chương trình trợ cấp lợi tức. Dự chi nhiệm ý là các khoản chi được thảo luận và biểu quyết hàng năm. Còn tiền lời thuần là kết số của các khoản lời phải trả trừ đi các khoản tiền lời thu vào.

Ta nên chú ý đến yếu tố “dự chi” - dự trù chi tiêu - và các cuộc tranh luận trên chính trường thường tập trung vào các khoản dự chi nhiệm ý được biểu quyết hàng năm. Đa số tới 56% ngân sách liên bang Mỹ là các khoản “bất khả xâm phạm”, dự chi bắt buộc. Các khoản nhiệm ý trị giá một ngàn 200 tỷ cho tài khóa 2016 lại mất hơn phân nửa cho ngân sách quốc phòng, một yêu cầu khác cho sức mạnh quân sự của nước Mỹ. Chúng ta bước qua lãnh vực ngoài kinh tế…

Quốc hội Mỹ có cơ quan Congressional Budget Office chuyên nghiên cứu về ngân sách và nhiều lãnh vực tài chánh khác với dự đoán làm nền tảng cho các quyết định của Quốc Hội. Nói đến dự chi ngân sách, những ai theo dõi đều thấy CBO thường dự đoán sai, nói cho nhẹ là thiếu chính xác, khi thì về các khoản dự thu thuế khóa khi thì về dự chi. Bài này không đi vào chi tiết chuyên môn của cách CBO dự phóng, nhưng chú ý tới sự kiện CBO vừa dự đoán bội chi ngân sách liên bang sẽ tăng từ 2,9% Tổng sản lượng GDP cho tài khóa 2019 lên 5% GDP cho tài khóa 2027. Lý do là mức tăng quá mạnh của hai mục chi về An sinh Xã hội và Y tế, khiến 10 năm nữa khoản nợ công chúng của chính quyền liên bang sẽ lên tới 25 ngàn tỷ: tăng một phần tư trong 10 năm.

Cũng theo dự báo đó của CBO, tiền lời trung bình của nhiều khoản nợ có hạn kỳ dài ngắn khác nhau sẽ là 3,4% vào năm 2017.

Nhớ tới những dự đoán sai của CBO, ta nên tự nêu câu hỏi rằng nếu lãi suất hay phân lời lại cao hơn số trung bình 3,4% nói trên thì chuyện gì xảy ra? Tiền lời cao hơn sẽ thu hẹp khả năng dự chi nhiệm ý, nghĩa là sẽ giảm các mục chi về quốc phòng. Về chuyên môn thì mỗi khi lãi suất tăng 50 điểm căn bản (0,50%) thì số chi nhiệm ý sẽ giảm 10% vào năm 2017!

Viễn ảnh chi thu của Hoa Kỳ quả lá đáng quan tâm vì ảnh hưởng đến khả năng bảo vệ sức mạnh của siêu cường, trong kịch bản “bình thường” là không lãnh thêm một trận chiến khác! Vì vậy, nghiên cứu về ngân sách Hoa Kỳ cũng là tìm hiểu về sức mạnh của nước Mỹ.

Và Chính quyền chỉ có hai giải pháp, tiếp tục tăng chi và đi vay với tiền lời thanh toán sẽ gia tăng; hay tăng thu bằng giải pháp tăng thuế. Cuộc tranh luận về việc giảm thuế của Chính quyền Donald Trump nằm trong khung cảnh đó.

Khi nhắc tới dự báo tăng chi của CBO cho hai mục bắt buộc là An sinh và Y tế, ta cũng không quên hiện tượng lão hóa dân số với thế hệ “hậu chiến” – sinh từ 1946 tới 1964 – sẽ ào ạt về hưu và cần nhiều dịch vụ hơn mà lại đóng góp ít hơn cho ngân sách.

Nhưng người ta còn một cách khác để lượng giá khả năng tăng chi của nước Mỹ: không căn cứ trên lợi tức hàng năm, thí dụ như tính bằng Tổng sản lượng GDP, mà so sánh với tài sản (hay tích sản, nói theo ngôn từ kế toán”. Tài sản là nguồn tài nguyên mà quốc gia có thể sử dụng để trang trải nhu cầu chi tiêu. Nguồn tài nguyên đó có thể là tài sản thuần của các gia đình (household networth) như nhà cửa, đất đai và trị giá cổ phiếu hay chứng khoán, lên tới gần 90 ngàn tỷ. Nhưng nguồn tài nguyên đó còn có nhiều loại tiềm ẩn, có khả năng khai thác hay sử dụng khi cần. Thí dụ dễ hiểu là trữ lượng dầu khí nằm dưới lòng đất, thay vì kết toán tài sản của các gia đình.

Nếu theo tiêu chuẩn nợ nần so với lợi tức (hay GDP), Hoa Kỳ không đến nỗi tệ và khá hơn Nhật Bản, Hy Lạp, Ý, Bồ Đào Nha, Singapore và Vương quốc Anh. Nếu so nợ nần với tài sản thì Hoa Kỳ vẫn còn rất mạnh – và khả năng đi vay rất nhiều – vì giàu gấp ba lần rưỡi quốc gia đứng hạng nhì là nước Nhật: tài sản của Nhật trị giá khoảng 24 ngàn tỷ đô la. Con số của Tầu thì khó ai biết vì là bí mật quốc gia và có cái dạng của một sợi dây thung!

Chính là cách nhìn rộng mở như vậy mới khiến người ta hiểu rằng chuyện nợ nần của Mỹ là đáng quan tâm, nhưng chẳng vì vậy mà lại thu hẹp khả năng kinh tế của siêu cường này.

Siêu cường Hoa Kỳ còn có một thế mạnh khác là… siêu ngoại tệ. Đồng bạc Mỹ là ngoại tệ được các nước sử dụng phổ biến nhất nên họ tồn trữ tài sản bằng Mỹ kim và Hoa Kỳ vẫn còn khả năng…. đi vay thiên hạ nhiều hơn các nước khác! Vì sao lại có chuyện bất công ấy?

An ninh và kinh tế thế giới cho thấy thị trường Hoa Kỳ vẫn là hầm an toàn nhất cho tư bản của các nước. Họ chẳng có giải pháp nào khá hơn khi nhìn vào Liên u và sự bất trắc của khối Euro. Liên bang Nga thì chưa ra khỏi khủng hoảng vì nạn dầu khí sụt giá. Nhật Bản là xứ giàu có mà mắc nợ nhiều nhất. Ấn Độ vẫn chỉ là một nước nghèo, dù có đà tăng trưởng cao. Thị trường Trung Quốc thì còn thiếu an toàn hơn vậy, với đà tăng trưởng suy giảm, trái bóng địa ốc sẽ bể và nền kinh tế quá lệ thuộc vào xuất cảng.

Giới đầu từ mà nhìn quanh thì cũng vẫn thấy thị trường Mỹ là an toàn, và quá sâu rộng nên có thể tiếp nhận cả trăm tỷ ra vào hàng ngày hàng giờ. Dù có ghét thì chọn mặt gửi vàng cho cái xứ đáng ghét này vẫn là tốt hơn cả! Khi bất ổn gia tăng thì quy luật nước chảy chỗ trũng sẽ tiếp tục: đem tiền cho Mỹ vay là giải pháp phổ biến cho các nước….

Hàng ngày, chúng ta cứ nghe báo chí bình luận về gánh nợ của Hoa Kỳ. Nhưng bài báo ngay bên cạnh ở trang nhất lại nói đến viêc hạm đội Mỹ đang rẽ sóng ở nhiều nơi trên mặt địa cầu. Khu vực nào cũng cần sức mạnh bảo an của Mỹ và khi dân Mỹ cũng thấy ra nhu cầu đó, thì việc tăng chi hay tăng thuế để duy trì ngân sách quốc phòng vẫn sẽ được giải quyết, dù bất cứ đảng nào kiểm soát Hành pháp và Lập pháp Hoa Kỳ.

Đấy cũng là một cách nhìn về khả năng vay mượn của Hoa Kỳ và về nạn bội chi ngân sách. Không chỉ có chuyên môn kinh tế mà còn có địa dư chính trị và an ninh quân sự….

Thursday, May 4, 2017

Những điều cần phải biết về bọn Việt Cọng bán nước
Author: V0PhiLong Posted on: 2017-05-04
(Trích) Tôi xin mãi được là người Việt Nam (hết trích.)
Nói phét.  Dù bạn có quốc tịch nào, bạn không thể không là người Việt Nam.  Khỏi xin.
(Trích) Đừng chối bỏ tổ quốc của mình, đừng nhận vơ tổ quốc của người khác (hết trích.)
Xạo ke.  Khí phách hàm hồ.  Tiết liệt ngu xuẩn.
Đây là kiều vận của súc sanh cộng phỉ.
Tôi liều mạng, vượt biên.  Tôi tìm đường sống, xuyên qua cái chết.
Một là tôi chết vì bị cộng phỉ bắn, bị cướp biển, bị bão tố, bị chết đói ngoài khơi.
Hai là tôi thoát khỏi cộng phỉ, sống ở nước nào đó.
Đối với tôi: Tổ Quốc Việt Nam mất từ đó.
90 triệu người Việt cứ chửi tôi Vong Bản, quên Tổ Quốc.  - Tổ Quốc nào?
1975, tôi vào tù. Cộng phỉ không nhận tôi là công dân Việt Nam.
Khi vượt biên, tôi không có quốc tịch Việt Nam.
1987, tôi có quốc tịch Mỹ. Mỹ Tổ Quốc duy nhất của tôi.
Không có vấn đề “nhận vơ tổ quốc của người khác.”
Mỹ không là Tổ Quốc của riêng dân tộc nào.  Tất cả là di dân, trừ thổ dân “Indian”.
Mỹ Tổ Quốc của những ai tự nguyện, hoan hỉ, xin vào quốc tịch Mỹ.
Tổ Quốc là nơi chôn nhau cắt rún? - Lỗi thời, chẳng ai biết cái nhau chôn ở đâu.
Con Rồng Cháu Tiên? - Thần thoại hoang đường - Không có Rồng, chẳng có Tiên.
Người Việt là một bộ tộc từ Quảng Đông di cư đến vùng sông Hồng và lập quốc.
Người Việt có tinh thần độc lập cao.  Sau ngàn năm bị đô hộ mà không bị Hán hóa.
Tổ Quốc của ông bà tằng tổ thì phải là Quảng Đông, không phải Việt Nam.
Các thế hệ sau, cho đến nay, Tổ Quốc là Việt Nam, không phải Quảng Đông.
Những người Việt sinh ra tại Mỹ và các thế hệ sau…
Tổ Quốc của họ là Mỹ, nơi họ được sinh ra.  Đó là chân lý.
Ai không chấp nhận chân lý đó, vì họ bất mãn, bất an, chối sự thật.
Ai về VN để sống hưu, vì họ mặc cảm kém cõi, thua thiệt ở Mỹ.
Người gốc Châu Âu, sinh ra ở Mỹ.  Tổ Quốc của họ là Mỹ.
Điều đó đúng cho Canada, Australia, New Zealand, các nước ở nam và trung Mỹ.
Thế chiến II, người Mỹ gốc Đức về Châu Âu đánh Đức Nazi: Đức giết Đức.
Chiến tranh Việt Nam hơn 20 năm: Việt giết Việt.
Lúc đó, thằng đạo đức giả, xạo ke nào nói: Tôi không đánh, không giết người Việt?
Cộng phỉ kiều vận để người Mỹ gốc Việt đem tiền về xây dựng tổ quốc CS.
Họ sẽ ào ạc về VN để kinh doanh.  Với điều kiện: Kinh doanh có lợi đôi bên.
Cộng phỉ kiều vận người Việt về nước, rồi tìm cách sang đoạt tài sản.
Người Việt khờ khạo về nước làm ăn.  Họ có làm, mà không có ăn.  Họ đi ra tay trắng.
Quá khứ chứng minh: Đừng nghe những gì cộng phỉ nói.  Hãy nhìn cộng phỉ làm.
Chủ nghĩa CS là ảo tưởng. Súc sinh cộng phỉ ảo mộng kiều vận.
Xưa rồi Diễm.  Bỏ đi, súc sanh cộng phỉ.
------ Forwarded Message ------
V0PhiLong
Đừng nghe những gì cộng phỉ nói, hãy nhìn cộng phỉ làm.
Ba điều không thể che dấu được lâu: mặt trời, mặt trăng và sự thật.
Thắng là vua, thua là giặc?  Thua là tội phạm?  Thua là phản quốc?
Người làm ra luật pháp.  Trộm, cướp, hiếp dâm, ở đâu cũng là tội phạm.
Bất đồng chính kiến không phải tội phạm.  Âu, Mỹ, Úc không có tù chính trị.
Các chế độ độc tài, các chính phủ đần độn, có tù chính trị.
Nước Đức chia đôi.  Nước Đức thống nhất.  Không ai phản quốc.
Nam Bắc Mỹ đánh nhau.  Nam Mỹ thua.  Nam Bắc Mỹ là Liên Bang USA.
Nam Bắc Việt Nam chỉ là con cờ trong âm mưu của các cường quốc.
Nam Bắc Việt Nam không làm được 1 cây súng, không làm 1 viên đạn.
Họ đánh nhau bằng phản lực cơ, hỏa tiễn, đại pháo, đại liên của nước ngoài.
VNCH nhận tiền, và vũ khí của Mỹ. VC nhận tiền, vũ khí của Liên Xô Chệt.
VC chống Mỹ cứu nước? Lê Duẫn nói: ta đánh Mỹ, là đánh cho Liên Xô, cho Chệt.
Sau 40 năm, khắp thế giới, cờ cộng phỉ chỉ treo ở Lãnh Sự, Đại Sứ quán.
Cộng phỉ chiếm miền nam. Cộng phỉ bị văn hoá miền nam đồng hóa.
Cộng phỉ chê nhạc VNCH là nhạc sến. Cộng phỉ mê nhạc sến.
Cộng phỉ thắng Pháp ở Điện Biên Phủ? - Đó là Chệt cộng đánh, vũ khí của Chệt.
Cộng phỉ đuổi Tưởng Giới Thạch? - Tưởng mất Hoa Lục, Tưởng phải chẩu.
Cộng phỉ đuổi Nhật? - Nhật đầu hàng Mỹ, không đuổi, Nhật cũng xéo.
Công phỉ là đồng chí với Chệt?  Đồng chí Chệt đánh, Cộng phỉ ôm đầu máu.
Cộng phỉ đuổi Đế Quốc Mỹ? - Mỹ bại trận?
VNCH thua? - Mỹ bỏ VNCH, thì VNCH ngưng chiến đấu
VNCH là phản quốc, bán nước?  VNCH không bán đất, bán biển cho Chệt.
Cộng phỉ thắng trận, van lạy Đế Quốc Mỹ (bại trận) giúp cộng phỉ chống Chệt.
Ai thân cộng, hợp tác, hòa giải, hòa hợp với cộng phỉ, đó là sự chọn lựa của họ:
Trần Mạnh Tường, Dương Quỳnh Hoa, Nguyễn Hộ, Trần Độ, Nguyễn Thị Bình,
Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Minh Cần, Võ Văn Kiệt, lm Chân Tín, Hoàng Quỳnh…
Khi họ mở mắt, họ biết đã bị cộng phỉ lừa, đó là lúc họ ôm hận nghìn năm.
Chống Cộng là Chống Cộng.  Không có vấn đề Chống cộng cực đoan
Cộng phỉ lừa bịp, ngụy trang các nhà tù chung-thân-khổ-sai học-tập-cải-tạo
Bị VC cầm tù, được Mỹ cho sống nhân đạo: bọn dại dột nói đi học-tập
Kẻ đần độn, u mê, gọi thằng chó đẻ Hồ chí Minh bác Hồ.
------ Forwarded Message ------
Lượm lặt trên Internet.
Bạn có thể lừa dối vài người trong mọi lúc.  Hoặc lừa dối mọi người trong vài lúc.
Bạn không thể lừa mọi người trong mọi lúc. (Abraham Lincoln)
05: Đ/Tá Bùi Tín sáng mắt.  Đ/Tá Đào Văn Nghệ - Tr/T Trần
06: Lisa Phạm, cháu của tướng Trần Độ chửi cộng phỉ
07: Nguyễn Vũ Sơn - Họ không còn sợ hãi cộng phỉ - ĐMCS
09: Australia - Tàu chiến của cộng phỉ - xin tỵ nạn - bị đuổi về VN 2015
10: Kha Lương Ngãi: Cộng Sản chỉ gây ra tội lỗi và đau khổ
13: 1965-1973 - CS đánh cho Mỹ cút - 2015: 71% dân VN muốn Mỹ trở lại VN
14: Hối hận theo Cộng phỉ 3 đời mà vẫn bị Cộng phỉ cướp sạch.
15: Người Việt gốc Hoa ít học chửi đảng Cộng phỉ đỉnh cao trí tuệ”.
------ Forwarded Message ------
Lượm lặt trên Internet.
Miệng lưỡi của cộng phỉ: tráo trở, lật lọng, bịp bợm, lưu manh.
Tin cộng sản, là không có Đầu. Theo cộng sản, là không có Tim. (Putin)
01: Hồ tặc xuống tầu làm bồi cho Tây, cộng phỉ gọi là “tìm đường cứu nước
02: Giật mìn, pháo kích, khủng bố, cộng phỉ gọi là “hoạt động cách mạng
03: Dùng vũ lực súng đạn giết dân, cộng phỉ gọi là “giải phóng nhân dân
04: Cướp đất của các điền chủ, cộng phỉ gọi là “cải cách ruộng đất
05: Cướp đất toàn dân, cộng phỉ gọi là “khu quy hoạch
06: Đập phá nhà dân oan, cộng phỉ gọi là “giải phóng mặt bằng
07: Cướp tài sản của các thương gia, cộng phỉ gọi là “đánh tư sản
08: Cấm người dân buôn bán, cộng phỉ gọi là “cải tạo thương nghiệp
09: Bỏ tù quân nhân, công chức của VNCH, cộng phỉ gọi là “học tập cải tạo
10: Vượt biên bị bắt, cộng phỉ gọi là “thằng phạm, con phạm
11: Vượt biên thành công, cộng phỉ bợ đở gọi họ là “khúc ruột ngàn dặm
12: Để sống sót cộng phỉ trở lại với nền kinh tế tư bản, cộng phỉ gọi là “đổi mới
13: Độc tài, bóc lột, cộng phỉ gọi là “kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
14: Bỏ tù người tranh đấu cho tự do, dân chủ, cộng phỉ gọi họ là “phản động
15: Sách báo Dân chủ, cộng phỉ gọi là “tài liệu phản động, công cụ khủng bố
16: Chống Chệt, cộng phỉ nói: “có sai phạm về tư tưởng và nhận thức chính trị
17: Biểu lộ lòng yêu nước, cộng phỉ nói: “gây hận thù các dân tộc anh em’’
18: Ra trát đòi người nào đó để điều tra, giam cầm, cộng phỉ gọi là “giấy mời
19: Quốc-Hội cộng phỉ: là lũ hèn hạ, chỉ biết gật gù, cúi đầu, dạ-dạ, vâng-vâng.
20: Kinh tế thê thảm, cộng phỉ gọi là “quá độ lên XHCN
21: Công-An cộng phỉ: là bầy chó trung thành, dùng để cướp bóc, khủng bố
22: Đánh nguời, khổ hình, cộng phỉ gọi là “điều tra
23: Hối lộ, cộng phỉ gọi là “trao, nhận quà trên mức tình cảm
24: Xâm lăng Kampuchea, cộng phỉ gọi là “nghĩa vụ quốc tế
25: Thời chiến, các bà đần độn nuôi phiến loạn, cộng phỉ tâng bốc là “mẹ chiến sĩ
Bây giờ, cộng phỉ cướp ruộng của mẹ chiến sĩ, mẹ chiến sĩ sáng mắt chưa?
26: Cộng phỉ gọi "quần chúng tự phát" là các hoạt động trong bóng tối như:
Ném chất dơ vào nhà dân, khiêu khích gây chuyện tại nhà thờ, chùa chiền.
Phương tiện thủ tiêu bằng nạn lưu thông, ngộ độc, thuốc quá liều, tự sát.
27: Cộng phỉ Trường Chinh đấu tố mẹ:
Tao với mi không mẹ không con mà chỉ là kẻ thù giai cấp của nhau.
Tổng-bí-thư Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu sinh 9/2/1907 tại
Làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, chết 1988 tại Hà Nội
- Cháu của Đặng Xuân Khu Đặng Xuân Hợp trộm, bị cảnh sát Japan bắt.