Saturday, June 10, 2017

Mặc cảm của sự Dốt Nát & "cái bằng tiến sĩ"
Author: Nguyễn LiệuSource: Khaiphong.net Posted on: 2017-0-10
Bác sĩ TônThất Tùng
Năm 1976, chấm dứt chiến tranh, bác sĩ Tôn thất Tùng, một bác sĩ giỏi, học tại Pháp, kẹt trong kháng chiến, rồi phải phục vụ cho Việt cộng, đã mạnh dạng viết bài báo đề nghị bác sĩ Việt cộng được đào tạo trong chiến tranh, phải thi và học lại. Nếu không học lại hoặc học mà thi không đậu, thì không cho hành nghề vì không đủ tiêu chuẩn của một bác sĩ.
Tôn thất Tùng, một đảng viên cộng sản, cũng phải đợi gần 80 tuổi mới liều mạng nói một sự thật mà đã cắn răng chịu đựng gần hết cuộc đời. Bởi vì chính ông đã chứng kiến đã đào tạo những đảng viên trung kiên, dốt nát trong 6 tháng trở thành bác sĩ y khoa, đáng lẽ phải đào tạo từ 6 năm đến 15 năm sau khi tốt nghiệp trung học.
Tại sao không gọi y tá mà phải gọi bác sĩ. Đó là đặc điểm của ….
Dốt nhất, nghèo nhất, ít suy nghĩ nhất, ngu nhất, là những yếu tố căn bản của đảng viên trung kiên cộng sản. Mác và Engels quan niệm, con người ngu nhất, nghèo nhất là con người trung thành nhất. Giai cấp bần cố nông, công nhân thấp nhất, là giai cấp tiên phong của đảng cộng sản, ngoài ra là những giai cấp phản động, muốn dùng chúng phải cải tạo chúng theo giai cấp tiên phong.
Từ ngày có đảng cộng sản Việt Nam, người có học bị xem là kẻ thiếu trung thành, kẻ phản bội, cho nên lãnh tụ Mao trạch Đông quá mặc cảm dốt nát đã nói thẳng thừng "Trí thức không bằng cục phân". Câu nói đó trở thành một nguyên lý cho đám cán bộ lãnh đạo cộng sản. Câu nói của Mao trạch Đông đó làm cho người lãnh đạo cộng sản tự tin rằng mình có giá trị, có bản lĩnh, có đạo đức cách mạng vô sản, vì mình không phải là trí thức, tức mình hơn cục phân. Nhiều lần tôi đã nói, nếu Hồ chí Minh là một trí thức như cụ Phan châu Trinh, như Nguyễn thế Truyền,… thì không bao giờ được làm bí thư của đảng cộng sản Đông dương. Thiếu bằng cấp, dốt nát, là một lợi khí tốt để cho Hồ chí Minh bước lên nấc thang lãnh đạo đảng cộng sản.
Tôi, người viết bài này, đã chứng kiến trước mặt, cái cảnh thê thảm của người lỡ có bằng cấp, muốn được đảng tin không biết làm sao xóa bỏ cái lỡ hiểu biết của mình. Cố nhiên họ một mặt không dám đọc sách, nhất là sách ngoại ngữ, vì giai cấp bần cố nông, bọn ăn mày ăn xin ngoài chợ, không làm chuyện đó. Hình thức thì có phần dễ, họ ăn mặc rách rưới, để thân thể cho dơ dáy, ngồi cạnh họ phải có mùi hôi của dân lao động chân chấm tay bùn. Ngôn ngữ rất khó, họ sợ hai chữ lãng mạn của lớp tiểu tư sản. Ví dụ họ không dám nói "trăng đẹp, hoa hồng đẹp, Tây Thi đẹp …" mà thường nói cho nhiều người nghe "đống rơm của bác đẹp quá, các luống cày đẹp quá, hố ủ phân tuyệt đẹp. Bác (Hồ chí Minh ) cầm cây cuốc đẹp quá, chú Đồng nhỗ cỏ đẹp quá… chị nuôi bản lĩnh quá, đẹp quá, chị du kích đứng gác đẹp quá v.v…" Bởi vậy Chế Lan Viên mới viết "Một lỗ hầm chông đẹp hơn vạn đoá hoa hồng", Tế Hanh viết "Năm nay anh trồng cây bưởi góc nhà". Tôi chắc chắn trên 100% những người có học, không cần nhiều, cỡ lớp đệ tứ niên ngày xưa trở lên, nếu kẹt trong chế độ cộng sản từ 1945 đến 1975 đều ít nhiều phải đóng kịch như thế (Các thầy Hoàng Tuỵ, Lê trí Viễn, Nguyễn thiện Tụng, Phan Thao (con cụ Phan Khôi) Trần tế Hanh … đã qua thời kỳ cố lột xác như thế. Nếu không lột xác thì không được vào đảng)
Sau năm 1975, hết chiến tranh, cộng sản về thành, nhất là thành phố Sài gòn. Đám cán bộ trung cấp và cao cấp từ Bắc vào, từ núi xuống, từ bưng biền ra, chới với trước nếp sống có văn hóa của người dân miền Nam, chế độ cũ. Sự ngớ ngẩn dốt nát lố bịch của đám cán bộ đó đã làm cho dân chúng miền Nam khinh khi, và đã có nhiều chuyện tiếu lâm ngày nay vẫn còn truyền.
Từ chỗ học tập làm cho giống lớp bần cố nông để vào đảng, nay cũng những cán bộ đó học tập làm cho giống lớp tiểu tư sản, lớp có tiền, lớp trí thức.
Bắt chước cách ăn mặc của lớp tiểu tư sản thì dễ, chỉ cần trước hết, liệng ném cái nón cối, bỏ hẳn đôi dép đế xe hơi gọi là "đôi dép bác Hồ" (đế xe hơi làm đôi dép, nguyên là của cu li kéo xe, người đổ thùng cầu tiêu,… họ quá nghèo, không có tiền mua đôi giày, nên lượm đế xe hơi bỏ làm giầy, và những người này là trung kiên của đảng cộng sản, là cán bộ lãnh đạo đảng cộng sản sau đó. Cụ Hồ bắt chước họ, cho giống họ, nên dùng đôi dép đó chứ Hồ chí Minh không sáng chế ra đôi dép đó, thế mà gọi là dép bác Hồ bác cũng nhận bừa, không cần đính chính, đó cũng là tính chất của…).
Họ, cán bộ cộng sản, xa lánh ngay lớp bần cố nông nghèo đói. Ngày trước cán bộ cộng sản nếu kể lai lịch cha mẹ ông bà có người đói, người làm mướn, người ăn xin ăn mày, thậm chí có người chết đói, thì họ rất hãnh diện vì họ thuộc thành phần tốt nhất, vô sản nhất, lành mạnh nhất, trung kiên nhất. Ngày đó nếu cán bộ nào có cha mẹ, bà con, ông bà, là người khoa bảng, làm quan, thì xem như kẻ phản bội. Bởi vậy dù cố gắng tới mức nào, Phạm Tuyên con quan thượng thư Phạm Quỳnh, Bùi Tín con cụ thượng thư Bùi bằng Đoàn, Hoàng Tụy con cháu tướng Hoàng Diệu, nhiều lắm là làm nhạc sĩ, làm báo, làm giáo sư khoa học, không bao giờ được vào hàng ngũ cán trung kiên của đảng.
Từ ngày họ bắt chước người tiểu tư sản người trí thức thì họ cố tập cho ra lớp người này. Về ăn mặc, nói năng, kiểu cách ăn chơi, tiêu tiền, lễ nghi v…v.. dù sao cũng dễ bắt chước nhất là bắt chước sự ăn chơi sa đọa thì rất dễ. Nhưng bắt chước có trình độ hiểu biết thì thật là khó, gần như vô vọng.
Để khắc phụ sự khó khăn đó, đảng chủ trương cho học tại chức, học không cần đến trường, học không cần đọc sách, học không cần làm bài, và một năm có thể ghi danh vài ba lớp. Phải cần 12 năm để học hết trung học, đảng cho học hai năm hết trung học. Bằng cử nhân bằng tiến sĩ cũng vậy cũng học tại chức.
Phe chiến thắng mà bị dân chúng chê dốt, đó là điều đau khổ nhất của Việt cộng. Đó là lý do bằng tiến sĩ mọc lên như nấm. Thêm vào đó, phong trào thi đua tham nhũng phát triển mạnh. ‘Ngành ngành tham nhũng, người người tham nhũng’, thì bằng cấp không cần ghi danh chờ thời gian nữa, mà có ngay, nếu có số tiền qui định.
Cán bộ cộng sản, nhà cửa có rồi, xe cộ có rồi, tỳ thiếp có rồi, bỏ nón cối, bỏ áo lãnh tụ, bỏ đôi dép Bác Hồ, ăn mặc kiểu tân tiến, kiểu Mỹ, tiệc tùng, uống rượu, cà phê, uống trà, nhảy đầm, theo kiểu bọn quí phái phong kiến ngày xưa…. Nhưng còn thiếu trình độ học vấn để nông dân, dân lao động không khinh bỉ "dốt mà làm sang" nên phải có mảnh bằng. Đã mua thì chịu tốn mua thứ cao nhất tốt nhất, và do đó bằng tiến sĩ đảng bán đắt như tôm tươi.
Một đề nghị thực tế.
Tôi hoàn toàn đồng ý với đảng cộng sản ồ ạt sản xuất bằng cấp để đánh tan thành kiến "cộng sản là bần cố nông". Trước năm 1954, dân chúng ở Quảng ngãi có ý khinh thường đám cán bộ đảng, thường nói chúng là "bọn bần cố nông". Không riêng gì ở Việt nam, ở Cuba, Bắc Hàn ngày nay tiến sĩ bác sĩ đầy đường đầy sá, không làm gì cho hết. Bởi vì học rút ngắn thời gian, hạ thấp chương trình, và ưu tiên cho đảng viên không có thì giờ đi học và không biết chữ, hoặc biết sơ sơ, nhưng cần có bằng tiến sĩ.
Để khỏi gây tác hại cho dân, chúng, tôi đề nghị, đảng không nên khuyến khích đảng viên cán bộ đảng nhận bằng tiến sĩ về y học, khoa học. Vì hai loại này có thể đưa đến chỗ giết người vì không thực học.
Tôi còn nhớ rất rõ năm 1984, ra khỏi tù tôi về Saigon. Con tôi bị sốt tôi nghi là sốt xuất huyết tôi đem vào bịnh viện nhi đồng. Theo lời khuyên chân thành và khẩn cấp của dân chúng, tôi thức trắng đêm bên giường bịnh, để canh chừng bác sĩ. Lúc đó bịnh viện Sài gòn có hai loại bác sĩ, một loại của chế độ cũ còn lại, một loại tập kết mới về, loại mà bác sĩ Tùng đã cảnh báo cho dân chúng biết. Tôi canh chừng nếu bác sĩ tập kết về khám bịnh hoặc chích thuốc cho con tôi, thì lập tức tôi cản không cho, và tôi cũng canh chừng nếu đứa nhỏ không sống được tôi phải bảo vệ xác chết của nó cho được toàn vẹn, đó là lời khuyên của đồng bào miền Nam.
Cấp bằng tiến sĩ không gây tác hại cho dân chúng, nên chọn những loại như văn chương nghệ thuật, phong tục, v..v… càng viễn vông càng mơ hồ càng tốt. Tôi rất phục Tô Huy Rứa, tiến sĩ dốt nhất ở Việt Nam biết thân phận mình nên không chọn tiến sĩ y khoa hay tiến sĩ cầu cống, cũng không chọn tiến sĩ kinh tế, tiến sĩ luật, tiến sĩ giáo dục … vì những thứ này dễ lòi đuôi chuột khi đụng đến thực tế. Ông chọn tiến sĩ "xây dựng đảng", không làm hại người nào.
Đảng nên xem bằng tiến sĩ như phẩm hàm cửu phẩm bát phẩm ngày xưa triều đình cho các viên chức đúng tiêu chuẩn. Những chức này không làm hại người nào, chỉ để gọi danh xưng mà thôi. Người ta thường gọi tiến sĩ về ngành gì ví dụ ông Nguyễn văn A tiến sĩ kinh tế, ông Nguyễn văn B tiến sĩ toán học v..v….
Những tiến sĩ sau đây vô hại nên phát cho đảng viên:
Tiến sĩ văn chương thơ Bác,
Tiến sĩ ca dao kháng chiến,
Tiến sĩ mưa phùn gió Bấc,
Tiến sĩ cá thài bai,
Tiến sĩ buổi chiều vàng,
Tiến sĩ đồng lúa chín…..
Tôi ví dụ như vậy để các ông tiến sĩ không làm cho dân chúng lo lắng. Bởi vậy khi tôi nghe đảng ra quyết tâm phấn đấu trong 10 năm nữa sẽ đào tạo 20 ngàn tiến sĩ, tôi tin tưởng việc này đảng làm được và làm hơn có thể đưa lên gấp 10 tức 200 ngàn tiến sĩ.

Nguyễn Liệu

Tuesday, June 6, 2017

“Chết bởi Trung Quốc”: cuốn sách làm Tổng thống Donald Trump thức tỉnh.
Source: Blog BANMAIHONG Posted on: 2017-06-06
Phần 1: Sát thủ tàn độc nhất hành tinh
Vừa đắc cử xong, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã bổ nhiệm ngay tác giả quyển sách “Chết bởi Trung Quốc” (Death By China), giáo sư Peter Navarro làm cố vấn kinh tế tối cao. Ông Trump cho biết bản thân ông đã nghiền ngẫm rất kỹ và rất thích quyển sách này. Chúng ta hãy cùng nghiên cứu từng phần quyển sách này để xem tại sao nó lại gây chấn động như thế.


Giáo sư Peter Navarro
Đó không phải là sự chỉ trích Trung Quốc, đó là sự thật
Chết dưới tay Trung Quốc. Đây là hiểm nguy rất thực mà giờ đây tất cả chúng ta phải đối mặt khi quốc gia đông dân nhất và nền kinh tế sẽ sớm trở thành lớn nhất thế giới này đang nhanh chóng biến thành sát thủ tàn độc nhất hành tinh.
Về mặt an toàn của người tiêu dùng, các doanh nhân vô đạo đức Trung Quốc đang làm tràn ngập thị trường thế giới với một loạt sản phẩm, thực phẩm, dược phẩm không gây chết người thì cũng cực kỳ có hại, gây ung thư, dễ gây cháy, độc.
• Về đồ dùng cho trẻ em, những sản phẩm nguy hiểm này có từ vòng tay, dây chuyền và đồ chơi chứa chì đến đồ ngủ dễ cháy, áo quần độc hại.
• Ở tiệm thuốc gần nhà hay trên mạng, ta có thể tìm thấy tất cả cách thức “chữa trị” mà thực ra là giết người – từ viên aspirin nhiễm độc, Lipitor nhái, Viagra giả trộn với strychnine đến thuốc heparin phá thận và vitamin chứa đầy độc tố arsen.
• Nếu thích chết do nổ, hỏa hoạn hay điện giật, bạn có thể chọn trong một đống thứ từ ổ cắm nối dài, quạt, đèn bẫy người, điều khiển từ xa quá nhiệt, điện thoại di động dễ nổ và máy nghe nhạc công suất lớn tự bốc cháy.
• Dĩ nhiên, nếu vừa đói vừa muốn tự tử, ta luôn luôn có thể thưởng thức cá, trái cây, thịt hay rau nhập khẩu từ Trung Quốc ngấm ngon lành các kiểu kháng sinh bị cấm, vi khuẩn gây thối rữa, kim loại nặng, hay thuốc trừ sâu bất hợp pháp.
Ngay cả khi hàng nghìn người thực sự chết do sự tấn công dữ dội này của sản phẩm rác rưởi và chất độc của Trung Quốc, nền kinh tế Mỹ và công nhân của nó đang chịu đựng “cái chết không kém phần đau thương hơn của nền tảng sản xuất của Mỹ.”


Top 10 loại thực phẩm giả độc hại của Trung quốc tuyệt đối phải tránh xa
Trên mặt trận kinh tế này, nhãn hiệu quái đản “Chủ nghĩa Tư bản Nhà nước” theo kiểu cộng sản của Trung Quốc đã hoàn toàn xé bỏ những nguyên tắc của cả thị trường tự do và thương mại tự do. Thay vào đó, “các nhà vô địch quốc gia” được nhà nước chống lưng của Trung Quốc đã triển khai một hỗn hợp vũ khí của chủ nghĩa con buôn và bảo hộ để lần lượt vặt hết việc làm này đến việc làm khác, từng bước một, khỏi những ngành công nghiệp của Mỹ.
Vũ khí hủy diệt việc làm” của Trung Quốc bao gồm trợ cấp xuất khẩu bất hợp pháp, giả mạo tràn lan sở hữu trí tuệ của Mỹ, bảo vệ môi trường lỏng lẻo một cách tệ hại, và sử dụng phổ biến lao động nô lệ. Tuy thế, trung tâm của chủ nghĩa con buôn Trung Quốc là tiền tệ bị thao túng một cách vô liêm sỉ đã gây khó khăn rất lớn cho các nhà sản xuất Mỹ, kích thích điên cuồng xuất khẩu của Trung Quốc, và dẫn đến trái bom hẹn giờ thâm hụt thương mại Mỹ – Trung gần một tỉ đô-la một ngày.
Trong khi đó, “phí nhập cuộc” cho bất cứ công ty Mỹ nào muốn leo qua “Vạn Lý Trường Thành Bảo hộ” của Trung Quốc và bán hàng vào thị trường nước này không chỉ là giao nộp công nghệ của họ cho đối tác Trung Quốc, các công ty Mỹ còn phải chuyển cơ sở nghiên cứu và phát triển sang Trung Quốc, theo cách đó đã xuất khẩu “nguồn sữa mẹ” tạo ra việc làm tương lai của Mỹ cho đối thủ thù địch.
Cho đến nay hàng triệu việc làm trong ngành sản xuất của Mỹ đã bị mất đi trong sự nhạo báng thương mại tự do của Trung Quốc, còn chính công nhân áo xanh Mỹ cũng đã trở thành một loài có nguy cơ tuyệt chủng. Hãy xem xét những điều sau đây:
• Từ khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới vào năm 2001 và hứa hẹn giả dối chấm dứt thực hiện chủ nghĩa con buôn và chủ nghĩa bảo hộ, các ngành may mặc, dệt và đồ gỗ của Mỹ đã thu nhỏ lại chỉ còn một nửa – riêng việc làm trong ngành dệt đã giảm 70%.
• Những ngành quan trọng khác như hóa chất, giấy, thép và vỏ xe cũng bị bao vây tương tự, trong khi đó việc làm trong ngành sản xuất máy tính và điện tử công nghệ cao của chúng ta đã giảm hơn 40%.
Khi chúng ta đã mất hết việc làm này đến việc làm khác, nhiều người Mỹ vẫn tiếp tục nhầm lẫn gắn sản xuất Trung Quốc với những sản phẩm rẻ tiền, phẩm chất thấp như giày dép và đồ chơi. Nhưng thực ra, Trung Quốc đang tiến lên trong “chuỗi giá trị” và thành công trong việc chiếm lấy thị trường của nhiều ngành thu nhập tốt nhất của Mỹ – từ xe hơi và hàng không vũ trụ đến thiết bị y tế tiên tiến.
Với sự hỗ trợ to lớn của chính phủ, các công ty Trung Quốc đang ráo riết lũng đoạn các thị trường được gọi là ngành “xanh” như ô tô điện, năng lượng mặt trời, và năng lượng gió. Hiển nhiên, đó chính là những ngành các chính khách Mỹ rất thích rêu rao như là các nguồn mới tạo ra việc làm tốt nhất của Mỹ.
Chẳng hạn, trên mặt trận năng lượng gió, Trung Quốc hiện nay dẫn đầu thế giới về sản xuất tua-bin gió và thật mỉa mai trong cả chủ nghĩa bảo hộ. Vì ngay cả khi các công ty được nhà nước trợ cấp của Trung Quốc làm tràn ngập thị trường thế giới với tua-bin của họ, các nhà sản xuất nước ngoài như General Electric đóng tại Mỹ, Gamesa của Tây ban nha, và Suzlon của Ấn Độ bị cấm đấu thầu các dự án ở Trung Quốc do chính sách “Chỉ mua hàng Trung Quốc”.
Một trong những hậu quả nguy hiểm nhất từ sự nổi lên của Trung Quốc như là “công xưởng” không thể tranh chấp của thế giới là sự phàm ăn ngày càng tham lam năng lượng và nguyên liệu của trái Đất. Để nuôi cỗ máy sản xuất của mình, Trung Quốc phải tiêu dùng một nửa xi-măng, gần một nửa lượng thép, một phần ba đồng, và một phần ba nhôm của thế giới.
Hơn nữa, vào năm 2035, nhu cầu dầu của chỉ riêng Trung Quốc sẽ vượt tổng sản lượng dầu hiện nay của toàn thế giới.
Đây là thói phàm ăn chết người. Vì để hỗ trợ cho thói phàm ăn này, các viên chức chính quyền Trung Quốc đã leo lên chiếc chiếu thực dân đẫm máu ngồi cùng các nhà độc tài sát nhân và các chế độ tàn bạo khắp thế giới. Để làm điều đó, các viên chức chính phủ và nhà ngoại giao Trung Quốc đã tiến hành lạm dụng một cách thô bỉ nhất chính sách ngoại giao của Liên Hiệp Quốc mà thế giới từng thấy.
Là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc có thể phủ quyết bất cứ biện pháp trừng phạt nào họ muốn. Trong gần một thập niên nay, những nhà ngoại giao cao cấp Trung Quốc đã dùng quyền phủ quyết của Trung Quốc để mối lái một loạt các giao dịch “đổi máu lấy dầu” và “cưỡng đoạt lấy nguyên liệu”. Hãy xem xét các thực tế sau:
• Để đổi lấy dầu của Sudan, những con buôn quyền phủ quyết Trung Quốc đã ngăn Liên Hiệp Quốc can thiệp vào nạn diệt chủng ở Darfur – thậm chí khi lực lượng quân sự Janjaweed tàn bạo sử dụng vũ khí Trung Quốc để cưỡng hiếp hàng ngàn phụ nữ và giết chết 300.000 người dân Sudan vô tội.
• Những con buôn quyền phủ quyết Trung Quốc cũng ngăn Liên Hiệp Quốc trừng phạt Iran và vị tổng thống bài Do Thái, trúng cử nhờ gian lận, để được tiếp cận các mỏ khí thiên nhiên lớn nhất thế giới. Hành vi này đã mở toang cánh cửa cho phổ biến hạt nhân ở Trung Đông. Nó cũng làm tăng cao khả năng tấn công hạt nhân vào Israel và làm tăng đáng kể nguy cơ vũ khí hạt nhân rơi vào tay các phần tử thánh chiến chống Mỹ.
Sự lạm dụng của Trung Quốc đối với sứ mạng gìn giữ hòa bình của LHQ không còn là những vấn đề riêng lẻ. Có thể nói rằng, chúng là một phần của chiến lược “tiến ra ngoài”, biến Trung Quốc từ một quốc gia từng theo chủ nghĩa biệt lập thành một đế quốc thực dân bành trướng lớn nhất thế giới. Đây là sự mỉa mai không nhỏ cho một quốc gia ban đầu được xây dựng trên những nguyên tắc Mác-xít chống thực dân và từng là nạn nhân đau khổ của Đế quốc Anh và cuộc chiến tranh thuốc phiện trên đất Trung Quốc.
Khắp châu Phi, châu Á, và Mỹ Latin sân sau của Mỹ, nhãn hiệu chủ nghĩa thực dân thế kỷ 21 của riêng Trung Quốc luôn bắt đầu với sự mặc cả hiểm ác này: những khoản cho vay hậu hĩnh, lãi suất thấp để xây dựng hạ tầng đổi lấy nguyên liệu và sự xâm nhập thị trường nội địa.
Dĩ nhiên, một khi đất nước đó cắn phải miếng mồi thực dân này, thay vì dùng lao động tại chỗ, Trung Quốc sẽ mang đến đội quân kỹ sư và công nhân khổng lồ để xây dựng đường cao tốc, đường sắt, cảng và hệ thống viễn thông. Hạ tầng này cả về nghĩa đen và nghĩa bóng mở đường khai thác và vận chuyển nguyên vật liệu. Sau đó gỗ của Cameroon, ma-giê của Congo, thạch cao của Djibouti, mangan của Gabon, uran của Malawi, titan của Mozambique, mo-lyp-đen của Niger, thiếc của Rwanda, và bạc của Zambia quay trở lại các công xưởng của Trung Quốc ở các thành phố như Trùng Khánh, Đông Quan, và Thẩm Quyến. Tiếp theo, như cú đánh kết liễu cuối cùng của chủ nghĩa thực dân, Trung Quốc sẽ bán lại thành phẩm của họ vào thị trường các nước này – xóa bỏ các ngành tại chỗ, đẩy cao tỉ lệ thất nghiệp, và đẩy các thuộc địa mới lún sâu hơn nữa vào đói nghèo.
Tự vũ trang tận răng
Ngay khi Trung Quốc phát triển bằng cái giá mà tất cả các nước còn lại trên thế giới phải trả, họ cũng dùng sự phát triển kinh tế nhanh chóng của mình tài trợ cho một trong những sự tăng cường quân sự nhanh và toàn diện nhất mà thế giới từng chứng kiến. Theo cách này, với tinh thần nhận xét của Lê-nin là nhà tư bản sẽ bán dây thừng dùng để treo cổ chính hắn, mỗi “đô-la Walmart” người Mỹ chúng ta hiện nay chi tiêu vào những thứ nhập khẩu rẻ tiền giả tạo của Trung Quốc vừa là khoản ứng trước cho tình trạng thất nghiệp của chúng ta vừa là khoản tài trợ bổ sung cho một Trung Quốc vũ trang nhanh chóng. Đây chỉ là một vài điểm mà cỗ máy chiến tranh khoa trương đó đang định hình:
• Hải quân và không quân mới được hiện đại hóa có tất cả mọi thứ từ tàu ngầm hạt nhân tàng hình và máy bay phản lực chiến đấu với thiết kế mới nhất của Nga đến hỏa tiễn đạn đạo có thể nhắm chính xác các hàng không mẫu hạm Mỹ trên các đại dương.
• “Lầu năm góc” của Trung Quốc tự tin phát triển các hệ thống vũ khí tiên tiến – trong đó nhiều thứ do tin tặc và gián điệp ăn cắp của chúng ta – để bắn hạ vệ tinh và hệ thống GPS của chúng ta và tấn công bằng đầu đạn hạt nhân vào sâu trung tâm nước Mỹ.
• Không giống như quân đội Mỹ đã kiệt sức và giờ đây dàn mỏng do các cuộc xung đột ở Afghanistan và Iraq, quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc – quân đội lớn nhất thế giới – có cả lực lượng vượt trội và tính sẵn sàng chiến đấu để áp đảo lực lượng của Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan, hay Việt Nam và vẫn còn quá đủ bộ binh để nghiền nát Taliban và giữ gìn hòa bình ở Baghdad nếu nó quan tâm đến.
• Cánh “diều hâu chiến tranh” của quân đội Trung Quốc thậm chí chuẩn bị khả năng ném bom hạt nhân từ vũ trụ mà hầu như không để lại dấu vết. Những vũ khí hạt nhân vũ trụ này đến đúng mục tiêu chỉ trong vài phút ngắn ngủi, quá nhanh và lặng lẽ để đối phó.
Dĩ nhiên, Mỹ không phải là quốc gia duy nhất nên e ngại sự nổi lên của kẻ gây hấn châu Á mới và hùng mạnh này. Những láng giềng ngày càng lo lắng giờ đây đối mặt với nguy cơ tăng lên nhanh chóng từ một kẻ bá quyền châu Á đang lên với chính sách đe dọa chiến tranh và bắt nạt trong các vấn đề từ tiếp cận các tuyến vận tải biển đến tranh chấp lãnh thổ âm ỉ kéo dài.
***
Phần 2: Mùa xuân câm
Cũng ở trong hiểm nguy là hàng trăm triệu công dân Trung Quốc vô tội, những người đối mặt với nguy cơ cực kỳ lớn, từ mô hình tăng trưởng kinh tế với ô nhiễm lan tràn, đến chính trị thần quyền của Đảng Cộng sản cứng nhắc dựa trên giai cấp, và một chủ nghĩa toàn trị như George Orwell mô tả trong tác phẩm “1984”.
Về mặt ô nhiễm, nền kinh tế sản xuất chiếm tỉ lệ cao, dựa quá mức vào xuất khẩu đã biến bầu khí quyển phía trên những trung tâm công nghiệp của Trung Quốc thành đám mây che phủ độc hại lớn nhất thế giới. Hơn 70% hồ, sông, suối chính của Trung Quốc ô nhiễm trầm trọng. Thậm chí một chuyến du lịch xuôi sông Dương Tử, phía trên đập Tam Hiệp, cho thấy kho báu quốc gia nguyên sơ trước đây của Trung Quốc, nơi Mao đã từng bơi qua giờ đây hầu như vắng bóng các loài chim và dấu hiệu của các loài thủy sinh.
Trong khi đó, “thứ xảy ra ở Trung Quốc không ở lại Trung Quốc”. Khi các nhà máy Trung Quốc tạo ra cơn lũ sản phẩm để chất lên giá các cửa hàng của Target và Walmart, các loại tro bụi ô nhiễm không khí cực kỳ độc hại của Trung Quốc cũng bay hơn 6.000 dặm theo các dòng khí đối lưu tầng trên khí quyển đến California, thả các chất thải độc hại xuống dọc đường đi.
Ngày nay, phần lớn mưa acid ở Nhật và Hàn quốc là “Made in China”, trong khi tỉ lệ ngày càng tăng các hạt bụi mịn phát hiện trong không khí các thành phố ở bờ biển phía Tây như Los Angeles cũng xuất phát từ các nhà máy của Trung Quốc.
Về nguy cơ từ xã hội cứng nhắc, dựa trên giai cấp của Trung Quốc, sự thật mỉa mai, cay đắng ở đây là Đảng Cộng sản cầm quyền cai trị không phải là một đảng “Cộng hòa Nhân dân” chân chính mà là một chế độ thần quyền thế tục. Trong khi Mác trở mình trong mồ và xác ướp Mao từ chiếc hòm pha lê của mình hướng cặp mắt đờ đẫn vào quảng trường Thiên An Môn, một bộ phận nhỏ dân số Trung Quốc trở nên giàu có cực kỳ dù cho một tỉ công dân Trung Quốc tiếp tục sống trong thế giới đói nghèo của triết gia Thomas Hobbes. Họ không được chăm sóc y tế đầy đủ và một bệnh tật nhỏ cũng thành án tử hình.
Nền chính trị toàn trị của Trung Quốc cũng kinh hoàng không kém. Để dập tắt chống đối, đảng Cộng sản dựa vào công an và lực lượng bán quân sự trên một triệu người. Mạng lưới theo dõi kiểu Orwell cũng có khoảng 50.000 công an mạng. Các công an thực và ảo này không ngừng cùng nhau ngăn chặn và đàn áp.
• Thử lập ra tổ chức nghiệp đoàn độc lập ở nơi làm việc của mình, bạn sẽ bị đánh và đuổi việc.
• Đứng lên vì quyền con người hay quyền phụ nữ, bạn sẽ bị săn lùng tàn nhẫn, quản thúc trong nhà, hay đơn giản “biến mất”.
• Bị phát hiện là người theo Pháp Luân Công hay “Hội kín Thiên chúa giáo”, thì hãy sẵn sàng để “tư tưởng lệch lạc” của bạn được tẩy não.
Màn kết trong chuỗi đàn áp như trên của Trung Quốc là quần đảo ngục tù tàn bạo của các trại lao động cưỡng bức, nơi hàng triệu công dân Trung Quốc bị lưu đầy – thường không qua xét xử. Đối với những người bị giam ở trại tù Laogai còn tồi tệ hơn; theo tổ chức Ân xá Quốc tế, hàng năm nước Cộng hòa Nhân dân này xử tử dân chúng của mình nhiều hơn mấy lần các nước khác gộp lại.
Ít ra tiêm thuốc độc giờ đây được ưa chuộng hơn viên đạn bắn vào đầu truyền thống. Tuy nhiên, đó không phải do lòng từ bi dẫn đến “sự đổi mới” hình thức tử hình này. Đơn giản là vì tiêm thuốc độc dễ dọn vệ sinh hơn, ít nguy cơ bị nhiễm HIV cho người thi hành án, và dễ dàng hơn nhiều cho việc thu hoạch các bộ phận cơ thể của nạn nhân để bán ra chợ đen.
Ngay cả khi vô số cái Chết dưới tay Trung Quốc diễn ra cả bên trong nước Cộng hòa Nhân dân này và ở những xưởng máy chết chóc trên khắp thế giới, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, nhà báo, và nhà chính trị Mỹ có quá ít để nói về nguy cơ lớn nhất duy nhất đối mặt với nước Mỹ và thế giới.
Trong lĩnh vực kinh doanh, một số công ty lớn nhất của Mỹ – từ Caterpillar và Cisco đến General Motors và Microsoft – đã hoàn toàn đồng lõa với chính sách “trước hết chia rẽ nước Mỹ và sau đó chinh phục nó” của Trung Quốc. Bi kịch ở đây là khi chủ nghĩa con buôn Trung Quốc bắt đầu tấn công ngành công nghiệp Mỹ vào cuối những năm 1990 – những ngành như đồ gỗ, dệt và may mặc bắt đầu sụp đổ hết ngành này đến ngành khác – cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức kinh doanh như Phòng Thương mại Mỹ đã từng đoàn kết bên nhau.
Tuy nhiên, trong thập kỷ qua, khi mỗi việc làm của Mỹ và mỗi nhà máy Mỹ mới chuyển sang Trung Quốc, vì mối quan tâm hẹp hòi nhằm tối đa hóa lợi nhuận, nhiều lãnh đạo công ty Mỹ đã dàn xếp với đối tác Trung Quốc của họ. Thực ra, khi bánh mì của họ được phết bơ ở nước ngoài, các tổ chức được gọi là ‘Mỹ” như Bàn tròn kinh doanh và Hiệp hội các nhà sản xuất quốc gia đã chuyển biến từ phê phán gay gắt chủ nghĩa con buôn Trung Quốc thành những chiến binh cởi mở, và thường rất xông xáo trong vận động hành lang ủng hộ Trung Quốc.
Trong khi nhiều giám đốc điều hành công ty Mỹ trở thành những chiến binh vận động hành lang cho Trung Quốc, các nhà báo Mỹ phần lớn đã mất tích. Sự tinh giản biên chế của các tờ báo và tin tức truyền hình trong thời đại Internet dẫn đến việc đóng cửa hay thu hẹp nhiều phòng tin tức ở nước ngoài. Dẫn đến các phương tiện truyền thông Mỹ ngày càng dựa vào luồng tin tức từ báo chí của chính quyền Trung Quốc – một trong những cỗ máy tuyên truyền không ngừng và hiệu quả nhất mà thế giới từng chứng kiến.
Trong khi đó, tinh hoa của báo chí tài chính Mỹ – nhất là tờ Wall Street Journal – sốt sắng trung thành với thị trường tự do và tư tưởng thương mại tự do, dường như không biết đến một thực tế là “thương mại tự do một chiều” của Trung Quốc hoàn toàn là sự đầu hàng đơn phương của Mỹ trong thời đại chủ nghĩa tư bản nhà nước Trung Quốc. Điều vô lý ở đây là thay vì xem cải cách thương mại là một hình thức tự vệ chính đáng chống lại sự tấn công liên tục của hành động “lợi mình, hại người” của Trung Quốc, báo chí như tờ Wall Street Journal lại liên tục phê phán nguy cơ “chủ nghĩa bảo hộ” Mỹ. Tất cả điều đó quá vô nghĩa, nhưng tiếng trống ý thức hệ vẫn tiếp tục vang lên.
Không một nhóm cá nhân riêng lẻ nào xứng đáng bị lên án hơn các chính trị gia Mỹ vì tội đã nhu mì, thụ động và dốt nát khi để Trung Quốc tự do hành động đối với nền tảng sản xuất của Mỹ và tiến hành tăng cường quân sự qui mô lớn. Không phải vì Quốc hội Mỹ đã không được cảnh báo đầy đủ về những hiểm nguy của một Trung Quốc đang lên. Mỗi năm, Quốc hội đã cấp ngân sách cho Ủy ban Mỹ – Trung Quốc xuất bản báo cáo hàng năm và nhiều tài liệu về mối nguy cơ đang nổi lên này.
Chẳng hạn, Ủy ban Mỹ – Trung Quốc đã cảnh báo “hoạt động gián điệp của Trung Quốc trong nước Mỹ rộng đến nỗi chúng trở thành nguy cơ lớn nhất duy nhất với an ninh công nghệ Mỹ”. Thực tế, đến nay, mạng lưới gián điệp rộng lớn của Trung Quốc đã đánh cắp những bí mật quan trọng liên quan đến tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường hệ Aegis, máy bay ném bom B1-B, hỏa tiễn Delta IV, hệ thống dẫn đường cho tên lửa đạn đạo ICBM, máy bay ném bom tàng hình, và tàu vũ trụ Con thoi. Tin tặc và gián điệp Trung Quốc có hiệu quả như nhau trong việc cung cấp chi tiết hệ thống phóng máy bay của tàu sân bay, máy bay không người lái, thiết kế lò phản ứng tàu thủy, hệ thống động cơ đẩy của tàu ngầm, cơ chế hoạt động bên trong của bom neutron, và thậm chí quy trình hoạt động rất chi tiết của tàu chiến hải quân Mỹ.
Tương tự, về nguy cơ kinh tế, Ủy ban đã yêu cầu Quốc hội thừa nhận rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Mỹ “đương đầu với toàn bộ sức mạnh của các thủ đoạn thương mại không công bằng, thao túng tiền tệ, và trợ cấp không hợp pháp của Trung Quốc cho các hoạt động xuất khẩu của nó”. Bất chấp những cảnh báo này, Quốc hội tiếp tục đã bỏ qua tư vấn của ủy ban độc lập và từ chối thức tỉnh trước nguy cơ kinh tế và quân sự ngày càng tăng từ Trung Quốc.
Dĩ Tòa bạch ốc phải chịu trách nhiệm tương tự. Cả hai tổng thống George W. Bush và Barack Obama đã nói chuyện nhẹ nhàng và mang rất ít gậy khi đến Trung Quốc. Lý do của tổng thống Bush là bận rộn với cuộc chiến ở Iraq và an ninh nội địa cộng với niềm tin mù quáng vào đủ mọi thứ, trừ thị trường tự do. Chỉ trong nhiệm kỳ của Bush, nước Mỹ đã mất hàng triệu việc làm cho Trung Quốc.
Về phần mình, ứng cử viên Obama trong chiến dịch vận động vào năm 2008 đã hứa hẹn nhiều lần kiên quyết chấm dứt hoạt động thương mại không công bằng của Trung Quốc, nhất là tại các bang công nghiệp chủ yếu như Illinois, Michigan, Ohio, và Pennsylvania. Thế nhưng, từ khi nhậm chức, Tổng thống Obama đã nhiều lần cúi đầu trước Trung Quốc về những vấn đề thương mại then chốt, chủ yếu vì ông muốn Trung Quốc tiếp tục tài trợ cho thâm hụt ngân sách khổng lồ của Mỹ. Trong khi Obama thế chấp tương lai của chúng ta cho các ngân hàng Trung Quốc, ông ta không hiểu được rằng chương trình tạo việc làm tốt nhất cho nước Mỹ là cải cách thương mại toàn diện với Trung Quốc.
Lộ trình phía trước: Mọi con đường đều hướng đến Bắc Kinh
Trong sách này, chúng tôi sẽ nêu một cách hệ thống các dạng Chết dưới tay Trung Quốc chính – từ kỷ lục kinh hoàng về an toàn sản phẩm và sự hủy hoại nền kinh tế Mỹ đến sự gia tăng của chủ nghĩa thực dân Trung Quốc, sự tăng cường quân sự nhanh chóng của Trung Quốc, và các hoạt động gián điệp mạnh mẽ và trắng trợn. Để làm điều đó, mục tiêu bao trùm của chúng tôi không chỉ cung cấp cho bạn một sự thực rõ ràng và danh mục sự lạm dụng của Trung Quốc. Cuốn sách này cũng có nghĩa như một cẩm nang hướng dẫn sống còn và kêu gọi hành động tại một thời khắc quan trọng trong lịch sử nước Mỹ và thế giới. Trừ khi tất cả chúng ta cùng nhau đứng lên đương đầu với con Rồng này, phần còn lại của cuộc đời chúng ta và cuộc sống của con cháu chúng ta sẽ kém thịnh vượng hơn nhiều – và lại nguy hiểm hơn nhiều – so với Thời đại Vàng son mà nhiều người trong 

Saturday, June 3, 2017

Bàn về vai trò của môi giới chính trị tại Hoa Thịnh Đốn trong quan hệ Mỹ- Việt
Author: Nguyễn Trọng DânSource: Dân Làm Báo Posted on: 2017-05-03
Nguyễn Trọng Dân (Danlambao) - Để có thể thuyết phục Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận vũ khí, cũng như hạn chế áp lực về nhân quyền, Hà Nội đã buộc lòng phải nhờ đến giới làm môi giới chính trị tại Hoa Thịnh Đốn (thường gọi là "lobbylist".) Trong vụ bãi bỏ cấm vận vũ khí do tổng thống Obama tuyên bố vào năm ngoái, giới phân tích đã khẳng định là hoàn toàn có sự giúp đỡ của nhóm nhân viên làm việc dưới quyền bà Clinton, được sự hậu thuẫn của Bà, nỗ lực vận động Tòa Bạch Ốc đi đến quyết định quan trọng này. Thời Clinton làm tổng thống và nhất là vào thời tổng thống Obama, bọn môi giới chính trị hoành hành rất mạnh ở Hoa Thịnh Đốn. Việt Cộng do đó đã có thể dễ dàng đi cổng hậu nhờ môi giới chính trị xoay chuyển hướng đối ngoại của Hoa Kỳ sao cho có lợi cho mình.
Theo Betsy Woodruff, người viết bài phân tích có tựa đề "From team Hillary to Vietnam Lobbylist,” (1) tạm dịch ý là "Vây cánh của Hillary làm môi giới cho Cộng Sản Việt Nam,” đã cho biết David Adam, người cố vấn trưởng của Bà Clinton về tư pháp, nay cũng là chánh văn phòng cho nhóm môi giới chính trị có tên là Podesta Group, đã quán xuyến toàn bộ vấn đề vận động tại Hoa Thịnh Đốn cho Việt Cộng về nhiều mặt, nhiều vấn đề, trong đó có mặt hợp tác quốc phòng. Nhóm Podesta này cũng có liên hệ sâu rộng đến các hãng tư nhân sản xuất đồ quốc phòng cho Hoa Kỳ như Boeing hay hãng Lockheed Martin chẳng hạn. Được biết trước đây, người cùng sáng lập ra nhóm môi giới chính trị Podesta này là luật sư Tony Ponesta, cũng là trưởng ban vận động tranh cử tổng thống cho ứng cử viên Bill Clinton. Cho nên có thể nói nhóm môi giới chính trị Podesta này có quan hệ mật thiết đến vây cánh và gia đình Clinton.
Công thức căn bản của những người làm môi giới chính tri ở Hoa Thịnh Đốn khi làm việc là giới thiệu những quyền lợi, các nguồn lơi lộc có được nếu giới quyền hành ở Hoa Thịnh Đốn đồng ý quan điểm mà bọn môi giới chính trị như Podesta chẳng hạn được thuê mướn làm đại diện. Cũng theo tác giả Woodruff, Việt Cộng đã phải trả khoảng 30 ngàn đô la mỗi tháng cho nhóm môi giới chính trị Podesta ngay từ tháng 12 năm 2013 cho đến tháng 12 năm 2015 - nâng tổng cộng số tiền cước phí trả cho bọn môi giới chính trị ở Hoa Thịnh Đốn lên đến trên một triệu đô. Và đây chỉ là tiền cước phí để cho môi giới làm việc mà thôi.
Nếu môi giới thành công như trong trường hợp này là bãi bỏ cấm vận vũ khí và giảm bớt áp lực nhân quyền đối với Việt Cộng, phần trăm huê hồng ngầm cho bọn môi giới Podesta là bao nhiêu thì chưa biết. Đó là chưa kể nếu giới chính trị gia ở Hoa Thịnh Đốn đồng ý lời đề nghị của bọn môi giới Podesta mà đi đến những quyết định đối ngoại có lợi cho Việt Cộng như bải bỏ cấm vận vũ khí bất chấp nhân quyền, thì những vị chính trị gia đó cũng được huê hồng hay những phần lợi lộc lớn khác rất khó đoán. Những vị chính trị gia được khoản lợi lộc lớn khi quyết định bỏ cấm vận vũ khí đối với Việt Cộng không chỉ có thượng nghĩ sĩ, gia đình Clinton, nhân viên Tòa Bạch Ốc mà thậm chí, còn có cả gia đình tổng thống Obama. Dĩ nhiên, giới chính trị gia ở Hoa Thịnh Đốn rất khôn ngoan và hiểu rõ luật lệ, sẽ nhận thù lao của Hà Nội trong âm thầm với nhiều hình thức hợp pháp. Một điều rõ ràng là chẳng ai ở Hoa Thịnh Đốn đưa ra quyết định có lợi cho Việt Cộng một cách không công cả, nhất là khi những quyết định này hoàn toàn trái với đạo lý mà chính Hoa Kỳ chủ trương, đó là tư do dân chủ; cũng như đi ngược lại quyết tâm chống Cộng Sản của quốc gia này. Tượng đài tưởng niệm các nạn nhân của Cộng sản dù gì cũng được dựng lên ở Hoa Thịnh Đốn thay vì ở Hà Nội, nơi xuất phát mệnh lệnh Đấu Tố bởi bè lũ Cộng Sản Hồ Chí Minh đã làm hai trăm ngàn người dân vô tội bị thiệt mạng vào thập niên 1950.
Cũng theo tường trình của Woodruff, đạo luật về Nhân Quyền cho Việt Nam của Dân biểu Chris Smith đã bị nhóm môi giới Podesta vận động cản trở tại Quốc Hội Hoa Kỳ trong suốt năm kỳ đệ trình liên tiếp tính từ năm 2004 đến 2015. John McCain, một Thượng Nghị si lão thành đầy quyền uy và nhiều ảnh hưởng chính trị trong chính trường ở Hoa Thịnh Đốn, từng là ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng Hòa, đã được Podesta vận động chống lại đạo luật này. Thượng Nghị sĩ McCain vẫn cho rằng thúc đẩy quan hệ Việt Mỹ sâu rộng vẫn có lợi cho người dân Việt Nam hơn là thông qua đạo luật về nhân quyền để dồn Cộng Sản Hà Nội vào chân tường. Thật là hết sức ngụy biện! Không biết ngày nay, khi hay tin "người công dân Việt Nam Cộng Hòa khuất" Nguyễn Hữu Tấn bị cắt cổ hy sinh vì cờ Vàng trong đồn Công An của Việt Cộng, hay Nguyễn Mai Anh Tuấn, phải vào tù dù mới 15 tuổi do phản đối bạo quyền, Thượng Nghị sĩ John McCian có bắt đầu cảm thấy lập luận của mình đưa ra sai lầm lắm không khi chống lại đạo luật “Nhân Quyền cho Việt Nam” của Dân biểu Smith. Sinh mạng của người dân lành tại Việt Nam hiện nay bị Việt Cộng xuất khẩu, cắt chém, bỏ tù không xét xử, vân vân, như những con gà ngoài chợ cũng là nhờ những người có triết lý giống John McCain sau khi đã được bọn môi giới lobby.
Tình trạng hoành hành của các nhóm môi giới chính trị như Podesta tại Hoa Thịnh Đốn càng lúc càng lúc mạnh, nhất là vào những năm cuối của triều Obama. Thanh thế của bà Clinton càng lên bao nhiêu, thì nhóm môi giới Podesta càng vùng vẫy mạnh bấy nhiêu. Không những nhóm này lãnh hợp đồng vận động cho Cộng sản Việt Nam mà có luôn cả các hợp đồng vận đồng cho chính phủ Kenya, Ai Cập, cho ngân hàng lớn nhất của Nga là Sberbank of Russia; riêng chính phủ Azerbaijan đã phải trả gần 60 ngàn đô la mỗi tháng tiền môi giới phi để nhóm này vận động chính trường ở Hoa Thịnh Đốn có lập trường thân thiện với Azerbaijan, vì quốc gia này cần bán dầu hỏa để có thu nhập và cần hậu thuẫn của Hoa Thịnh Đốn để giảm bớt sức ép cô lập đất nước này từ Nga. Đương nhiên, Việt Nam mà còn biết nhờ đám môi giới chính trị như Podesta để khiến lập trường đối ngoại của Mỹ có lợi cho chế độ độc tài đảng trị của mình thì huống hồ gì là Trung Cộng, một quốc gia bị dư luận của Hoa Kỳ chỉ trích là thường xuyên tìm cách tráo trở hạ giá tiền tệ để tăng thặng dư mậu dịch đối về cho mình, gần trên 300 tỷ Mỹ kim mỗi năm.
Cả hai quốc gia Cộng Sản này bao năm qua được hậu đãi từ kinh tế đến đối ngoại bởi Hoa Kỳ cũng nhờ vào bọn môi giới chính trị giống như Podesta ở Hoa Thịnh Đốn làm xoay chuyển chính sách của chính phủ Hoa Kỳ. Chỉ tính năm 2010 không thôi, chỉ mỗi công ty Huawei Tech của Trung Cộng đã nướng gần 350 ngàn đô kinh phí cho môi giới ở Hoa Thịnh Đốn, còn các quyền lợi ngầm sau đó cho giới chính trị gia là bao nhiêu thì chưa biết (2). Công ty Trung Cộng này bị nghi ngờ là có dính líu đến các hoạt động quân báo cho Trung Cộng, khoảng tiền lớn lao dành cho bọn môi giới chính trị tại Hoa Thịnh Đốn đi vận động để đảm bảo công ty này thoát khỏi điều tra của Liên Bang và vẫn có thể cung cấp thiết bị cho hãng viễn thông Sprint Nextel kiếm lời. Vậy thì nếu tính hàng loạt các đại công ty quốc doanh khác của Bắc Kinh cũng bỏ tiền ra cho bọn môi giới chính trị vận động hậu trường chính giới ở Hoa Thịnh Đốn như Huawei Tech thì tổng số tiền cước phí cho bọn môi giới chính trị ở Hoa Thịnh Đốn sẽ nhiều như thế nào. Chẳng trách gì tình trạng thâm hụt mậu dịch của Hoa Kỳ đối với Trung Cộng, mỗi năm lên đến cả trên 300 tỷ Mỹ kim, cứ mãi còn hoài không ngăn nổi! Chính phủ Hoa Kỳ cứ tiếp tục mở cửa ưu đãi hàng hóa của Trung Cộng, cũng như tiếp tục làm ngơ những kiểu cách hạ giá tiền tệ láu cá của Bắc Kinh vì bị bọn môi giới chính trị kiểu giống như Podesta làm Hoa Kỳ lung lay ý chí trừng phạt kinh tế Trung Cộng trong suốt bao năm qua, kể cả dưới triều Obama.
Ước tính, mỗi năm có đến trên ba tỷ Mỹ kim bỏ ra làm cước phí cho bọn môi giới chính trị ở Hoa Thịnh Đốn đi vận động. Sau đây là bản thống kê tổng số tốn kém cho bọn môi giới chính trị ở Hoa Thịnh Đốn mỗi năm (3)
Mặc dù tổng thống Obama hứa hẹn sẽ cải cách chính giới ở Hoa Thịnh Đốn triệt để, để chính phủ Liên Bang không hành động theo lợi ích của các nhóm môi giới chính trị như Podesta nữa- "Yes, we can", khẩu hiệu mà ông đưa ra làm nức nỡ lòng dân Mỹ, nhưng trên thực tế, bảng thống kê trên cho thấy mức chi tiêu cho bọn môi giới chính trị tại Hoa Thịnh Đốn không hề giảm trong suốt tám năm ông đảm nhiệm chức tổng thống; và qua vụ việc bãi bỏ cấm vận vũ khí cho Việt Cộng nhờ vào hậu thuẫn từ vây cánh của gia đình Clinton, thông qua nhóm môi giới chính trị Podesta gắn chặt với uy quyền của gia đình Clinton vận động, ai ai cũng thấy ngay hứa hẹn của Obama về việc cải cách chính giới ở Hoa Thịnh Đốn đã không hề được thực hiện. Đây chỉ là lời hứa mị dân và đã khiến cho người dân Mỹ thêm thất vọng, không những thất vọng ở nơi ông mà cả ở đảng Dân Chủ của ông, một chính đảng được coi là tràn ngập hối lộ và tham nhũng trong suốt tám năm qua. Do đó, đảng Cộng Hòa đã thắng cử từ Hạ Viện, Thượng Viện lẫn Tòa Bạch Ốc trong kỳ tổng tuyển cử năm ngoái. Toàn bộ vây cánh tham nhũng và thân Trung Cộng lẫn Việt Cộng của Clinton bị mất phiếu bật ra khỏi Hoa Thịnh Đốn hoàn toàn.
Xin được lưu ý thêm bảng thống kê chi tiêu cho môi giới chính trị để ảnh hưởng lên chính sách đối ngoại của chính phủ Obama dưới đây cho thấy ba năm cuối của nhiệm kỳ Obama 2014-2016, chi tiêu tăng vọt đều đặn lên trên sáu triệu đô mỗi năm (4). Như vậy, trong ba năm 2014 đến 2016, tổng số chi tiêu cho bọn môi giới chính trị ở Hoa Thịnh Đốn để ảnh hưởng lên chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ không thôi tăng vọt lên trên 20 triệu đô, được coi là rất cao so với nhiệm kỳ cuối của nhiều tổng thống khác.
Đó cũng là lý do tại sao, để cảm ơn cử tri bầu mình thắng cử, và để tỏ rõ cương quyết của mình thực hiện lời hứa trước cử tri, không hứa suông mị dân như cựu tổng thống Obama, chỉ mới có tám ngày nhậm chức tổng thống, tức là vào ngày 28 tháng Giêng năm nay, tổng thống Trump đã cương quyết ký một sắc lệnh gây bất ngờ mọi người có tên là:" ETHICS COMMITMENTS BY EXECUTIVE BRANCH APPOINTEES" tạm dịch ý là: “Quy định về giá trị đạo đức của công chức" nhằm cấm đoán hầu hết các hoạt động môi giới chính trị giúp ích cho các chính phủ ngoại quốc bên ngoài nước Mỹ. Chi tiết sắc lệnh này không phải là chủ đề của bài viết nhưng hành động cương quyết này của tổng thống Trump cũng cho thấy người dân Mỹ đã quá bực tức trước sự dung dưỡng bọn môi giới chinh trị ở Hoa Thịnh Đốn dưới triều Obama. Tòa Bạch Ốc cần phải có thái độ và hành động cụ thể.
Sau khi ông Trump thắng cử, hãng truyền thông Bloomberg loan tin là nhóm môi giới chính trị Podesta mất hàng loạt các hợp đồng béo bở vì ai cũng biết rõ, vây cánh của bà Clinton và ông Obama đã không còn quyền lực bao trùm Hoa Thịnh Đốn như trước nữa (5). Cụ thể là đại công ty Alphabet Inc., chủ quản công ty Google lừng danh đã rời bỏ khỏi Podesta. Ước tính có khoảng bảy đại thân chủ sẽ rời bỏ nhóm môi giới chính trị Podesta, nâng tổng số thiệt hại lên đến trên 400 ngàn đô la trong vài tháng gần đây cho nhóm này. Cũng theo Bloomberg, hãng Google đã phải trả gần 80 ngàn đô cho Podesta chỉ trong ba tháng cuối năm 2016 để mong có hậu thuẩn chính trị mai này từ vây cánh gia đình bà Clinton nếu bà thắng cử, vì chỉ số bầu cử từ giới truyền thông Mỹ hô hoán rầm rộ là bà Clinton sẽ thắng cử tuyệt đối. Cử tri Mỹ đã có câu trả lời ngược lại với giới truyền thông Mỹ, những hãng truyền thông đã một thời bịp bợm đẩy nước Mỹ sai lầm phản bội lại Việt Nam Cộng Hòa. Lề lối bịp bợm của truyền thông Mỹ đưa tin theo kiểu chiến tranh Việt Nam ồ ạt thiên vị, công kích chỉ một phía ngày nay đã không còn lừa được cử tri Mỹ nữa.
Điều đáng ngạc nhiên là dù Hoa Kỳ là đồng minh chiến lược với Do Thái bấy lâu, luôn sẵn sàng ưu đãi quốc gia này mọi thứ, ở mọi thời điểm, thế nhưng, tiền cung ứng cho bọn môi giới chính trị ở Hoa Thịnh Đốn để nước Mỹ đưa ra lập trường đối ngoại có lợi cho Do Thái chỉ thấy tăng chứ không hề giảm (6):
Như vậy, theo bảng thống kê trên, trong tám năm dưới triều Obama, tiền chi tiêu để bọn môi giới chính trị ở Hoa Thịnh Đốn vận động có lợi cho Do Thái tăng vọt kinh khiếp so với những năm trước đó, từ ba đến bốn triệu Mỹ kim thay vì khoảng một triệu cho những năm trước đó. Người Do Thái chẳng làm điều gì phí tiền cả. Nay họ tung tiền như vậy để vận động một nước Mỹ có lập trường có lợi cho họ, dù đã biết rằng nước Mỹ lúc nào cũng luôn đứng cạnh đất nước họ trong vấn đề an nguy quốc gia ở mọi tình huống, thì cũng cho thấy vai trò vận động hậu trường chính trị của bọn môi giới chính trị ở Hoa Thịnh Đốn rất quan trọng, không thể bỏ qua.
Hoạt động môi giới chính trị tại Hoa Thịnh Đốn là hợp pháp và bọn môi giới chính trị ở Hoa Thịnh Đốn rất khôn khéo dày dạn kinh nghiệm, rành rẽ mọi ngõ ngách cũng như quen biết chặt chẽ các nhân vật quyền uy ở Hoa Thịnh Đốn. Cho nên nếu Việt Cộng quyết tâm rộng rãi chi tiền để bọn này vận động cổng hậu để đưa ra lập lập trường chính sách đối ngoại có lợi cho mình thì chắc chắn, Podesta không cán đáng nổi hợp đồng này thì sẽ có nhóm môi giới chính trị khác tài ba hơn, may mắn hơn cán đáng. Thành công của bọn môi giới chính trị tại Hoa Thịnh Đốn khi vận động cho Việt Cộng lại đẩy người dân Việt Nam vào chổ khó khăn hơn khi tranh đấu lật đổ cường quyền Cộng Sản. Vụ Podesta này là một thí dụ.
Nếu là như vậy thì ngoại trừ có những tinh huống lịch sử đặc biệt khiến Hoa Kỳ không thể nào dung dưỡng chế độ Cộng Sản ở Hà Nội được nữa, trong điều kiện bình thường, thì cuộc đấu tranh dành lại chính thể Việt Nam Cộng Hòa dân quyền dân chủ của người dân trong nước lệ thuộc hoàn toàn vào khả năng của hàng triệu công dân Việt Nam Cộng Hòa tại Mỹ sử dụng bọn môi giới chính trị ở Hoa Thịnh Đốn một cách khôn khéo, hiệu quả để chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ không thể nào đi đến quyết định tạo cho Cộng Sản Hà Nội có quá nhiều thuận lợi từ thông tin, kinh tế, đến quốc phòng, thoái mái cắt cổ hay giam cầm người dân đấu tranh như hiện nay được nữa. Thậm chí, nếu có thể sử dụng bọn môi giới chính trị vận động để nước Mỹ đẩy Cộng Sản Hà Nội vào chân tường thì càng tốt. Cầm cờ Vàng biểu tình trước Tòa Bạch Ốc thể hiện chính nghĩa là một hướng rất cần và phải luôn làm, nhưng không thể là tất cả. Hướng kế là phải tung tiền dùng bọn môi giới chính trị ở Hoa Thịnh Đốn để chống lại tối đa nỗ lực vận động cổng hậu của Việt Cộng thông qua bọn môi giới do Việt Cộng thuê mướn.
Không tung tiền tối đa để lobby ở hậu trường chống lại nỗ lực lobby ở hậu trường của Việt Cộng tại Hoa Thịnh Đốn thì cũng giống như là đánh trận hở be sườn để tăng quân Việt Cộng xâm nhập vào không phản kích. Do đó, thay vì các hội đoàn bên Mỹ quyên góp tiền bạc vạn về quê nhà làm từ thiện có lợi cho Việt Cộng, hãy tung tối đa tài lực có thể có để lobby chính trường nước Mỹ như người Do Thái đã làm, đang làm và vẫn còn làm, mang đến một đường lối chính sách đối ngoại từ chính phủ Mỹ thuận lợi hơn cho sự đấu tranh của dân tộc tại quê nhà.
Nguyễn Trọng Dân
danlambaovn.blogspot.com

________________________________________
Ghi chú:

Friday, May 26, 2017

Việt Nam Cộng Hoà: Chính Thể hay Ngụy Quyền?

Hai mươi năm trước, trong một bài viết về tranh chấp ở Biển Đông đăng trên báo Far Eastern Economic Review ngày 10/2/1994 (1), ký giả Frank Ching đã thuật lại lời khẳng định của nhiều quan chức cao cấp Cộng Sản Việt Nam

Việt Nam Cộng Hoà: Chính Thể hay Ngụy Quyền?


Huy hiệu Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa (Ảnh Wikipedia)

Audio: Việt Nam Cộng Hoà: Chính Thể hay Ngụy Quyền?

phần 1

phần 2

phần 3

Hai mươi năm trước, trong một bài viết về tranh chấp ở Biển Đông đăng trên báo Far Eastern Economic Review ngày 10/2/1994 (1), ký giả Frank Ching đã thuật lại lời khẳng định của nhiều quan chức cao cấp Cộng Sản Việt Nam (CSVN) vào thập niên 50 của thế kỷ trước rằng: “Hoàng Sa – Trường Sa, theo quan điểm lịch sử, là thuộc về Trung Quốc", cùng với dẫn chứng bức công hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng. Frank Ching cũng nhận xét: “Trong những ngày đó, chế độ Hà Nội rất hăng hái trong việc lên án chính quyền miền Nam, cho họ là những con rối của Mỹ, là những kẻ đã bán đứng quyền lợi của nhân dân Việt Nam. Ngay cả lúc đó, một điều rõ ràng là những lời cáo buộc này đã không có căn cứ. Bây giờ, 20 năm sau -1994-, cũng lại một điều rõ ràng là đã có những lúc mà chính quyền Sài Gòn đã thật sự đứng lên cho quyền lợi của dân tộc Việt Nam, một cách vô cùng mạnh mẽ, hơn xa chính quyền tại Hà Nội.”

Ký giả Frank Ching kết luận bài viết đó như sau: “Những gì xảy ra ngày hôm nay liên hệ đến hai quần đảo này (Hoàng Sa - Trường Sa) chỉ là hậu quả của sự trí trá của hai người cộng sản anh em trong qúa khứ. Không một ai trong cộng đồng thế giới muốn bước vào để dàn xếp sự bất đồng giữa Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc. Lý do rất rõ ràng: cái công hàm ngoại giao và sự nhìn nhận của Cộng sản Việt Nam không thể nào xoá bỏ được bởi một nước nhỏ như Việt Nam, kẻ đã muốn chơi đểu để lừa dối Trung Quốc. Hơn nữa, Cộng sản Việt Nam không thể nào tránh được Trung Quốc trong khi họ phải bắt chước theo chính sách ’đổi mới’ của Trung Quốc để tiến lên chủ nghĩa xã hội.”

Trở về hiện tại, năm 2014, với biến cố giàn khoan HD981 của Trung Cộng vẫn còn đang nóng hổi, tất cả những gì Frank Ching đã viết từ 20 năm trước lại đang được lập lại. Điều khác biệt duy nhất lần này là: 20 năm trước, với sự bưng bít thông tin vô cùng chặt chẽ của nhà nước CSVN rất ít người biết đến những bằng chứng như bức công hàm Phạm Văn Đồng dù những điều này đã được truyền thông bên ngoài Việt Nam đề cập đến nhiều lần; nhưng với thời đại Internet ngày nay, CSVN không thể nào che giấu được nữa nên đã phải chính thức công bố công hàm Phạm Văn Đồng. Từ đó, họ cũng phải đưa ra luận điểm Hoàng Sa - Trường Sa không thuộc quyền quản lý của Miền Bắc. Và vì thế bắt buộc phải nhìn nhận Việt Nam Cộng Hoà (Việt Nam Cộng Hòa) — một chính thể mà suốt 60 năm qua Hà Nội đã không ngớt mạ lỵ bằng đủ mọi ngôn từ hạ cấp. Những người lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa bị Hà Nội gọi là “thằng này thằng nọ”, “tên này tên kia”.

Nhân diễn biến mới này cùng với nhiều dữ kiện lịch sử khác đã lộ ra ánh sáng, thiết tưởng đã đến lúc cần đặt câu hỏi toàn diện cho các thế hệ mai sau.

Việt Nam Cộng Hòa: chính thể hay ngụy quyền?

Trước hết, nhìn từ mắt thế giới bên ngoài, khó ai có thể phủ nhận một thực tế lịch sử là đã từng có một chính thể đại diện cho một nửa nhân dân và tổ quốc Việt Nam ở phía Nam vĩ tuyến 17. Chính thể này được phần lớn các quốc gia không cộng sản trên thế giới công nhận. Thật vậy, tính đến năm 1975 chính thể này đã được 87 quốc gia trên thế giới công nhận và lập bang giao chính thức (2), 6 quốc gia ở cấp bán chính thức (3). Trong khi đó, chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) tại miền Bắc, tính đến năm 1972 chỉ được 49 quốc gia thừa nhận (4) và không thay đổi gì tính đến 1975.

Ngay cả nếu xét theo chính định nghĩa của đảng CSVN về một chính thể thì càng vô cùng khó phủ nhận vai trò của Việt Nam Cộng Hòa. Một trong những tài liệu học tập lâu năm cho cán bộ cấp cao CSVN là quyển giáo trình lý luận về nhà nước và pháp luật của nhà xuất bản Công An Nhân Dân (5). Theo họ các điều kiện đủ để gọi một quốc gia, một chính thể là: 1/ Có lãnh thổ, quản lý trên một vùng lãnh thổ; 2/ có dân cư; 3/ có pháp luật; 4/ Thu thuế; 5/ Có bộ máy, chính quyền, tổ chức quân đội....; 6/ Có chủ quyền quốc gia (tham gia đàm phán quốc tế, và được quốc tế công nhận). Cả 5 điều kiện đầu đã quá rõ. Riêng điều kiện thứ 6 thì Việt Nam Cộng Hòa còn vượt xa VNDCCH. Lúc đó chính quyền ở miền bắc chỉ là thành viên của các cơ chế thuộc phe xã hội chủ nghĩa gồm 11 quốc gia, mà đến nay gần như tất cả đều đã biến mất; còn Việt Nam Cộng Hòa đã là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực (6) Chỉ sau khi chiếm được miền Nam nhiều năm, chính quyền cộng sản mới gia nhập những tổ chức quốc tế đó thay chân Việt Nam Cộng Hòa.

Còn câu hỏi về bản chất "ngụy quyền" thì sao? Hiển nhiên khi dùng từ ngữ mang tính phỉ báng này, giới lãnh đạo CSVN muốn nói rằng Việt Nam Cộng Hòa chỉ là một chính phủ bình phong, tay sai, hay ngay cả bán nước cho "đế quốc Mỹ" hay thế giới tư bản. Nhưng thực tế đã ngày càng rõ. Rất nhiều người trong nhiều năm lục lọi khắp nơi, kể cả các văn khố buộc phải giải mật theo đúng qui định của luật Tự Do Thông Tin (Freedom of Information Act) tại Mỹ, đều không có chứng cớ phản quốc nào. Khi thế giới Internet nở rộ, mấy năm trước đây một diễn đàn nổi tiếng là X-Càphê đã mở một chiến dịch khá lâu để tìm kiếm những bằng chứng xem Việt Nam Cộng Hòa có một văn bản “bán nước” nào tương tự như công hàm Phạm Văn Đồng không. Sau nhiều tháng cố gắng, không ai tìm được văn bản nào cả. Và trong suốt 20 năm hiện hữu, một dữ kiện lịch sử hiển nhiên là Việt Nam Cộng Hòa đã không để mất bất kỳ phần lãnh thổ nào của đất nước ngoại trừ quần đảo Hoàng Sa sau khi chống cự mãnh liệt. Trong thời Việt Nam Cộng Hòa không hề có chuyện dâng nhượng đất biên giới trên bộ, dâng nhượng hải phận ngoài khơi, cho "mướn" các khu rừng biên giới 50 năm, v.v...

Nhưng những điểm nêu trên chỉ mang tính định nghĩa. Điều còn quan trọng hơn nữa là chính thể Việt Nam Cộng Hòa đã làm được gì cho đất nước và xã hội.

Việt Nam Cộng Hòa: có làm đúng trách nhiệm của một chính phủ không?

Trách nhiệm lớn nhất của một chính quyền là phải bảo vệ đất nước và người dân. Trong suốt thời gian hiện hữu, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã xem trách nhiệm này như thế nào? Hiển nhiên một bài viết ngắn ngủi loại này không thể liệt kê các nỗ lực suốt 20 năm, dù chỉ viết tổng quát, nhưng có lẽ một thí dụ sau đây có thể minh họa phần nào ý thức của chính thể Việt Nam Cộng Hòa về nhiệm vụ bảo vệ đất nước:

Với sức mạnh quân đội dồn hầu hết vào không quân và bộ binh, Hải quân Việt Nam Cộng Hòa chỉ có một số chiến hạm chiến đỉnh khiêm tốn, nhưng tất cả đã được trưng dụng vào mục tiêu bảo vệ từ sông đến biển của tổ quốc ngày đêm, chứ không “bám bờ” hay thỉnh thoảng khoe đã đi “tuần tiễu chung” với hải quân (kẻ thù) Trung Cộng như ngày nay. Trong số những vòng canh từ biển khơi vào bờ, chỉ có vòng viễn dương do đệ thất hạm đội Hoa Kỳ phụ trách; còn các vòng khác từ viễn duyên, cận duyên, đến sông lạch chằng chịt đều do Hải quân Việt Nam Cộng Hòa trách nhiệm. Hệ thống radar của các vòng canh trên kèm với các đài kiểm báo, không tuần (của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa) đan chen nhau chặt chẽ nên rất hiếm có trường hợp tàu lạ xâm nhập qua được mạng lưới này. Việc bảo vệ chủ quyền cũng vượt trên mọi lý do khác. Các tàu đánh cá Thái Lan vi phạm hải phận Việt Nam đều bị bắt đưa về Phú Quốc hay Kiên Giang (7) bất kể Thái Lan đang là một đồng minh quan trọng.

Về trách nhiệm phát triển đất nước, mặc dù chính phủ Việt Nam Cộng Hòa hàng ngày phải đối diện với cuộc chiến tranh tàn khốc suốt 15 năm (từ 1960 đến 1975), nhưng các nỗ lực phát triển đã khá thành công trong mọi phương diện, từ giáo dục đến kinh tế, nông-lâm-ngư nghiệp, công kỹ nghệ, thương mại, v.v.. Những điều này đã được các học giả cả Việt Nam lẫn quốc tế thu thập để so sánh sức phát triển giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam khi họ làm các khảo sát tương tự để so Tây Đức và Đông Đức, Nam Hàn và Bắc Hàn, Đài Loan và Trung Cộng. Trong bài viết ngắn ngủi này, tác giả chỉ xin nhắc lại một vài lãnh vực đặc sắc nhất.

Với định hướng “nhân bản, dân tộc và khai phóng”, nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa cho đến nay vẫn tiếp tục là niềm nuối tiếc của nhiều người, đặc biệt khi nhớ lại những chiến dịch tập trung đốt sách của nhà cầm quyền CSVN trong thời gian ngay sau tháng 4/1975. Ông Mai Thái Lĩnh, cựu sinh viên Viện Đại học Đà Lạt, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Lạt đã kể lại rằng: “Tôi là con của một cán bộ Việt Minh – tham gia Cách mạng tháng Tám tại Lâm Đồng sau đó tập kết ra miền Bắc [...] Chế độ Việt Nam Cộng hòa lúc đó biết lý lịch của tôi, nhưng vẫn không phân biệt đối xử, cho nên tôi vẫn có thể học hành đến nơi đến chốn. Tính chất tốt đẹp của nền giáo dục cũ của miền Nam là điều tôi công khai thừa nhận, vì vậy suốt 14 năm phục vụ trong ngành giáo dục “xã hội chủ nghĩa” tôi bị người ta gán cho đủ thứ nhãn hiệu, chụp cho nhiều thứ mũ chỉ vì tôi nêu rõ những ưu điểm của nền giáo dục cũ cần phải học hỏi.”

Kỷ luật học đường, vai trò của thầy cô, tinh thần ham học của cả nước, trình độ của sách giáo khoa, và giá trị của các bằng cấp thời Việt Nam Cộng Hòa đều được cả xã hội duy trì và đòi hỏi chính phủ phải duy trì. Tuy là nước nhỏ, nghèo và chiến tranh triền miên, các bằng cấp của trường lớp Việt Nam được các đại học lớn trên thế giới công nhận. Những sinh viên được tuyển chọn đi du học thời đó thực sự là những tinh hoa tương lai của đất nước.

Và cũng trong những ngày tháng liên tục khói lửa đó, chính thể Việt Nam Cộng Hòa đã ra sức xây dựng nền tảng pháp quyền. Dù có bị hạn chế ít nhiều bởi chiến tranh nhưng các quyền cơ bản của con người đều có, từ tự do báo chí, tự do tôn giáo, đến tự do lập hội. Ngay cả quyền của các cá nhân và đảng phái đối lập cũng được luật pháp bảo vệ. Trong thời gian gần đây, ông Lê Hiếu Đằng kể lại việc ông được học luyện thi tú tài trong tù và được cảnh sát chở từ phòng tù đến phòng thi như thế nào. Bức hình chụp cảnh bà Ngô Bá Thành tuyệt thực sau đây cũng giúp mọi người hình dung được những người đối lập với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa vẫn được luật pháp bảo vệ như thế nào.


Các cuộc bầu cử ở mọi cấp, từ tổng thống đến xã trưởng, đã được liên tục thực hiện khá tự do, trong sáng, và công bằng bất kể "quân giải phóng" luôn cố gắng gài mìn các phòng phiếu để răn đe người đi bầu. Đặc biệt sự độc lập giữa 3 ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp là một thực tế chứ không phải bánh vẽ trong các bộ luật. Tác giả Hạ Đình Nguyên trong một bài viết cách đây khoảng một năm đã thuật lại một chuyện có thật và có nhiều người biết. Đó là chính tổng thống Việt Nam Cộng Hòa đến trụ sở Tối Cao Pháp Viện yêu cầu tòa án kết án những nghi can “thân cộng” (mà sau 1975 các nghi can đó đều lộ dạng là cộng sản thật) nhưng đã bị từ chối. Hơn thế nữa, cơ chế Tối Cao Pháp Viện của thể chế Việt Nam Cộng Hòa còn có thẩm quyền truất phế Tổng thống, Phó Tổng thống, Thủ tướng, Tổng trưởng, Bộ trưởng, v.v. khi chứng minh được các nhân sự đó phạm tội phản quốc, tức tương đương với những vụ như ký công hàm Phạm Văn Đồng hay đi dự Hội nghị Thành Đô, v.v.

Về mặt xã hội, dù nay đã bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ 21 nhưng nhà cầm quyền Hà Nội vẫn sợ hãi sinh hoạt xã hội dân sự. Trong khi đó thì 60 năm trước, dưới thời Việt Nam Cộng Hòa các đoàn thể xã hội dân sự đã phát triển rất đa dạng (một cách tổng quát, xã hội dân sự bao gồm các đoàn thể không thuộc chính phủ mà cũng không thuộc giới kinh doanh). Những đoàn thể xã hội dân sự này đã đóng góp rất lớn cho xã hội từ văn hóa đến giáo dục, y tế, tương trợ, giúp đỡ nạn nhân thiên tai, nạn nhân chiến cuộc. Nhiều người còn nhớ những đoàn thể có tên tuổi trong ngành công tác xã hội như Cô nhi viện Dục Anh, Cô nhi viện Quách Thị Trang, Trại giáo hóa thanh thiếu niên phạm pháp Thủ Đức, Viện dưỡng lão Thị Nghè, Trung tâm hướng nghiệp Vườn Lài, Quán cơm xã hội Anh Vũ (phát cơm cho người nghèo). Những đoàn thể tiêu biểu khác là Hội Hồng Thập Tự, Hướng đạo Việt Nam, Trường Bách khoa Bình dân, nhóm Thanh niên Phụng sự Xã hội và Gia đình Phật tử của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Thiếu nhi Thánh thể và Thanh Sinh Công của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, Phong trào Du ca Việt Nam, Hội Thanh niên Thiện chí, v.v.

Trước các vấn nạn lớn của đất nước, người dân tự động tham gia góp phần cùng lo lắng, cùng báo động, cùng góp ý giải quyết chứ không chờ xin phép ai. Một trường hợp điển hình là Tập San Sử Địa thời đó. Đây là một tập san sưu tầm, khảo cứu chuyên ngành do nhóm giáo sư, sinh viên Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn tự đứng ra thực hiện, phát hành mỗi 3 tháng. Toàn bộ Tập San Sử Địa gồm 29 số, được phát hành từ năm 1966 cho tới tháng 4 năm 1975 thì bị cấm (8). Số cuối cùng “Đặc Khảo về Trường Sa và Hoàng Sa”, thu thập và trình bày nhiều tài liệu lịch sử chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo này mà hiện nay nhà nước CSVN đang phải dùng tới.

Việt Nam Cộng Hòa: Thêm một tiến thoái lưỡng nan cho lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam

Đối diện với các bước xâm lấn ngày một trắng trợn của Bắc Kinh và trước các chứng tích bảo vệ đất nước không thể chối cãi của các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, lãnh đạo đảng CSVN đã thấy quá khó để tiếp tục gọi họ là "ngụy quyền bán nước", đặc biệt sau khi mấy đời lãnh đạo CSVN liên tục ký nhượng đủ loại chủ quyền cho Bắc Kinh suốt từ Hội Nghị Thành Đô 1990 đến nay. Loại bài bản "ngụy quyền bán nước" nay cũng trơ trẽn và tác dụng ngược như việc nhà cầm quyền này tống người biểu tình phản đối Trung Cộng vào trại phục hồi nhân phẩm để "giáo dục họ về lòng yêu nước".

Hơn thế nữa, khi quá kẹt vụ công hàm Phạm Văn Đồng, không còn cách chối tội nào khác, lãnh đạo Đảng đành dùng luận điểm chống chế: 2 quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa lúc đó thuộc quyền cai quản của "chính thể Việt Nam Cộng Hòa". Đây là điều mà đảng CSVN đã cố tránh suốt gần 4 thập niên qua vì những hệ lụy sau đây:


Khi đã công nhận Việt Nam Cộng Hòa là một chính thể với đầy đủ thẩm quyền trước thế giới và lại xử dụng cả những chứng tích bảo vệ chủ quyền đất nước bằng xương máu của họ thì nhà cầm quyền CSVN cũng đương nhiên đã thừa nhận những luận điệu bôi nhọ Việt Nam Cộng Hòa "tay sai bán nước" là hoàn toàn dối trá. Và nếu Việt Nam Cộng Hòa không "bán nước" thì Hoa Kỳ cũng không thể là "đế quốc" tại Việt Nam.

Khi đã công nhận Việt Nam Cộng Hòa là một chính thể thì không thể tiếp tục phủ nhận cơ chế, sinh hoạt cũng như mức phát triển của xã hội bên dưới thể chế này. Và với những chi tiết đó, ai cũng có thể thấy đời sống của người dân tại miền Nam trong mọi lãnh vực từ nhân phẩm, nhân quyền đến các lợi ích giáo dục, kinh tế đều diễm phúc hơn đồng bào của họ tại miền Bắc. Do đó luận điệu "giải phóng miền Nam" cũng đương nhiên được thừa nhận là hoàn toàn dối trá.

Với 2 sự thừa nhận nêu trên thì lý do duy nhất còn lại của lãnh đạo CSVN khi nhất định đốt cả dãy Trường Sơn để "giải phóng" miền Nam chỉ có thể là: dùng máu người Việt cùng với súng Nga và đạn Tàu để mở rộng thế giới đỏ. Đúng như lời Tổng Bí Thư Lê Duẫn buột miệng nói ra trong một phút quá cao hứng sau ngày chiến thắng: "Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc!"

Cái công trạng "lãnh đạo toàn dân đánh Mỹ cứu nước" không những lập tức biến mất mà còn hiện ra một món nợ máu kinh hồn của hàng triệu sinh mạng người Việt Nam chỉ vì vài lãnh đạo Đảng thích cầm cờ đầu cho Mátxcơva và Bắc Kinh.

Chính từ sự giằng co giữa nhu cầu phải công nhận chính thể Việt Nam Cộng Hòa để thoát vụ công hàm Phạm Văn Đồng và nỗi sợ các hệ lụy của sự công nhận đó mà người ta thấy trong lúc báo chí công cụ nhắc đến "chính thể Việt Nam Cộng Hòa" và trận chiến Hoàng Sa nhưng công an lại được tung ra để phá hoại những buổi lễ của dân tưởng nhớ những người con anh dũng đó của đất nước. Công an sẵn sàng giở cả những trò hèn kém như đóng kịch cắt đá hay xông vào giật nhang, giật hoa, và gây sự để bắt bớ tại các buổi lễ tưởng niệm. Lãnh đạo đảng còn sợ đến độ tìm đủ loại lý cớ để bắt giam những người như blogger Nguyễn Hữu Vinh (Ba Sàm) để không chỉ đóng trang tổng hợp tin tức của anh mà còn để đóng cả trang Viết Sử Việt do anh chủ trương.

Nhưng có lẽ nhà cầm quyền CSVN đã quá chậm và quá trễ trong thời đại Internet hiện nay. Một xã hội nhân bản, một chính phủ có khả năng, và một thể chế yêu nước như thời Việt Nam Cộng Hòa đang là ước vọng của rất nhiều người Việt Nam thuộc đủ mọi lứa tuổi và thành phần. Chính vì vậy mà trong mấy năm qua đã có những buổi biết ơn thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa tại chùa Liên Trì, tại dòng Chúa Cứu Thế, và buổi lễ thành kính tưởng niệm những lãnh tụ và tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh vì nước vì dân.

Với tình hình hiện nay, dù tìm đủ cách vặn vẹo, thoái thác, và trấn áp đảng CSVN vẫn ngày càng nhích gần tới lằn mức phải thừa nhận những hành động phản lại đất nước và những núi nợ xương máu dân tộc mà các thế hệ lãnh đạo đảng đã gây ra từ ngày thành lập cho đến nay — giống như tất cả các đảng cộng sản khác trên thế giới mà nhân loại đã ghi chi tiết trong cuốn Sách Đen Cộng Sản: Tội ác, Khủng bố, Đàn áp (The Black Book of Communism: Crimes, Terror, Repression).

Liệu hàng ngũ đảng viên và thế hệ lãnh đạo đảng CSVN kế tiếp có muốn thừa kế cái di sản tội lỗi và các món nợ đó không? Nếu không thì phải làm gì?

Lê Vĩnh


- - -

Ghi chú:
(1) Paracels Islands Dispute By Frank Ching, Far Eastern Economic Review, Feb 10, 1994. _http://www.nguyenthaihocfoundation.org/lichsuVN/frankching.htm

(2) _http://lawofwar.org/vietnam_pow_policy.htm

(3) _http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a

(4) _http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_C%E1%BB%99ng _h%C3%B2a

(5) _http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A3o_lu%E1%BA%ADn:Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB %99ng_h%C3%B2a

(6) Viet Nam Cộng hòa là thành viên trong một số tổ chức quốc tế như:

Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO),
Ủy ban Kinh tế của Liên hiệp quốc về Á châu và Viễn Đông ECAFE,
Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực FAO (1950);
Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế IAEA (1957);
Tổ chức Hàng không Dân sự Quốc tế ICAO (1954);
Hiệp hội Phát triển Quốc tế IDA;
Tổ chức Lao động Quốc tế ILO (1950);
Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF (1956);
Liên hiệp Viễn thông Quốc tế ITU (1951);
Tổ chức Giáo dục, Khoa học, và Văn hóa Liên hiệp quốc UNESCO (1951);
Quỹ Thiếu nhi Liên hiệp quốc UNICEF, Liên hiệp Bưu chính Quốc tế UPU (1951);
Tổ chức Y tế Quốc tế WHO (1950);
Tổ chức Khí tượng Thế giới WMO (1955),
Ngân hàng Thế giới (1956), và
Ngân hàng Phát triển châu Á (1966)


Năm 1957, Việt Nam Cộng hòa đứng đơn gia nhập Liên hiệp quốc do Hoa Kỳ đề cử. Đại Hội đồng (General Assembly) bỏ phiếu 40 thuận, 8 chống. Việc này chuyển lên Hội đồng Bảo an chung quyết. Liên Xô thì muốn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng gia nhập nhưng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bác bỏ việc này nên cuối cùng Liên Xô phủ quyết đơn của Việt Nam Cộng hòa

(7) Một thì dụ điển hình về việc bảo vệ tài nguyên quốc gia của Hải Quân VNCH là một tin đồn lan rộng vào khoảng mùa hè năm 1974. Tin đồn này cho rằng có một ngư trường (đàn cá) dài 30 cây số ở ngoài khơi Phan Thiết bị tàu đánh cá nước ngoài chặn bắt và báo chí (tương đối có tự do) đã thống trách chính phủ và hải quân VNCH rất nhiều. Cho đến khi có những nguồn tin độc lập xác nhận đó chỉ là tin đồn vô căn cứ thì sự thống trách này mới chấm dứt.

(8) _http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_san_S%E1%BB%AD_%C4%90%E1%BB%8Ba


Nguồn: Radio Chân Trời Mới