Friday, May 26, 2017

Việt Nam Cộng Hoà: Chính Thể hay Ngụy Quyền?

Hai mươi năm trước, trong một bài viết về tranh chấp ở Biển Đông đăng trên báo Far Eastern Economic Review ngày 10/2/1994 (1), ký giả Frank Ching đã thuật lại lời khẳng định của nhiều quan chức cao cấp Cộng Sản Việt Nam

Việt Nam Cộng Hoà: Chính Thể hay Ngụy Quyền?


Huy hiệu Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa (Ảnh Wikipedia)

Audio: Việt Nam Cộng Hoà: Chính Thể hay Ngụy Quyền?

phần 1

phần 2

phần 3

Hai mươi năm trước, trong một bài viết về tranh chấp ở Biển Đông đăng trên báo Far Eastern Economic Review ngày 10/2/1994 (1), ký giả Frank Ching đã thuật lại lời khẳng định của nhiều quan chức cao cấp Cộng Sản Việt Nam (CSVN) vào thập niên 50 của thế kỷ trước rằng: “Hoàng Sa – Trường Sa, theo quan điểm lịch sử, là thuộc về Trung Quốc", cùng với dẫn chứng bức công hàm năm 1958 của ông Phạm Văn Đồng. Frank Ching cũng nhận xét: “Trong những ngày đó, chế độ Hà Nội rất hăng hái trong việc lên án chính quyền miền Nam, cho họ là những con rối của Mỹ, là những kẻ đã bán đứng quyền lợi của nhân dân Việt Nam. Ngay cả lúc đó, một điều rõ ràng là những lời cáo buộc này đã không có căn cứ. Bây giờ, 20 năm sau -1994-, cũng lại một điều rõ ràng là đã có những lúc mà chính quyền Sài Gòn đã thật sự đứng lên cho quyền lợi của dân tộc Việt Nam, một cách vô cùng mạnh mẽ, hơn xa chính quyền tại Hà Nội.”

Ký giả Frank Ching kết luận bài viết đó như sau: “Những gì xảy ra ngày hôm nay liên hệ đến hai quần đảo này (Hoàng Sa - Trường Sa) chỉ là hậu quả của sự trí trá của hai người cộng sản anh em trong qúa khứ. Không một ai trong cộng đồng thế giới muốn bước vào để dàn xếp sự bất đồng giữa Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc. Lý do rất rõ ràng: cái công hàm ngoại giao và sự nhìn nhận của Cộng sản Việt Nam không thể nào xoá bỏ được bởi một nước nhỏ như Việt Nam, kẻ đã muốn chơi đểu để lừa dối Trung Quốc. Hơn nữa, Cộng sản Việt Nam không thể nào tránh được Trung Quốc trong khi họ phải bắt chước theo chính sách ’đổi mới’ của Trung Quốc để tiến lên chủ nghĩa xã hội.”

Trở về hiện tại, năm 2014, với biến cố giàn khoan HD981 của Trung Cộng vẫn còn đang nóng hổi, tất cả những gì Frank Ching đã viết từ 20 năm trước lại đang được lập lại. Điều khác biệt duy nhất lần này là: 20 năm trước, với sự bưng bít thông tin vô cùng chặt chẽ của nhà nước CSVN rất ít người biết đến những bằng chứng như bức công hàm Phạm Văn Đồng dù những điều này đã được truyền thông bên ngoài Việt Nam đề cập đến nhiều lần; nhưng với thời đại Internet ngày nay, CSVN không thể nào che giấu được nữa nên đã phải chính thức công bố công hàm Phạm Văn Đồng. Từ đó, họ cũng phải đưa ra luận điểm Hoàng Sa - Trường Sa không thuộc quyền quản lý của Miền Bắc. Và vì thế bắt buộc phải nhìn nhận Việt Nam Cộng Hoà (Việt Nam Cộng Hòa) — một chính thể mà suốt 60 năm qua Hà Nội đã không ngớt mạ lỵ bằng đủ mọi ngôn từ hạ cấp. Những người lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa bị Hà Nội gọi là “thằng này thằng nọ”, “tên này tên kia”.

Nhân diễn biến mới này cùng với nhiều dữ kiện lịch sử khác đã lộ ra ánh sáng, thiết tưởng đã đến lúc cần đặt câu hỏi toàn diện cho các thế hệ mai sau.

Việt Nam Cộng Hòa: chính thể hay ngụy quyền?

Trước hết, nhìn từ mắt thế giới bên ngoài, khó ai có thể phủ nhận một thực tế lịch sử là đã từng có một chính thể đại diện cho một nửa nhân dân và tổ quốc Việt Nam ở phía Nam vĩ tuyến 17. Chính thể này được phần lớn các quốc gia không cộng sản trên thế giới công nhận. Thật vậy, tính đến năm 1975 chính thể này đã được 87 quốc gia trên thế giới công nhận và lập bang giao chính thức (2), 6 quốc gia ở cấp bán chính thức (3). Trong khi đó, chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) tại miền Bắc, tính đến năm 1972 chỉ được 49 quốc gia thừa nhận (4) và không thay đổi gì tính đến 1975.

Ngay cả nếu xét theo chính định nghĩa của đảng CSVN về một chính thể thì càng vô cùng khó phủ nhận vai trò của Việt Nam Cộng Hòa. Một trong những tài liệu học tập lâu năm cho cán bộ cấp cao CSVN là quyển giáo trình lý luận về nhà nước và pháp luật của nhà xuất bản Công An Nhân Dân (5). Theo họ các điều kiện đủ để gọi một quốc gia, một chính thể là: 1/ Có lãnh thổ, quản lý trên một vùng lãnh thổ; 2/ có dân cư; 3/ có pháp luật; 4/ Thu thuế; 5/ Có bộ máy, chính quyền, tổ chức quân đội....; 6/ Có chủ quyền quốc gia (tham gia đàm phán quốc tế, và được quốc tế công nhận). Cả 5 điều kiện đầu đã quá rõ. Riêng điều kiện thứ 6 thì Việt Nam Cộng Hòa còn vượt xa VNDCCH. Lúc đó chính quyền ở miền bắc chỉ là thành viên của các cơ chế thuộc phe xã hội chủ nghĩa gồm 11 quốc gia, mà đến nay gần như tất cả đều đã biến mất; còn Việt Nam Cộng Hòa đã là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực (6) Chỉ sau khi chiếm được miền Nam nhiều năm, chính quyền cộng sản mới gia nhập những tổ chức quốc tế đó thay chân Việt Nam Cộng Hòa.

Còn câu hỏi về bản chất "ngụy quyền" thì sao? Hiển nhiên khi dùng từ ngữ mang tính phỉ báng này, giới lãnh đạo CSVN muốn nói rằng Việt Nam Cộng Hòa chỉ là một chính phủ bình phong, tay sai, hay ngay cả bán nước cho "đế quốc Mỹ" hay thế giới tư bản. Nhưng thực tế đã ngày càng rõ. Rất nhiều người trong nhiều năm lục lọi khắp nơi, kể cả các văn khố buộc phải giải mật theo đúng qui định của luật Tự Do Thông Tin (Freedom of Information Act) tại Mỹ, đều không có chứng cớ phản quốc nào. Khi thế giới Internet nở rộ, mấy năm trước đây một diễn đàn nổi tiếng là X-Càphê đã mở một chiến dịch khá lâu để tìm kiếm những bằng chứng xem Việt Nam Cộng Hòa có một văn bản “bán nước” nào tương tự như công hàm Phạm Văn Đồng không. Sau nhiều tháng cố gắng, không ai tìm được văn bản nào cả. Và trong suốt 20 năm hiện hữu, một dữ kiện lịch sử hiển nhiên là Việt Nam Cộng Hòa đã không để mất bất kỳ phần lãnh thổ nào của đất nước ngoại trừ quần đảo Hoàng Sa sau khi chống cự mãnh liệt. Trong thời Việt Nam Cộng Hòa không hề có chuyện dâng nhượng đất biên giới trên bộ, dâng nhượng hải phận ngoài khơi, cho "mướn" các khu rừng biên giới 50 năm, v.v...

Nhưng những điểm nêu trên chỉ mang tính định nghĩa. Điều còn quan trọng hơn nữa là chính thể Việt Nam Cộng Hòa đã làm được gì cho đất nước và xã hội.

Việt Nam Cộng Hòa: có làm đúng trách nhiệm của một chính phủ không?

Trách nhiệm lớn nhất của một chính quyền là phải bảo vệ đất nước và người dân. Trong suốt thời gian hiện hữu, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã xem trách nhiệm này như thế nào? Hiển nhiên một bài viết ngắn ngủi loại này không thể liệt kê các nỗ lực suốt 20 năm, dù chỉ viết tổng quát, nhưng có lẽ một thí dụ sau đây có thể minh họa phần nào ý thức của chính thể Việt Nam Cộng Hòa về nhiệm vụ bảo vệ đất nước:

Với sức mạnh quân đội dồn hầu hết vào không quân và bộ binh, Hải quân Việt Nam Cộng Hòa chỉ có một số chiến hạm chiến đỉnh khiêm tốn, nhưng tất cả đã được trưng dụng vào mục tiêu bảo vệ từ sông đến biển của tổ quốc ngày đêm, chứ không “bám bờ” hay thỉnh thoảng khoe đã đi “tuần tiễu chung” với hải quân (kẻ thù) Trung Cộng như ngày nay. Trong số những vòng canh từ biển khơi vào bờ, chỉ có vòng viễn dương do đệ thất hạm đội Hoa Kỳ phụ trách; còn các vòng khác từ viễn duyên, cận duyên, đến sông lạch chằng chịt đều do Hải quân Việt Nam Cộng Hòa trách nhiệm. Hệ thống radar của các vòng canh trên kèm với các đài kiểm báo, không tuần (của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa) đan chen nhau chặt chẽ nên rất hiếm có trường hợp tàu lạ xâm nhập qua được mạng lưới này. Việc bảo vệ chủ quyền cũng vượt trên mọi lý do khác. Các tàu đánh cá Thái Lan vi phạm hải phận Việt Nam đều bị bắt đưa về Phú Quốc hay Kiên Giang (7) bất kể Thái Lan đang là một đồng minh quan trọng.

Về trách nhiệm phát triển đất nước, mặc dù chính phủ Việt Nam Cộng Hòa hàng ngày phải đối diện với cuộc chiến tranh tàn khốc suốt 15 năm (từ 1960 đến 1975), nhưng các nỗ lực phát triển đã khá thành công trong mọi phương diện, từ giáo dục đến kinh tế, nông-lâm-ngư nghiệp, công kỹ nghệ, thương mại, v.v.. Những điều này đã được các học giả cả Việt Nam lẫn quốc tế thu thập để so sánh sức phát triển giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam khi họ làm các khảo sát tương tự để so Tây Đức và Đông Đức, Nam Hàn và Bắc Hàn, Đài Loan và Trung Cộng. Trong bài viết ngắn ngủi này, tác giả chỉ xin nhắc lại một vài lãnh vực đặc sắc nhất.

Với định hướng “nhân bản, dân tộc và khai phóng”, nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa cho đến nay vẫn tiếp tục là niềm nuối tiếc của nhiều người, đặc biệt khi nhớ lại những chiến dịch tập trung đốt sách của nhà cầm quyền CSVN trong thời gian ngay sau tháng 4/1975. Ông Mai Thái Lĩnh, cựu sinh viên Viện Đại học Đà Lạt, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Lạt đã kể lại rằng: “Tôi là con của một cán bộ Việt Minh – tham gia Cách mạng tháng Tám tại Lâm Đồng sau đó tập kết ra miền Bắc [...] Chế độ Việt Nam Cộng hòa lúc đó biết lý lịch của tôi, nhưng vẫn không phân biệt đối xử, cho nên tôi vẫn có thể học hành đến nơi đến chốn. Tính chất tốt đẹp của nền giáo dục cũ của miền Nam là điều tôi công khai thừa nhận, vì vậy suốt 14 năm phục vụ trong ngành giáo dục “xã hội chủ nghĩa” tôi bị người ta gán cho đủ thứ nhãn hiệu, chụp cho nhiều thứ mũ chỉ vì tôi nêu rõ những ưu điểm của nền giáo dục cũ cần phải học hỏi.”

Kỷ luật học đường, vai trò của thầy cô, tinh thần ham học của cả nước, trình độ của sách giáo khoa, và giá trị của các bằng cấp thời Việt Nam Cộng Hòa đều được cả xã hội duy trì và đòi hỏi chính phủ phải duy trì. Tuy là nước nhỏ, nghèo và chiến tranh triền miên, các bằng cấp của trường lớp Việt Nam được các đại học lớn trên thế giới công nhận. Những sinh viên được tuyển chọn đi du học thời đó thực sự là những tinh hoa tương lai của đất nước.

Và cũng trong những ngày tháng liên tục khói lửa đó, chính thể Việt Nam Cộng Hòa đã ra sức xây dựng nền tảng pháp quyền. Dù có bị hạn chế ít nhiều bởi chiến tranh nhưng các quyền cơ bản của con người đều có, từ tự do báo chí, tự do tôn giáo, đến tự do lập hội. Ngay cả quyền của các cá nhân và đảng phái đối lập cũng được luật pháp bảo vệ. Trong thời gian gần đây, ông Lê Hiếu Đằng kể lại việc ông được học luyện thi tú tài trong tù và được cảnh sát chở từ phòng tù đến phòng thi như thế nào. Bức hình chụp cảnh bà Ngô Bá Thành tuyệt thực sau đây cũng giúp mọi người hình dung được những người đối lập với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa vẫn được luật pháp bảo vệ như thế nào.


Các cuộc bầu cử ở mọi cấp, từ tổng thống đến xã trưởng, đã được liên tục thực hiện khá tự do, trong sáng, và công bằng bất kể "quân giải phóng" luôn cố gắng gài mìn các phòng phiếu để răn đe người đi bầu. Đặc biệt sự độc lập giữa 3 ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp là một thực tế chứ không phải bánh vẽ trong các bộ luật. Tác giả Hạ Đình Nguyên trong một bài viết cách đây khoảng một năm đã thuật lại một chuyện có thật và có nhiều người biết. Đó là chính tổng thống Việt Nam Cộng Hòa đến trụ sở Tối Cao Pháp Viện yêu cầu tòa án kết án những nghi can “thân cộng” (mà sau 1975 các nghi can đó đều lộ dạng là cộng sản thật) nhưng đã bị từ chối. Hơn thế nữa, cơ chế Tối Cao Pháp Viện của thể chế Việt Nam Cộng Hòa còn có thẩm quyền truất phế Tổng thống, Phó Tổng thống, Thủ tướng, Tổng trưởng, Bộ trưởng, v.v. khi chứng minh được các nhân sự đó phạm tội phản quốc, tức tương đương với những vụ như ký công hàm Phạm Văn Đồng hay đi dự Hội nghị Thành Đô, v.v.

Về mặt xã hội, dù nay đã bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ 21 nhưng nhà cầm quyền Hà Nội vẫn sợ hãi sinh hoạt xã hội dân sự. Trong khi đó thì 60 năm trước, dưới thời Việt Nam Cộng Hòa các đoàn thể xã hội dân sự đã phát triển rất đa dạng (một cách tổng quát, xã hội dân sự bao gồm các đoàn thể không thuộc chính phủ mà cũng không thuộc giới kinh doanh). Những đoàn thể xã hội dân sự này đã đóng góp rất lớn cho xã hội từ văn hóa đến giáo dục, y tế, tương trợ, giúp đỡ nạn nhân thiên tai, nạn nhân chiến cuộc. Nhiều người còn nhớ những đoàn thể có tên tuổi trong ngành công tác xã hội như Cô nhi viện Dục Anh, Cô nhi viện Quách Thị Trang, Trại giáo hóa thanh thiếu niên phạm pháp Thủ Đức, Viện dưỡng lão Thị Nghè, Trung tâm hướng nghiệp Vườn Lài, Quán cơm xã hội Anh Vũ (phát cơm cho người nghèo). Những đoàn thể tiêu biểu khác là Hội Hồng Thập Tự, Hướng đạo Việt Nam, Trường Bách khoa Bình dân, nhóm Thanh niên Phụng sự Xã hội và Gia đình Phật tử của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Thiếu nhi Thánh thể và Thanh Sinh Công của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, Phong trào Du ca Việt Nam, Hội Thanh niên Thiện chí, v.v.

Trước các vấn nạn lớn của đất nước, người dân tự động tham gia góp phần cùng lo lắng, cùng báo động, cùng góp ý giải quyết chứ không chờ xin phép ai. Một trường hợp điển hình là Tập San Sử Địa thời đó. Đây là một tập san sưu tầm, khảo cứu chuyên ngành do nhóm giáo sư, sinh viên Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn tự đứng ra thực hiện, phát hành mỗi 3 tháng. Toàn bộ Tập San Sử Địa gồm 29 số, được phát hành từ năm 1966 cho tới tháng 4 năm 1975 thì bị cấm (8). Số cuối cùng “Đặc Khảo về Trường Sa và Hoàng Sa”, thu thập và trình bày nhiều tài liệu lịch sử chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo này mà hiện nay nhà nước CSVN đang phải dùng tới.

Việt Nam Cộng Hòa: Thêm một tiến thoái lưỡng nan cho lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam

Đối diện với các bước xâm lấn ngày một trắng trợn của Bắc Kinh và trước các chứng tích bảo vệ đất nước không thể chối cãi của các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, lãnh đạo đảng CSVN đã thấy quá khó để tiếp tục gọi họ là "ngụy quyền bán nước", đặc biệt sau khi mấy đời lãnh đạo CSVN liên tục ký nhượng đủ loại chủ quyền cho Bắc Kinh suốt từ Hội Nghị Thành Đô 1990 đến nay. Loại bài bản "ngụy quyền bán nước" nay cũng trơ trẽn và tác dụng ngược như việc nhà cầm quyền này tống người biểu tình phản đối Trung Cộng vào trại phục hồi nhân phẩm để "giáo dục họ về lòng yêu nước".

Hơn thế nữa, khi quá kẹt vụ công hàm Phạm Văn Đồng, không còn cách chối tội nào khác, lãnh đạo Đảng đành dùng luận điểm chống chế: 2 quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa lúc đó thuộc quyền cai quản của "chính thể Việt Nam Cộng Hòa". Đây là điều mà đảng CSVN đã cố tránh suốt gần 4 thập niên qua vì những hệ lụy sau đây:


Khi đã công nhận Việt Nam Cộng Hòa là một chính thể với đầy đủ thẩm quyền trước thế giới và lại xử dụng cả những chứng tích bảo vệ chủ quyền đất nước bằng xương máu của họ thì nhà cầm quyền CSVN cũng đương nhiên đã thừa nhận những luận điệu bôi nhọ Việt Nam Cộng Hòa "tay sai bán nước" là hoàn toàn dối trá. Và nếu Việt Nam Cộng Hòa không "bán nước" thì Hoa Kỳ cũng không thể là "đế quốc" tại Việt Nam.

Khi đã công nhận Việt Nam Cộng Hòa là một chính thể thì không thể tiếp tục phủ nhận cơ chế, sinh hoạt cũng như mức phát triển của xã hội bên dưới thể chế này. Và với những chi tiết đó, ai cũng có thể thấy đời sống của người dân tại miền Nam trong mọi lãnh vực từ nhân phẩm, nhân quyền đến các lợi ích giáo dục, kinh tế đều diễm phúc hơn đồng bào của họ tại miền Bắc. Do đó luận điệu "giải phóng miền Nam" cũng đương nhiên được thừa nhận là hoàn toàn dối trá.

Với 2 sự thừa nhận nêu trên thì lý do duy nhất còn lại của lãnh đạo CSVN khi nhất định đốt cả dãy Trường Sơn để "giải phóng" miền Nam chỉ có thể là: dùng máu người Việt cùng với súng Nga và đạn Tàu để mở rộng thế giới đỏ. Đúng như lời Tổng Bí Thư Lê Duẫn buột miệng nói ra trong một phút quá cao hứng sau ngày chiến thắng: "Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc!"

Cái công trạng "lãnh đạo toàn dân đánh Mỹ cứu nước" không những lập tức biến mất mà còn hiện ra một món nợ máu kinh hồn của hàng triệu sinh mạng người Việt Nam chỉ vì vài lãnh đạo Đảng thích cầm cờ đầu cho Mátxcơva và Bắc Kinh.

Chính từ sự giằng co giữa nhu cầu phải công nhận chính thể Việt Nam Cộng Hòa để thoát vụ công hàm Phạm Văn Đồng và nỗi sợ các hệ lụy của sự công nhận đó mà người ta thấy trong lúc báo chí công cụ nhắc đến "chính thể Việt Nam Cộng Hòa" và trận chiến Hoàng Sa nhưng công an lại được tung ra để phá hoại những buổi lễ của dân tưởng nhớ những người con anh dũng đó của đất nước. Công an sẵn sàng giở cả những trò hèn kém như đóng kịch cắt đá hay xông vào giật nhang, giật hoa, và gây sự để bắt bớ tại các buổi lễ tưởng niệm. Lãnh đạo đảng còn sợ đến độ tìm đủ loại lý cớ để bắt giam những người như blogger Nguyễn Hữu Vinh (Ba Sàm) để không chỉ đóng trang tổng hợp tin tức của anh mà còn để đóng cả trang Viết Sử Việt do anh chủ trương.

Nhưng có lẽ nhà cầm quyền CSVN đã quá chậm và quá trễ trong thời đại Internet hiện nay. Một xã hội nhân bản, một chính phủ có khả năng, và một thể chế yêu nước như thời Việt Nam Cộng Hòa đang là ước vọng của rất nhiều người Việt Nam thuộc đủ mọi lứa tuổi và thành phần. Chính vì vậy mà trong mấy năm qua đã có những buổi biết ơn thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa tại chùa Liên Trì, tại dòng Chúa Cứu Thế, và buổi lễ thành kính tưởng niệm những lãnh tụ và tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh vì nước vì dân.

Với tình hình hiện nay, dù tìm đủ cách vặn vẹo, thoái thác, và trấn áp đảng CSVN vẫn ngày càng nhích gần tới lằn mức phải thừa nhận những hành động phản lại đất nước và những núi nợ xương máu dân tộc mà các thế hệ lãnh đạo đảng đã gây ra từ ngày thành lập cho đến nay — giống như tất cả các đảng cộng sản khác trên thế giới mà nhân loại đã ghi chi tiết trong cuốn Sách Đen Cộng Sản: Tội ác, Khủng bố, Đàn áp (The Black Book of Communism: Crimes, Terror, Repression).

Liệu hàng ngũ đảng viên và thế hệ lãnh đạo đảng CSVN kế tiếp có muốn thừa kế cái di sản tội lỗi và các món nợ đó không? Nếu không thì phải làm gì?

Lê Vĩnh


- - -

Ghi chú:
(1) Paracels Islands Dispute By Frank Ching, Far Eastern Economic Review, Feb 10, 1994. _http://www.nguyenthaihocfoundation.org/lichsuVN/frankching.htm

(2) _http://lawofwar.org/vietnam_pow_policy.htm

(3) _http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a

(4) _http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam_D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_C%E1%BB%99ng _h%C3%B2a

(5) _http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A3o_lu%E1%BA%ADn:Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB %99ng_h%C3%B2a

(6) Viet Nam Cộng hòa là thành viên trong một số tổ chức quốc tế như:

Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO),
Ủy ban Kinh tế của Liên hiệp quốc về Á châu và Viễn Đông ECAFE,
Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực FAO (1950);
Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế IAEA (1957);
Tổ chức Hàng không Dân sự Quốc tế ICAO (1954);
Hiệp hội Phát triển Quốc tế IDA;
Tổ chức Lao động Quốc tế ILO (1950);
Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF (1956);
Liên hiệp Viễn thông Quốc tế ITU (1951);
Tổ chức Giáo dục, Khoa học, và Văn hóa Liên hiệp quốc UNESCO (1951);
Quỹ Thiếu nhi Liên hiệp quốc UNICEF, Liên hiệp Bưu chính Quốc tế UPU (1951);
Tổ chức Y tế Quốc tế WHO (1950);
Tổ chức Khí tượng Thế giới WMO (1955),
Ngân hàng Thế giới (1956), và
Ngân hàng Phát triển châu Á (1966)


Năm 1957, Việt Nam Cộng hòa đứng đơn gia nhập Liên hiệp quốc do Hoa Kỳ đề cử. Đại Hội đồng (General Assembly) bỏ phiếu 40 thuận, 8 chống. Việc này chuyển lên Hội đồng Bảo an chung quyết. Liên Xô thì muốn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng gia nhập nhưng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bác bỏ việc này nên cuối cùng Liên Xô phủ quyết đơn của Việt Nam Cộng hòa

(7) Một thì dụ điển hình về việc bảo vệ tài nguyên quốc gia của Hải Quân VNCH là một tin đồn lan rộng vào khoảng mùa hè năm 1974. Tin đồn này cho rằng có một ngư trường (đàn cá) dài 30 cây số ở ngoài khơi Phan Thiết bị tàu đánh cá nước ngoài chặn bắt và báo chí (tương đối có tự do) đã thống trách chính phủ và hải quân VNCH rất nhiều. Cho đến khi có những nguồn tin độc lập xác nhận đó chỉ là tin đồn vô căn cứ thì sự thống trách này mới chấm dứt.

(8) _http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_san_S%E1%BB%AD_%C4%90%E1%BB%8Ba


Nguồn: Radio Chân Trời Mới

Wednesday, May 24, 2017

Những chính trị gia gốc Việt
Author: Phan HưngPosted on: 2017-05-23
vài người Việt, vì sống quá lâu trong cuộc chiến Việt Nam, do lòng căm thù cộng sản còn sâu đậm, nên khi sang Hoa Kỳ họ vẫn còn bị tác động tâm lý này ảnh hưởng khi nhìn nhiều vấn đề khác. Nhất là chuyện chính trị tại một nước quá lớn, và quá mới đối với họ. Dù họ có sống mấy chục năm cũng chưa chắc đã quen. Một ví dụ, họ không hiểu tại sao tổng thống Mỹ phải qua hai cuộc bầu phiếu, một popular, một deligate. Họ không hiểu rằng đây là biện pháp chống gian lận vô cùng hữu hiệu mà những nhà lập quốc đầu tiên của Hoa Kỳ đưa ra, nhằm ngăn chận tình trạng tiểu bang lớn đàn áp tiểu bang nhỏ. Nếu chỉ dùng phổ thông đầu phiếu, kẻ gian lận chỉ cần hốt phiếu của hai tiểu bang lớn, như California và Florida chẳng hạn, là thắng cử. Cứ như vậy, các tiểu bang nhỏ chỉ luôn là đám muỗi mòng. Điều này chắc chắn sẽ có lúc dẫn đến nội chiến, do kẻ thù bên ngoài đâm thọc, xúi dục để phá thối và lợi dụng.
Tình trạng thương ghét ở trên cũng là chuyện bình thường đối với vài người Việt có đầu óc cố chấp, hẹp hòi. Sống ở Mỹ nhưng họ chỉ lẩn quẩn trong cộng đồng người Việt, và suy nghĩ như đã từng sống cách đây mấy chục năm bên bờ tre, bụi chuối ở Việt Nam. Đây chỉ là di chứng tâm lý, vì vô tình nên họ không hề nhận biết. Nhất là đối với ai đã lỡ không thích một người nào từ trước. Đối với họ, kẻ họ đã lỡ không thích, không ưa, thì không bao giờ được quyền làm điều hay điều tốt.
Khi thương trái ấu cũng tròn, khi ghét trái bồ hòn cũng méo.
Đã sống ở Mỹ, chúng ta nên tập vượt thắng thói quen bờ tre, rẫy bắp này. Nên có cái nhìn cởi mở và rộng thoáng hơn. Hãy cố gắng quên cá nhân Donald Trump. Cá nhân Trump chẳng là cái gì cả. Ngày mai có thể ông này bị đứng tim mà chết cũng không ai biết được. Ở cái tuổi 71, với bao áp lực nặng nề đè lên đầu tổng thống Mỹ, chưa chắc ông ta đủ sức khỏe sống lâu đâu. Chưa nói là có thể bị bắn chết bất kỳ lúc nào. Bởi nếu ông không là tổng thống Mỹ, chúng ta có biết Donald Trump là ai. Hơn nữa, cá nhân Trump không là gì cả. Chúng ta nên tập bình tĩnh, và coi xem con người này, trong vai trò tổng thống Mỹ, ông ta đã làm gì và sẽ làm được gì cho nước Mỹ, và tình hình thế giới, tốt hơn nữa là đối với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay.
Cái đám báo Người Việt này là kẻ đã tiếp Nguyễn Tấn Dũng, ngay tại Little Saigon, khi tên này chưa làm thủ tướng. Là đám mà năm 1986, cho phát hình lá cờ máu của Việt cộng bay đỏ rực trên màn hình tivi trong đoạn mở đầu chương trình Truyền Hình Người Việt, khiến cả cộng đồng người Việt vô cùng phẫn nộ. Là đám cho đăng bài chửi người lính Việt Nam Cộng Hòa. Là đám cho đăng cờ Việt Nam Cộng Hòa bỏ trong bồn cầu tiêu. Là đám xuất bản cuốn Bên Thắng Cuộc do tên sĩ quan công an cộng đảng Huy Đức, tay sai Võ Văn Kiệt cậy nhờ xuất bản bên Mỹ.Chúng ta nên cẩn thận.
gì đi nữa, hiện tại Donald Trump vẫn là tổng thống thứ 45 của Mỹ. Cho dù ngày mai ông ta bị truất phế hay bị giết chết. Bất cứ một biến động nào cũng làm rối loạn nền chính trị Hoa Kỳ. Chắc chắn sẽ có kẻ lợi dụng và thao túng. Kẻ đó là ai, với sự hiểu biết quá nghèo nàn, nhỏ hẹp trong thân phận hèn mọn của kẻ tỵ nạn, chúng ta không thể nào biết rõ được. Nhưng khi quốc gia có rối loạn, dù đó là Mỹ, chắc chắn có kẻ phá đám để lợi dụng. Cuộc thảm sát tổng thống Ngô Đình Diệm vào năm 1963 là một bằng chứng và kinh nghiệm lịch sử cho nhiều người Việt Nam. Nói cho cùng Trump chỉ mới lên làm tổng thống có 4, 5 tháng.
Thực ra, những chuyện ồn ào đòi trù dập liên tục này không có gì mới lạ. Vượt qua những cơn sóng to gió dữ mới đáng mặt hào kiệt làm nên lịch sử. Bị quật té bể đầu thì cũng là chuyện có sức chơi, có sức chịu.
Khi Trump thắng phiếu, ngay hôm sau đã có xuống đường biểu tình bạo động chống Trump khắp nơi. Tiếp đến có  phong trào cho rằng gian lận, đòi hủy bỏ kết quả. Khi làm lễ nhậm chức có phong trào đòi phá vỡ lễ nhậm chức, chận đường không cho Trump đến lễ đài. Sau khi Trump nhậm chức vài ngày liền có phong trào đòi truất phế Trump. Có người còn đòi giết Trump. Đến cả tiểu bang California đòi tách rời khỏi Mỹ lập nước riêng vì không chấp nhận Trump. Những điều này không mới mẻ gì. Cả thế giới nổi lên chống, ngay hôm sau khi Trump vừa thắng phiếu. Một điều chưa từng xảy ra trong lịch sử 44 tổng thống Hoa Kỳ trước đây. Không mấy người Việt thắc mắc, tại sao có chuyện lạ đời và toàn cầu như vậy. E rằng tổng thống thứ 16, hay 35 của Mỹ là ai họ cũng không biết. Nhưng bàn chuyện chính trị Mỹ ngoài quán cà phê vỉa hè thì họ rành lắm. Điều chúng ta thường gọi là trà dư tửu hậu. Nhưng đối với họ đó là chuyện kinh bang tế thế, bên ly cà phê và nửa khúc bánh mì.
Cho nên, đối với Trump không có chuyện này cũng sẽ có chuyện khác. Đây là điều Donald Trump phải chấp nhận khi muốn nhảy vào chính trường Mỹ. Dù là cường quốc, không có nghĩa là Mỹ không chịu sự thao túng nặng nề và phá thối của bao nhiêu trung tâm quyền lực khác trên thế giới. Họ là ai, chắc gì chúng ta biết rõ. Hoa Kỳ sống sót được trong suốt 241 năm nay là quá giỏi rồi. Mà lại trở nên cường quốc trên thế giới.Có vậy hôm nay đám người Việt bèo nhèo chúng ta mới sống nhởn nhơ bên Mỹ, ngồi ngoài quán cà phê gặm bánh mì, bàn chuyện chính trị Hoa Kỳ. Riêng điều này cũng đủ khiến hàng trăm quốc gia khác ganh ghét và quyết tâm liên tục phá thối. Trong khi đó, Việt Nam Cộng Hòa chỉ sống được có 19 năm (1956-1975), với bao tang thương và chết chóc để bây giờ cả nước Việt Nam, từ Nam Quan đến Cà Mau, coi như mất vào tay Tàu cộng.
Không nên cho rằng tất cả chính trị gia chuyên nghiệp (career politician) ở Mỹ là những người chỉ lo cho Hoa Kỳ. Nghề của họ là làm chính trị để kiếm sống, không phải để lo cho Hoa Kỳ. Một vài người Việt chưa quen, và hiểu, rằng làm chính trị tại Mỹ, tương tự như bác sĩ, chỉ là một cái nghề kiếm sống, một career, không phải là lý tưởng phục vụ đất nước hay dân tộc. Clint Eastwood, Arnold Schwarzenegger làm nghề diễn viên điện ảnh. Gặp thời gặp lúc họ chuyển sang nghề làm chính trị. Hết thời họ chuyển lại nghề diễn viên điện ảnh. Hay Jasen Chaffetz đang là dân biểu hạ viện, tuyên bố sẽ bỏ nghề chính trị, để có thì giờ lo cho gia đình vợ con. Cũng như những người làm kỹ sư, hay assembly để kiếm sống, không phải để lo cho công ty phát triển lớn mạnh. Chỗ nào trả tiền nhiều hơn là bỏ chỗ cũ sang chỗ mới. Cũng vậy, những chính trị gia chuyên nghiệp theo phe cũ không làm nên ăn ra, họ sẵn sàng bỏ, nhảy sang phe khác. Chứ cũng chẳng lý tưởng hay lý tượng gì cả. Có mấy chính trị gia quán cà phê vỉa hè người Việt biết Hillary Clinton, và Leon Panetta, trước đây theo Cộng Hòa, sau đó bỏ Cộng Hòa nhảy sang Dân Chủ. Chưa nói đến việc cùng một phe mà còn năm bè bảy cánh. Có lúc họ ồn ào chê, chửi để gây tiếng vang nhằm hốt phiếu, chứ thực ra họ cũng chẳng thù oán gì ai. Nghề chuyên môn của career politician là vậy. Ví dụ, khi Trump không cho phóng viên CNN tham dự họp báo, John McCain liền lớn tiếng ồn ào tuyên bố Trump vi phạm Tu Chính Án thứ nhất, là kẻ độc tài, cần phải bị truất phế. Thật ra, John McCain chỉ lợi dụng, ồn ào để chuẩn bị cho kỳ tới. Cá nhân ông ta chưa chắc ghét bỏ gì Trump. Vài người Việt không hiểu chuyện, nghe John McCain chửi Trump, đúng với sự ghét hận của riêng ẩn chứa trong lòng nên hùa theo rối rít, để thỏa mãn ẩn ức tâm lý bệnh hoạn sâu kín trong lòng. Những người này cũng chẳng phải thù ghét gì Trump. Họ chỉ muốn thỏa mãn căn bệnh ganh ghét thầm kín của họ, và chứng tỏ họ luôn nhận xét đúng. Họ đã nhận xét thì không thể sai được. Nhất là kẻ họ nhận xét lại là tổng thống Hoa Kỳ. Bảo kẻ đó xấu thì chắc chắn kẻ đó không bao giờ có thể tốt. Đã khen người nào thì kẻ đó không thể dỡ được. Ngoài ra, những nhân vật chính trị chuyên nghiệp như Eugene McCarthy, John Kerry, John McCain vẫn chửi và lên án Mỹ thậm tệ trong cuộc chiến Việt Nam, nhưng ít người biết đến. Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, là kẻ được cố tổng thống Ngô Đình Diệm xem như con cháu trong nhà mà còn phản. Thêm nữa, còn có loại chính trị gia đối lập cuội, giả bộ theo phe khác nhưng làm gián điệp cho chủ. Chủ là ai chúng ta làm sao biết được. Ví dụ, trong cuộc bầu cử vừa rồi, Jill Stein của Green Party, ăn tiền, chấp nhận làm nhiệm vụ đốt phiếu Cộng Hòa. Đây là tình trạng pay to play trong lãnh vực hành nghề chính trị tại Mỹ. Nên hai ngày sau khi Dân Chủ thua phiếu, bà này liền theo lệnh Dân Chủ đâm đơn đòi kiểm phiếu, cho rằng phe Cộng Hòa gian lận. Dù bà lão này chỉ có 1% phiếu phổ thông. Có kiểm cách gì đi nữa bà cũng không là tổng thống Mỹ. Bà chỉ nhận lệnh mà phải làm thôi. Không biết có mấy người Việt nhận biết điều này. Có thể, họ không hề biết Green Party là cái củ cải gì. Đối với vài người Việt đó, không nhìn ra được trò chơi bẩn này mà chúng ta nói chuyện chính trị Hoa Kỳ, e rằng hơi quá sức của họ.
Nói tới Cộng Hòa họ không phân biệt nổi thế nàolà Tea Party, Radical, và Conservative. Nói tới Dân Chủ họ không hề biết thế nào là Liberal, Libertarian, Centrist, hay Progressive. Cũng là Dân Chủ, đã Liberal tại sao lại còn có Libertarian. Họ chỉ ồn ào kháo mấy chữ Cộng Hòa và Dân Chủ, đọc từ vài tờ báo miệt vườn lẩn quẩn trong cộng đồng người Việt, rồi tự thỏa mãn với cái kiến thức chính trị Hoa Kỳ để kháo chuyện trong quán cà phê. Hừng hực như nữ ca sĩ Madonna tuyên bố sẽ bỏ Mỹ sang Canada sống nếu Trump thắng cử, nhưng cũng đâu có dám làm. Nữ quái kiệt này ồn ào để hớp hồn những người nhẹ dạ, tạo biến cố, đánh bóng tên tuổi, chứ qua Canada sống thì coi như sự nghiệp tiêu tan. Mấy người Việt thù ghét Trump đó sao không vượt biên về Việt Nam sống với cộng sản mà ngồi bên này ăn tiền SSI và nhận Food Stamp, ra quán cà phê đọc báo người Việt, bàn chuyện chính trị Hoa Kỳ.
Lãnh tụ của 50 quốc gia Hồi Giáo cùng kéo đến nghe tổng thống Mỹ nói diễn văn tại cung điện Riyadh của Saudi Arabia chỉ trong khoảng 30 phút. Đây phải xem là một biến cố lịch sử, và là thắng lợi lớn của tổng thống Hoa Kỳ, trong thế giới Hồi Giáo. Không phải của cá nhân Trump. Vài người chỉ đọc báo tiếng Việt, e rằng không biết cả chuyện này. Họ chỉ muốn nghe Trump bị chửi cách nào để có tin giật gân, kháo chuyện ngoài quán cà phê. Họ ác đến độ có thể trông chờ và vui mừng khi nghe tin Trump bị bắn chết trên đường ra ngoại quốc. Cũng tội nghiệp cho đất nước Hoa Kỳ, phải cưu mang những kẻ lòng dạ nhỏ nhen, sống từ bờ mương, rãnh bùn bên Việt Nam, pp nhưng lòng luôn mang nặng hận thù vô lý này. Nếu Trump là một thằng tồi, như vài đại chính trị gia quán cà phê người Việt nhận định, chẳng lẽ tình báo gián điệp ngoại quốc không hề hay biết. Nếu Trump là thằng khùng, thì quốc vương Saudi Arabia phải là thằng khờ. Trump là thằng khùng mà mình không dám vùng lên quật nó xuống thì mình là thằng hèn. Đã là thằng hèn thì mở mắt nhìn trời chi nữa để ông trời phải che mắt nhắm, khiến thế gian phải chịu cảnh tối tăm u ám.
Hãng truyền hình chính thức của vương quốc Saudi Arabia trực tiếp truyền hình suốt cả ngày trời. Trong khi đó, CNN, NBC tìm mọi cách chê Donald Trump cho hết giờ, kể cả việc chê Melania Trump mặc trang phục không đúng nghi thức Hồi Giáo. Phải chi Melania là gốc Việt, chắc họ đã  hừng hực ca tụng Donald Trump đến sùi bọt mép. Trump vừa lên chưa được 4 tháng đã đề nghị thăng chức Lương Xuân Việt lên cấp tướng hai sao. Họ khen Việt nức nở. Nhưng vẫn chửi Trump không tiếc lời. Cái tính khí nhỏ nhen và bè đảng bệnh hoạn của vài người Việt chúng ta thường là vậy. Dù sao những chửi rủa, trù dập hiện nay là điều cá nhân Donald Trump phải chấp nhận đổ mồ hôi, sôi máu mắt, trong khi ngồi ghế tổng thống Mỹ. Chưa nói là có thể bị mất mạng bất cứ lúc nào. Điều này đã xảy ra ngay đêm sau khi Trump vừa thắng phiếu. Không phải mới lạ gì. Chúng ta không nên  quá kích động vì Mainstream Media của Mỹ. Huống chi vài tờ báo tiếng Việt, chỉ đi mót tin của người khác đem về dịch ra đăng lại.
Tại sao chúng ta không chịu, lắc mạnh cái đầu, đưa mắt ra xa, nhìn chuyến đi vừa rồi của Trump tại Saudi Arabia, là một thắng lợi của Hoa Kỳ, trên trường quốc tế, từ kinh tế đến chính trị, mà cứ mãi cho là của riêng cá nhân Trump, để thỏa mãn mối hận lòng vô lý và bệnh hoạn. Chỉ một chuyến đi ra ngoại quốc đầu tiên, tổng thống Mỹ, không phải cá nhân Donald Trump, đã đem về cho Hoa Kỳ một hợp đồng kinh tế hơn 400 tỉ dollars, và một cuộc họp thượng đỉnh với sự hiện diện của các nước Hồi Giáo ngay tại trung tâm thế giới Hồi Giáo, là Saudi Arabia. Trong khi đó, với 8 năm của Oabama, hợp tác giữa Mỹ với vương quốc dầu hỏa Saudi Arabia hầu như hoàn toàn bế tắc, từ kinh tế đến vấn đề Hồi Giáo, thì không mấy người biết. Và cũng không ai muốn nhắc đến. Nói vậy chứ họ có biết gì đâu mà nói. Tại sao họ cứ cho rằng đó là con bài gỡ gạt của cá nhân Trump để che lấp những rối rắm nội bộ. Kiến thức chính trị của họ nghèo nàn đến độ họ không hề biết rằng nội bộ nước Mỹ lúc nào cũng rối rắm cả. Hơn nữa, ngay cả tình hình trên thế giới cũng chính là nội bộ nước Mỹ. Từ Kennedy, đến Johnson, Ford, Nixon, Clinton, v.v... Đây là cái nhìn khá lạ lùng và bệnh hoạn của vài người Việt đang ăn tiền SSI và xin Food Stamp sống nhởn nhơ trên đất Mỹ hiện nay. Những ẩn tình thực sự trong nội cung họ biết rõ được bao nhiêu, ngoài việc vào youtube và xem tivi cho tiêu cơm sau bữa ăn, hay vào ngày cuối tuần không có bạn bè rủ đi nhậu, hoặc đọc tờ báo biếu liệng trước cửa chợ Việt Nam để luận bàn chính trị Hoa Kỳ và tình hình thế giới nơi quán cà phê vỉa hè.
Khi Trump cho bắn 59 hỏa tiễn Tomahawk khiến dân chúng Syria vui mừng đến nổi không dám tin, thì không ai thèm để ý. Hay họ không dám để ý. Vì sự việc xảy ra ngược lại những gì họ đã tiên tri. Nên cứ xem như là không có thì an tâm và tự tin hơn. Không có mấy hãng truyền thông dòng chính thèm đưa tin. Trong khi đó họ liên tục đăng hình Pelosi gay gắt kết án Trump đã ngu ngốc gây nguy hiểm cho nền an ninh Hoa Kỳ, gây bất ổn tình hình thế giới, và cố tình gây thế chiến thứ ba. Nghe bấy nhiêu, nhiều người đã hoảng hồn. Sẵn đã lỡ ghét Trump, vài người Việt này càng hả hê và chửi hùa theo mạnh hơn. Một bà lão hom hem, khi Trump vừa nhậm chức tổng thống chưa được bảy ngày, bà ta đã lớn tiếng chửi Trump và kết luận rằng: "We've seen nothing that I can work with President Bush." Thiết huyết bà bà Pelosi này hận thù tổng thống George W. Bush từ bao năm nay đến hơn 8 năm sau vẫn còn lú lẫn. Một lão bà lú lẫn nặng như vậy mà giữ chức chủ tịch phe thiểu số hạ viện của Dân Chủ, nghĩ cũng hay và đáng khen. Không biết có bao nhiêu người Việt nghe được câu này. Hay họ chỉ bàn chuyện chính trị Hoa Kỳ qua mấy tờ báo tiếng Việt. Kiểu như tờ Người Việt chẳng hạn. Tiếp theo lời quái lão bà bà Pelosi, bà Dân Chủ da đen Maxines Waters, cũng hừng hực kêu gọi quốc hội phải truất phế ngay Donald Trump vì ông này mang tội giết người, ra lệnh tấn công Aleppo. Sự việc xảy ra vào năm 2010, trong nhiệm kỳ đầu của tổng thống Barack Obama. Không biết vài người Việt đó có biết Aleppo ở đâu, và chuyện gì đã xảy ra khi Obama vừa làm tổng thống Mỹ có hơn một năm. Câu chuyện chính trị Hoa Kỳ trong đầu vài chính trị gia gốc Việt đó nó khôi hài đến vậy. Nhưng khi Trump twitter một câu là witch hunt và CNN, NBC, ABC đồng loạt rầm rộ chửi, thì họ hùa vào chửi theo. Nghe chửi, nhất là chửi tổng thống Mỹ, thì người Việt rất thích nghe. Không biết vài người Việt đó hiểu chữ rõ witch hunt có ý nghĩa gì trong lịch sử Hoa Kỳ. Nhưng miễn sao nghe cái thằng mình ghét bị chửi, bị chê là thỏa mãn rồi.
họ càng chứng tỏ họ xứng đáng để tổng thống Mỹ phải tam cố thảo lư, phải ba lần đến tận nhà mời họ ra làm cố vấn cho nền chính trị Hoa Kỳ và giải bàn cờ thế giới. Kiểu ông khùng Đạo Dừa, Nguyễn Thành Nam, bày ra bàn cờ Việt Nam, thách đố mọi người. Mỗi lần ông khùng này kéo chiếc xà lan ra Hà Nội để giải quyết bàn cờ Việt Nam, thì Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa phải tốn công kéo ông trở vào Cồn Phụng. Nhưng đâu có dễ chơi hoài như vậy. Sau năm 1975, khi cướp được Miền Nam, cộng sản cắt cổ ông khùng này ngay. Ném xác dưới bùn. Dẹp luôn Cồn Phụng. Người Việt chúng ta có khá nhiều ông đạo loại này. Nhất là về chính trị Hoa Kỳ và tình hình thế 

nhân Trump không là gì cả. Nhưng tổng thống Hoa Kỳ thì khác. Tại sao họ mãi loay hoay, ồn ào về việc Melania Trump mặc trang phục không đúng theo phong tục Hồi Giáo, khi gặp vua Salman của Saudi   Arabia. Mấy con người này cái đầu đã bị bệnh nặng. Cái bệnh vạch lá tìm sâu, cho thỏa mãn lòng ghét hận bệnh hoạn. Thật ra họ cũng chẳng ghét bỏ gì Trump. Họ chỉ muốn thỏa mãn sự ghét chửi theo thói quen từ xưa mà thôi. Và họ đã xem giò, xem cựa, nhận định về tổng thống Mỹ thì không thể nào sai được. Chửi ai không cần biết, nghe chê, nghe chửi là đã lỗ tai rồi. Tại sao khi những người Hồi Giáo sang Mỹ mặc áo quần trùm đầu, trùm đít, thì họ không phê bình sao không mặc áo quần như Mỹ. Kiến thức của họ nghèo đến nổi họ không hiểu, khi quốc khách mặc trang phục, bắt buộc phải qua sự góp ý, và đồng ý trước, của Bộ Nghi Lễ và Khánh Tiết của quốc gia chủ nhà. Nhất là quốc gia đó lại là trung tâm đầu não của thế giới Hồi Giáo. Ví dụ nhỏ, năm 2006, khi George Bush, cùng các nhân vật lãnh đạo Á Châu sang Việt Nam cộng sản dự hội nghị APEC phải mặc áo dài khăn đóng, do cộng sản Việt Nam đưa ra. Chưa chắc cá nhân tổng thống George Bush của Mỹ thích mặc như vậy. Chúng ta không hiểu nghi thức khánh tiết ở cấp độ quốc khách này, cứ cho rằng ai muốn mặc sao cũng được. Một lễ cưới nhỏ có vài người trong hai gia đình, mà cô dâu chú rể lúc nào mặc trang phục nào cũng phải rõ ràng và có sắp xếp từ trước, huống gì tổng thống Hoa Kỳ gặp quốc vương Saudi Arbia. Mỗi một bước đi, một chỗ ngồi của lãnh tụ hai bên, dù là chính cá nhân vua Salman của Saudi Aribia, đều phải qua sự sắp xếp, và hướng dẫn cẩn thận của Bộ Nghi Lễ và Khánh Tiết. Họ kém hiểu biết, hay không hề biết có Bộ Nghi Lễ và Khánh Tiết, nhất là quốc gia theo chế độ vương quyền tuyệt đối và Hồi Giáo, nên khi nghe nói xấu là họ hả hê. Cái thằng mình ghét thì chuyện gì nó cũng phải đáng ghét, mới vui lòng, dù âm thầm nhưng sâu thẳm. Và họ chỉ muốn chứng minh họ luôn đúng. Họ đã nhận xét thì không thể nào sai được.
Khi John Kennedy sang dự hội nghị thượng đỉnh, vì hớ hênh, Kennedy đã nhỏ con, lại đứng dưới ba bậc cấp, đưa tay chồm người lên bắt tay Khrushchev. Trông giống như Khrushchev to lớn của Nga cộng đang đứng trên cao nắm tay tổng thống Mỹ kéo giật lên mấy bậc cấp Chỉ có bấy nhiêu, liền sau đó Khrushchev ra lệnh đưa hỏa tiễn Nga sang Cuba đe dọa Mỹ. Khiến học sinh tiểu học Hoa Kỳ hàng tuần phải lo tập núp xuống gầm bàn trốn hỏa tiễn Nga phóng từ Cuba.
Khi tổng thống Nguyễn Văn Thiệu sang đảo Midwaygặp riêng tổng thống Richard Nixon, dù không là cuộc tiếp xúc chính thức mang nghi lễ quốc gia, tổng thống Thiệu vẫn yêu cầu máy bay của Nixon phải xuống trước để chủ nhà ra tận phi cơ đón khách. Nixon biết gặp người không phải tay vừa, bèn giả bộ đồng ý. Nhưng cố tình gạt tổng thống Thiệu, cho  bay vòng vòng trên không, chờ phi cơ tổng thống Thiệu đáp xong, mới hạ cánh. Điều này khiến tổng thống Thiệu với tư cách tổng thống Việt Nam Cộng Hòa rất giận. Nhưng chưa hết, khi vào phòng họp riêng, Nixon chỉ bày bốn cái ghế. Một chiếc thật to cao, dành cho Nixon. Ba ghế còn lại nhỏ thấp, đặt ngay trước mặt dành cho Nguyễn Văn Thiệu, Hoàng Đức Nhã, và Henry Kissinger. Cứ như ông chủ lớn ngồi trên cao, nói chuyện với ba nhân viên ngồi thấp phía dưới ngay trước mặt. Nếu không để ý, cái háng của Nixon trong thế ngồi đã ngang tầm mặt tổng thống Thiệu. Không nói tiếng nào, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lặng lẽ đi tìm chiếc ghế đúng kiểu dành cho Nixon, tự tay mang đặt sát bên ghế Nixon, rồi mới thản nhiên mỉm cười bắt tay Nixon và cả hai cùng lên ngồi ngang hàng. Chỉ riêng điều này cũng đủ cho biết bản lĩnh ngoại giao của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu của Việt Nam Cộng Hòa. Điều này có mấy người Việt bàn chuyện chính trị thế giới ngoài quán cà phê vỉa hè hiểu rõ. Họ chỉ giỏi chửi Sáu Thẹo là tên vô tài bất tướng làm mất nước.
Khi Obama lên làm tổng thống Mỹ sang Saudi Arabia, đệ nhất phu nhân Michelle Obama không được đi theo để gặp vua Saudi Arabia. Dù chúng ta biết rằng tổng thống Mỹ ra nước ngoài luôn có đệ nhất phu nhân đi theo. Theo nghi lễ tổng thống Barack Obama của Hoa Kỳ phải cong lưng, chổng mông, lòi cả áo sơ mi trắng bên trong quần, cúi đầu thật thấp, hôn lên nhẫn của nhà vua đang đứng thẳng người chìa tay ra. Chỉ bấy nhiêu, đã khiến dân Mỹ trắng giận muốn điên lên, vì ông tổng thống da đen này đã làm nhục danh dự đất nước Hoa Kỳ. Có mấy người Việt Nam nhận biết qua việc này. Vừa rồi, khi Obama sang Tàu cộng, cũng bị một vố tương tự, phải xuống cửa sau, khiến dân Mỹ trắng phải gọi là "Obama forced exit from ass of Air Force One." Tức Obama chui ra từ lỗ đít của Air Force Once. Tập Cận Bình cũng không thèm ra đón, nói chi đến trải thảm đỏ.
Ngày hôm trước, Trump tiếp vua của Jordan tại tòa Bạch Ốc. Nhưng hôm sau Trump chỉ tiếp Tập Cận Bình tại tư gia ở Florida. Dù có to lớn đến mấy, đây cũng chỉ là nhà riêng của Trump, không phải là nơi tổng thống Mỹ tiếp quốc khách. Đây cũng có thể là cách ông tổng thống Mỹ trả lễ cho tên trùm Tàu cộng qua vụ làm xấu Barack Obama tại phi trường Bắc Kinh vừa rồi. Không nên thấy trước mắt là Trump hay Obama. Nên cố gắng dùng thuốc nhỏ mắt, hay lau lại kính, để thấy họ là tổng thống Hoa Kỳ, một đại cường quốc trên thế giới, qua những nghi thức khánh tiết ngoại giao quốc tế bắt buộc phải có.khi tiếp quốc khách. Trong một đám cưới có vài chục mạng mà mâm trầu buồng cau còn quan trọng, huống gì đón tiếp quốc khách.
Tống Mỹ Linh, vợ Tưởng Giới Thạch, mỗi khi sang Mỹ đều sống ngay trong tòa Bạch Ốc. Không cần biết lúc nào, mỗi khi Tống Mỹ Linh bước chân xuống khỏi giường, là phải có người làm lại giường cho bà ta. Có lần, Winston Churchill, thủ tướng Anh, muốn gặp riêng Tống Mỹ Linh. Bà nói Churchill của vương quốc Anh muốn gặp, phải đến, chứ bà đâu có muốn gặp Churchill. Cuối cùng, tổng thống Roosevelt phải sắp xếp mời Churchill đến tòa Bạch Ốc gặp bà ta. Một lần Tống Mỹ Linh muốn đến California, liền tối hôm đó, tòa Bạch Ốc bắt ca nhạc sĩ tại Hollywood phải sáng tác ngay một bản nhạc chào đón Tống Mỹ Linh. Sáng sớm hôm sau, cả một đoàn ca nhạc sĩ Mỹ phải dàn chào đứng sẵn tại sân bay, chờ Tống Mỹ Linh ra nơi cửa phi cơ để họ trổi bài ca chào đón. Nhưng khi máy bay đáp xuống, Tống Mỹ Linh vẫn còn đang ngủ. Thế là người hầu của Tống Mỹ Linh phải ra nơi cửa phi cơ đứng vẫy tay để nghe bản nhạc chào mừng Tống Mỹ Linh.
Họ không phải là cá nhân nào cả. Họ là nhân vật đại diện cho một quốc gia. Khi ra ngoại quốc bắt buộc họ phải giữ danh dự của quốc gia họ đại diện. Ở Việt Nam, nhà trai đến nhà gái rước dâu, mà phải khom lưng, cúi đầu, vén màn đi vào từ cửa sau ngã chuồng heo, thì chắc chắn là có chuyện lớn. Huống chi một tổng thống Mỹ, mà phải "chui ra từ lỗ đít phi cơ" ngay tại phi trường Bắc Kinh. Hãy nhìn lại cách tổng thống Thiệu đối với Nixon ở Midway, may ra mấy con người Việt quen sống nơi bờ ao, xẻo ruộng này mở mắt được đôi điều.
Trong khi đó, trong chuyến sang Saudi Arabia vừa rồi, không những tổng thống Mỹ mà cả đệ nhất phu nhân Hoa Kỳ vẫn đứng thẳng người bắt tay nhà vua. Người hiểu chuyện sẽ nhận biết đây là biến cố ngoại giao lịch sử đối với Hoa Kỳ, Saudi Arabia và cả những nước Hồi Giáo. Bởi người Hồi Giáo không chấp nhận sự có mặt của phụ nữ ngoài công chúng. Lại còn dám bắt tay nhà vua là điều chưa từng có. Họ trải thảm đỏ từ sát cửa máy bay, đến tận Cadillac One, cả nhà vua cũng ra tiếp rước. Sau đó kinh đô của vương quốc Hồi Giáo như mở lễ hội, tưng bừng đón tiếp tổng thống Mỹ đến cung điện Riyadh, không phải cá nhân Donald Trump, như một ông vua, từ ngựa xe đến đàn hát, rầm rộ theo từng bước đi, rước tổng thống Mỹ về hoàng cung Riyadh chỉ để uống một ly nước trà dâng cho quốc khách. Người biết chuyện, nhìn điều này cũng đủ biết thắng lợi ngoại giao của Hoa Kỳ trong chuyến đi này. Không nên thấy đó là cá nhân Trump. Nên biết, dù chỉ là cái bắt tay, khi nào Trưởng Ban Nghi Lễ ra hiệu, cả vua lẫn tổng thống mới đưa tay ra bắt. Phải có sự ra hiệu của Trưởng Ban Nghi Lễ quốc vương Salman mới bắt tay đệ nhất phu nhân Hoa Kỳ. Đã gọi là nghi lễ thì bất cứ ai, dù là vua hay tổng thống, cũng phải theo sự hướng dẫn của Trưởng Ban Nghi Lễ. Vì người này là đại diện cho Nghi Thức Lễ Tiết, không phải một cá nhân dưới quyền. Không phải ai muốn làm gì thì làm. Và chủ khách, hai người phải đứng hai bên mép thảm. Tổng thống Mỹ lúc đó là khách, vẫn chưa được đặt chân lên thảm đỏ của hoàng gia. Sau khi Trưởng Ban Nghi Lễ ra hiệu, nhà vua mới đưa tay mời tổng thống Mỹ bước lên thảm để tiến vào hoàng cung. Dọc đường đi, bao nhiêu đoàn người kể cả các đoàn ca múa cờ gươm, trổi trống kèn nhạc, theo từng bước chân tổng thống Mỹ, dù ngay bên trong cung điện. Cứ như đang xem phim Hoàn Châu Các Các của Quỳnh Dao. Cờ Mỹ và Saudi Arabia bay rợp trời dọc từ sân bay đến hoàng cung  Riyadh. Không nên cho rằng đó là của cá nhân Trump mà bị lòng căm ghét hành hạ. Nên xem đó là vinh dự và niềm hãnh diện của Hoa Kỳ, và xem ông tổng thống Mỹ này làm gì để Make America Great Again.
Đừng để hình ảnh của Trump và Melania nhảy vào trong đầu, mà bị lòng ghét hận cá nhân vùng lên hành hạ. Hãy cố gắng nhướng mắt lên cao để thấy đó là tổng thống Mỹ và đệ nhất phu nhân Hoa Kỳ. Nói vậy, chứ cái mở mắt này không dễ gì mấy nhà đại chính trị quán cà phê vỉa hè gốc Việt làm được.
Để khoản đãi tổng thống Mỹ một chung trà theo nghi lễ quốc khách, hoàng gia Saudi Arabia phải mất cả tiếng đồng hồ cho nghi lễ này. Đã vậy, đệ nhất phu nhân Hoa Kỳ ngồi sát ngay bên tay mặt quốc vuơng Salman. Một điều chưa từng có đối với vương quốc kinh đô của thế giới Hồi Giáo. Nên biết hoàng hậu chánh cung của quốc vương Salman cũng không được phép hiện diện. Sau khi uống xong chung trà, ông tổng thống Mỹ này còn được trao huy chương cao quý nhất của vương quốc Saudi Arabia. Trong khi đó, cũng là tổng thống Mỹ, mà Barack Obama phải khom lưng, cúi đầu, chổng mông hôn chiếc nhẫn nơi ngón tay của quốc vương Saudi Arabia. Một cái tát vào mặt Hoa Kỳ qua lễ tiết ngoại giao mà có mấy người chính trị gia gốc Việt nhận hiểu được. Cũng như trường hợp Obama phải chui ra từ lỗ đít của chiếc phi cơ Air Force One mà Bắc Kinh đã dành cho Mỹ. Hai hình ảnh, hai cuộc đời, là vậy.
Về việc James Comey. Ông này trong thời gian tranh cử tổng thống Mỹ, đã hai lần lên tiếng bắn Hillary Clinton về vụ email rồi giựt ngược lại. Đủ cho thấy con người này có nhiều lẩn khuất phía sau, mà chúng ta không thể biết rõ hết nội tình. Về phương diện điều hành chính phủ, Donald Trump có thể thay ông ta ngay từ lúc vừa nhậm chức. Nhưng trong ngày nhậm chức, Trump vẫn ân cần ca ngợi Comey. Qua việc Trump vẫn còn giữ James Comey cho đến bây giờ, chúng ta nên hiểu rằng, có rất nhiều lấn cấn phía sau trong nội cung, mà cá nhân Trump không giải quyết nổi. Trước đây hai tháng, Trump cũng bắn tiếng giao FBI cho Trey Gowdy, chủ tịch ủy ban điều tra và tình báo hạ viện đảm nhận. Nhưng Trey Gowdy cùng lúc không thể nhận hai chức vụ, vừa hành pháp vừa lập pháp, cộng thêm bao nhiêu ẩn tình phía sau, nên lúc đầu Trey Gowdy nhận, nhưng sau từ chối. Điều này cũng cho thấy còn nhiều rối rắm trong chốn thâm cung. Và vụ thay người cho FBI lại chìm xuồng. Đến khi bộ trưởng tư pháp, và còn nhiều người nữa, gây áp lực, nên Trump phải làm vậy. Những chuyện thâm cung bí sử không dễ gì chúng ta biết rõ qua truyền thông đại chúng. Ít ra chúng ta cũng nên nhận biết điều này, dù không biết rõ chuyện gì đang thực sự xảy ra. Không phải điều gì tivi, hay báo chí nói cũng đúng sự thật.
Chưa bầu cử mà tờ Daily News của Mỹ số ra ngày 6/3/2016 đã đăng tin trang bìa Trump Is Hitler. Điều này cho thấy có khá nhiều chính trị gia vỉa hè người Việt xứng đáng tôn vinh là những nhà tiên tri của thế kỷ 21. Có điều khi cần bán cửa hàng, hay sửa nhà, các nhà tiên tri này phải trả tiền cho mấy ông thầy phong thủy, hay thầy bói, thông đồng với mấy tiệm bán tượng thờ khiến họ phải mua thêm tượng đá, tượng đồng, đem về đốt nhang để sớm có kết quả.
Chúng ta đã quên câu nhà báo nói láo ăn tiền. Kể cả báo Washington Post, New York Times, hay báo Người Việt. Báo chí trong cộng đồng người Việt còn thảm hơn nhiều. Họ đói tiền nên nhờ người chạy mối, để viết bài ca tụng và đăng báo theo số tiền thân chủ chịu trả. Có mấy người biết rõ thực tế phía sau mấy tờ báo tiếng Việt. Bà Thanh Hải chỉ cần liệng ra một cái đồng hồ, Phạm Duy phổ nhạc ngay bài thơ con cóc của bà mắt lác này trong một đêm. Không riêng gì Phạm Duy, còn nhiều người nữa tranh nhau giành đồng hồ. Và vô số tờ báo tiếng Việt tranh nhau viết bài kiếm tiền. Đó chỉ là Business. Tiền trao cháo múc. Chúng ta nên biết một thực tế. Những người viết báo chuyên nghiệp, mỗi số báo họ bắt buộc phải có bài đăng. Và bài phải có đủ chữ để lấp đầy trang giấy đã giữ chỗ sẵn. Nếu không thì chết đói ngay. Ví dụ, đại bình luận gia Ngô Nhân Dụng trên báo Người Việt.Mỗi số báo, bắt buộc ông ta phải có đủ chữ để in báo. Họ phải có khả năng chuyên môn nghề nghiệp thay chữ yêu bằng chữ thương. Vì chữ thương nhiều mẫu tự, lợi chữ hơn yêu. Hoặc dùng cả thương yêu, rồi sau đó tìm cách lập lại lần nữa là yêu thương, thì càng lợi chữ hơn nữa. Chê, chửi, càng nhiều càng lợi chữ, và càng kích thích người đọc, tức càng ăn tiền. Có mấy ai hiểu nỗi khổ tâm khi họ phải rặn chữ hàng ngày, nhất là lúc báo sắp giao cho nhà in. Họ chỉ sống bằng nghề viết mướn. Nhưng họ còn tệ hơn người đánh máy mướn rất nhiều. Bởi người đánh máy mướn không bịa đặt, thêu dệt, và tán chữ cho đầy trang, để tính tiền thân chủ. Họ chỉ là kẻ bán chữ. Nhưng phần lớn là chữ bịa đặt và chữ thêu dệt để kiếm sống qua ngày. Thật ra những người này đáng khinh hơn là đáng tin. Kẻ bán trôn chỉ có thể truyền bệnh thể xác. Nhưng kẻ bán chữ có thể truyền bệnh tinh thần. Họ đáng tởm hơn những người bán trôn nuôi miệng rất nhiều. Nói tới là họ lôi quyền tự do ngôn luận ra hù thiên hạ. Nhưng chính họ là những kẻ hiếp dâm quyền tự do ngôn luận. Điều này có mấy chính trị gia quán cà phê vỉa hè người Việt chúng ta nhận ra. Năm 2001, nhân vụ 11/9, ngày 25/9 trọc Nhất Hạnh từ Pháp sang bỏ tiền mướn New York Times (nguyên trang A5 và  A22) đăng bài lên án Mỹ đã bỏ bom giết 300 ngàn người Việt tại một làng ở Bến Tre vào năm 1968 (sau đó sửa là nóc nhà). Dù báo New York Times của Mỹ đăng như vậy, không lẽ người Việt chúng ta tin là sự thật. Với hai trang báo New York Times trọc Hạnh phải trả 45 ngàn dollars. Cũng không ai thắc mắc tiền đâu trọc Hạnh làm được vậy. Và tại sao trọc Hạnh phải vội vàng bay từ Pháp sang Mỹ làm điều này. New York Times của Mỹ còn sẵn sàng đăng mướn chuyện tầm xàm bá vơ, để lấy tiền thì nói chi đến Người Việt, hay Viễn Đông.
Hãy bình tĩnh, nên nhìn mọi việc qua hình ảnh tổng thống Mỹ, không nên xem đó là việc riêng của cá nhân Trump. Mà Trump có bị truất phế, hay bị giết, Hillary cũng không thể nào ngồi ghế tổng thống Mỹ. Chúng ta không nên sống theo câu "thương ai thương cả đường đi, ghét ai ghét cả tông ty họ hàng." Nội bộ đang rối rắm, mà giải quyết được những chuyện quốc tế tốt đẹp. Bình tĩnh nhìn vấn đề, chúng ta phải khen đó là cái hay của tổng thống Mỹ. Không phải của cá nhân Trump. Một ông tướng trong nhà vợ chết con bệnh, mà vẫn bình tĩnh chỉ huy ngoài mặt trận, đạt chiến thắng lớn, thì đó mới là điều đáng khen. Chúng ta không thể nào khen một kẻ mà mình đã lỡ ghét hay sao. Nói cho cùng cái ghét của mình cũng do truyền thông đại chúng đem lại. Chuyện thâm cung bí sử làm sao chúng ta biết rõ ngọn nguồn.
Quan trọng vẫn là chuyện ông tổng thống Mỹ này làm gì cho nước Mỹ, cho thế giới, và tốt hơn nữa là cho Việt Nam hiện nay. Không phải là chuyện của cá nhân Donald Trump.
Vài người Việt quen sống theo tinh thần bè đảng, không hề biết rằng dân Mỹ trắng theo phe này mà bỏ phiếu cho phe kia là điều bình thường. Đầu óc họ phóng khoáng như vậy nên mới có 241 năm Hoa Kỳ đã dẫn đầu thế giới trên mọi phương diện. Còn vài người Việt cái đầu của họ như ông bình vôi, càng sống lâu đầu óc càng teo nhỏ lại, cho đến khi bị nghẹt cứng, phải đem vất bỏ ngoài gốc đa.
một điều ít người Việt để ý và nhận ra.Người âm thầm không muốn Hillary ngồi ghế tổng thống Mỹ, nhiều nhất, có thể là Bill Clinton. Bởi Hillary Rodham luôn coi thường Bill Clinton, cho rằng ông này làm tổng thống nhờ dòng họ danh gia thế phiệt Rodham của bà ta. Lúc còn trẻ, Hillary Rodham không thèm làm đám cưới với Bill Clinton vì không muốn đổi sang họ Clinton thấp hèn. Mãi đến khi Clinton làm thống đốc Arkansas bà mới đổi sang họ Clinton. Nhưng cấm bạn bè gọi là Hillary Clinton. Thêm nữa, nếu Hillary làm tổng thống Mỹ, khi ra ngoại quốc, như đợt tổng thống Mỹ sang vương quốc Saudi Arbia vừa rồi, Bill Clinton không được quyền đi ngang hàng với Hillary. Vì đây là Nghi Lễ Khánh Tiết của hai lãnh tụ quốc gia. Dù có đi theo, Bill Clinton cũng không được dự những cuộc thảo luận riêng giữa hai lãnh tụ. Nghĩ đến điều này cũng khiến Bill Clinton đắng miệng trong vị trí một cựu tổng thống Hoa Kỳ. Dĩ nhiên bên ngoài thì phải làm bộ mặt khác. Kiểu như hai vợ chồng đang chửi lộn, nhưng có khách tới thì anh em ngọt xớt. Khách ra về thì tiếp tục chửi. Chưa nói đến việc lúc đó Hillary coi Clinton ra cái củ cải gì. Bà đã từng đấm Clinton sặc máu mũi, đuổi Clinton ra ngủ ngoài phòng khách, trong vụ Monica Lewinski. Vợ chồng ra đường thì tay trong tay, cứ như là hạnh phúc và tình tứ lắm. Nhưng vừa bước vào nhà là như chó với mèo. Lê Uyên từng bỏ nhà theo Phương, để có những bản tình ca Lê Uyên Phương. Nhưng mười năm sau, thì Phương đành gõ thùng đàn ca bài Uyên Xưa một mình. Thực tế, Chuyện Tình Miên Viễn Xót Xa này chắc cũng có vài người đã trải qua.
Nhưng vì sự nghiệp chính trị, Hillary không ly dị. Bà ta là một career politician. Sự nghiệp của bà ta là tham vọng chính trị, chứ không phải chồng con, hay đất nước Hoa Kỳ. Lúc đầu bà theo Cộng Hòa, thấy coi bộ không khấm khá, bà bỏ Cộng Hòa nhảy sang Dân Chủ. Lý tưởng, lý tuợng gi ở con người đầy tham vọng quyền lực từ lúc còn là nữ sinh trung học. Bởi vậy, ngay năm 2008, Bill Clinton âm thầm nhưng tận sức yểm trợ Obama, mà lơ là đối với Hillary Clinton. Điều này ít người nhận ra, nên chỉ có thể cho là bịa đặt.
Người viết chưa hề ủng hộ Trump. Từng cho rằng ông bợm này ăn nói theo kiểu đá cá lăn dưa, đáng ghét. Năm 2008, có đóng tiền gây quỹ và vận động tranh cử cho Hillary Clinton, và không ưa Obama. Nhưng khi Obama làm tổng thống Mỹ thì phải nhìn thấy đó là tổng thống Mỹ, không còn là ông da đen Barack Obama nữa. Nhưng vẫn mừng cho cá nhân Hillary khi bà ta thất cử. Vì bà lão 70 này đau sù sụ. Vận động tranh cử mà phải có người kéo lê. Bác sĩ cá nhân luôn có ống thuốc dấu trong túi áo, chực chờ phóng tới cấp cứu ngay trên bục diễn thuyết. Xe cứu thương chờ sẵn. Bà sẽ không đủ sức khỏe chịu nổi áp lực công việc trong chức vụ tổng thống Hoa Kỳ. Khi Trump nhận chức tổng thống Mỹ, thì chỉ coi ông tổng thống mới này làm được gì, cho Hoa Kỳ, cho thế giới, và tốt hơn nữa là cho Việt Nam. Chúng ta không nên nghe thiên hạ khen, hay chê, là cắm đầu hùa theo, để thỏa mãn tự ái cá nhân. Với thân phận tỵ nạn hèn mọn của người Việt, chúng ta có khen hay chê cũng chẳng ăn thua gì ông ta cả. Chỉ là chúng ta không thoát nổi nếp suy nghĩ của vài người Việt đầu óc cùn lụt, kiến thức nghèo nàn, nhưng cứ đòi làm cố vấn cho tổng thống Hoa Kỳ.
Thật ra, dù bất cứ lúc nào, hay vì bất cứ lý do gì, nếu Donald Trump bị truất phế hay bị bắn chết, đó không phải là lý do bịa đặt lúc sự việc xảy ra. Mà điều này đã được chuẩn bị sẵn với nhiều Options từ trước rất lâu. Chỉ là trong hoàn cảnh nào phải áp dụng Option K hay Option T, ngay từ lúc Donald Trump vừa thắng phiếu vào đêm bầu cử tổng thống Mỹ. Dĩ nhiên cá nhân Donald Trump phải chấp nhận luật chơi này, khi muốn ngồi ghế tổng thống Hoa Kỳ để Make America Great Again.
Francis của Vatican hiện vẫn đang đối diện với áp lực buộc từ chức, tương tự như Benedict năm 2013, thì huống gì Trump.
Hãy nhớ lại lời bà da đen Maxines Waters kết tội Donald Trump là kẻ sát nhân, cần phải bị truất phế, vì sự việc xảy ra tại Aleppo vào năm 2010, khi Obama nhậm chức tổng thống Mỹ chưa được hai năm. Đây chỉ là bộ phim nhiều tập, thuộc loại Hollywood đã được soạn sẵn, có tựa đề Forward To The Past. Do kẻ nào thực sự đạo diễn phía sau, người Việt thấp hèn, và nghèo nàn kiến thức, như chúng ta sẽ không bao giờ biết được.
Không nên cho rằng Hoa Kỳ không có kẻ thù. Thói thường, kẻ càng giàu mạnh càng bị nhiều người thù ghét. Mà đã là kẻ thù của Hoa Kỳ, không chắc gì chính trị gia vỉa hè như chúng ta biết rõ được.
Phan Hung

Người trẻ Việt Quốc Nội mặc áo cờ vàng ba sọc đỏ thách thức nhà cầm quyền
Source: VietBf Posted on: 2017-05-24
Mốt thời trang Hoàng Kỳ (cờ vàng) với chiếc áo màu vàng có ba sọc đỏ đang được chiếm được sự yêu thích của các bạn trẻ trong nước. Một bạn trong nhóm chia sẻ cảm nghĩ như sau:
Cờ vàng ba sọc là cờ quốc gia Việt Nam khi chưa có Đảng cộng sản VN. Lúc ấy VN là một cõi thống nhất. Cộng sản Bắc Việt dưới tay Nguyễn Ái Quốc gây nên việc chia đôi đất nước. Miền Bắc bị đảng Cộng Sản dùng cờ của một tỉnh bên Trung Cộng làm cờ của Miền bắc VN. Miền Nam theo thể chế tự do dân chủ, và vẫn dùng cờ vàng ba sọc, cờ của quốc gia VN. Cộng Sản miền Bắc hung hăng đem quân gây chiến và bức tử miền Nam, rồi dùng cờ đỏ ngoại bang đó làm cờ quốc gia VN.
Ai yêu cờ đỏ ngày nay là quyền cá nhân của bạn. Nhưng là người Việt mà chối bỏ cờ vàng, cờ tổ tiên ông bà xưa đã có công giữ nước Việt thì đều là THỨ PHẢN QUỐC !!!! bất kể người ấy theo chính kiến nào. Mọi người Việt Nam đều có quyền yêu thích mầu cờ riêng của mình. Nhưng cờ vàng tổ tiên cha ông tiền nhân là phải KÍNH TRỌNG! Đó mới là người Việt!!!!!
Có một điều có thể nói là khá phổ biến rằng nhiều người Việt, đặc biệt là người trẻ, bị ảnh hưởng bởi tuyên truyền một chiều mà có một cái nhìn rất lệch lạc về biểu tượng cờ vàng. Về mặt lịch sử, cờ vàng (với các họa tiết khác nhau) có từ thời Hai Bà Trưng. Cờ vàng của Hai Bà không có họa tiết. Cờ vàng sau đó được Ngô Quyền dùng làm biểu tượng cho đất nước sau khi đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, mở ra một kỷ nguyên độc lập tự chủ cho dân tộc. Các triều đại sau đó đa số là dùng cờ vàng, chỉ khác nhau ở họa tiết trên nền cờ.
Tại sao lại là cờ vàng? Đó là bởi vì màu vàng tượng trưng cho vua, và bằng cách dùng cờ màu vàng, các vua của Việt Nam đưa ra một thông điệp cho giặc phương Bắc rằng nước Nam là một nước độc lập và ta đây là vua một cõi. Chính vì vậy, cờ vàng gắn liền với một lịch sử dựng nước và giữ nước huy hoàng của cha ông, và đó là lá cờ chúng ta nên trân trọng chứ không phải xa lánh hay mượn cớ để đàn áp.
Tin Đại Bàng (Eagle News)

Thursday, May 11, 2017

An Lộc, chiến trường đi không hẹn

"Hổ Xám" Phạm Châu Tài

 
(Viết cho những chiến hữu của tôi đã một thời vào sanh ra tử trên khắp chiến trường sôi bỏng để bảo vệ đất nước).


Tác Giả, Cựu Thiếu Tá Hổ Xám Phạm Châu Tài, cùng 2 cựu Sĩ Quan Võ Bị Dalat. Hình từ trái qua phải: Cựu Thiếu Tá Phạm Châu Tài, cựu Đại Tá Phan Văn Huấn (Khóa 10 VB, nguyên Liên Đoàn Trưởng LĐ 81 Biệt Cách Dù) và thi văn sĩ Quốc Nam (Khóa 22 VB, Chủ Tịch HĐQT An-Lộc Foundation, Tác giả 21 tác phẩm đã xuất bản trước & sau năm 1975, trong số này có 2 thi tập Tình Ca Lính Alpha Đỏ xb 1968 & Bản Thánh Ca Alpha Đỏ xb 2012). Photo by Việt Long.
 
 
Mùa hè năm 1972 đi qua như cơn ác mộng mà khi tỉnh dậy người ta vẫn còn bàng hoàng như đang mê sảng.

Mùa hè đến với những cơn lốc bạo tàn, với những trận cuồng phong kinh hãi, sẵn sàng huỷ hoại tất cả những gì gọi là sự sống của con người, mà những tiếng kêu thương, bi ai thống khổ nhất vẫn còn âm vang cho đến ngàn sau.

Mùa hè đến với bão lửa ngụt trời, bão lửa cuồn cuộn vút lên như hoả diệm sơn bao trùm khắp bầu trời Miền Nam Việt Nam, bão lửa hừng hực thiêu đốt muôn vạn sinh linh đang sống an lành, tự do phía Nam vĩ tuyến 17.

Ðau đớn thay, ác mộng kinh hoàng ấy, cuồng phong và bão lửa ấy lại do chính con người gây nên, con người mang nhãn hiệu Cộng Sản, lãnh đạo bởi một lũ người cuồng tín đã bán linh hồn cho quỷ đỏ đang ngự trị tại Hà Nội.

Người ta được biết, sau khi tiếp nhận sự chi viện khổng lồ không giới hạn về các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh tối tân nhất từ phía Cộng Sản Nga - Tàu, Hà Nội điên cuồng tung vào Miền Nam ba cuộc tấn công vũ bão vào Tỉnh Quảng Trị của vùng giới tuyến, vào Tỉnh Kontum của Tây Nguyên và vào Tỉnh Bình Long thuộc miền Ðông Nam Phần.

Cuộc chiến bùng nổ khốc liệt chưa từng xẩy ra từ ngày Cộng Sản phát động cuộc chiến tranh gọi là giải phóng vào thập niên 60. Lửa, máu, nước mắt hoà với bom đạn đã cầy xới và tràn lan khắp quê hương Miền Nam tự do, tuy nhiên Cộng Sản miền Bắc phải trả một giá rất đắt về hành động điên cuồng, dã man của chúng để nhận sự thất bại đắng cay: Quảng Trị vẫn đứng vững, Kontum vẫn kiêu hùng quật khởi và Bình Long vẫn anh dũng hiên ngang phất cao ngọn cờ chính nghĩa.

Trong chiến tranh, tấn công xâm chiếm mà không lấy được mục tiêu, bị thiệt hại nặng nề là thất bại hoàn toàn. Trái lại, phòng thủ quyết tâm chống trả, dù phải chấp nhận ít nhiều tổn thất hy sinh mà vẫn giữ vững phần đất quê hương thì được gọi là chiến thắng.

Với lý lẽ căn bản nêu trên, ba cuộc tấn công của Cộng Sản Bắc Việt vào mùa hè năm 1972 trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà thì Cộng Sản Việt Nam là kẻ chiến bại, và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà là người chiến thắng.

Phát động tấn công xâm chiếm vào đầu tháng 04 năm 1972, tính đến tháng 09 năm 1972, thiệt hại nhân mạng của Cộng Sản Bắc Việt được ước lượng khoảng 100 ngàn người!

100 ngàn vong linh của những người “sinh Bắc tử Nam” trở thành lũ âm binh lạc loài, vất vưởng tha hương mà gia đình họ không bao giờ biết được.

Giành lấy chiến thắng một cách kinh hoàng và oai hùng nhất trong ba cuộc tấn công của Cộng Sản Bắc Việt vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà có thể nói là chiến thắng Bình Long, mà trận chiến vô cùng khốc liệt đã bùng nổ tại Thị Xã An Lộc. Một tài liệu chính thức của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà được ấn hành sau mùa hè năm 1972 đã công bố: “Tại mặt trận An Lộc cuộc tấn công đầu tiên của quân Cộng Sản khởi đầu vào ngày 13-04-1972 bằng toàn bộ của các Sư Ðoàn 5, 7, 9 và Sư Ðoàn Bình Long với tổng số vào khoảng 50 ngàn người”. Cộng Sản ước tính sẽ đánh chiếm An Lộc từ 5 đến 10 ngày và dự trù ngày 20-04-1972 sẽ ra mắt chính phủ “Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam” tại thành phố An Lộc.

Thật vậy, lực lượng Cộng Sản Bắc Việt tại Bình Long, ngoài 4 Sư Ðoàn với quân số mỗi Sư Ðoàn là 10,400 người, còn có một Trung Ðoàn Ðặc Công, 2 Trung Ðoàn Pháo Binh và Phòng Không và hai Trung Ðoàn xe tăng. Hơn nữa, sự bổ sung quân số dễ dàng từ Mimot, Snoul bên kia biên giới Miên là nguồn nhân lực chính mà người ta khó ước tính được con số chính xác.

NHẬN DIỆN CHIẾN TRƯỜNG
 
An Lộc là quận châu thành Tỉnh Bình Long, cách thủ đô Sài Gòn khoảng 100 cây số về hướng Tây Bắc, với diện tích bề dài 1,800 thước và bề ngang đo được 900 thước, một Thị Xã nhỏ bé đìu hiu, chung quanh là rừng cao su ngút ngàn đến tận biên giới. Bình Long có ba quận hành chánh, cực Nam là quận Chơn Thành và cực Bắc là quận Lộc Ninh.

Quốc lộ 13, con đường huyết mạch nối liền từ Lai Khê của Tỉnh Bình Dương đi qua các quận lỵ, xã ấp của Tỉnh Bình Long. Cách An Lộc 18 cây số về hướng Bắc là Lộc Ninh và cách An Lộc 30 cây số về hướng Nam là Chơn Thành.

Từ Chơn Thành xuôi quốc lộ 13 về hướng Nam khoảng 30 cây số là Lai Khê, nơi đặt bản doanh của Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà.

Cơ sở hành chánh và quân sự Tỉnh Bình Long đặt ngay trong quận châu thành An Lộc dưới sự điều hành của viên Tỉnh Trưởng là Ðại Tá Trần Văn Nhựt.

Trước khi trận chiến bùng nổ, quận Lộc Ninh được tăng cường với Trung Ðoàn 9 thuộc Sư Ðoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, một khẩu đội pháo binh đặt tại căn cứ yểm trợ hoả lực Alpha cách Lộc Ninh khoảng 8 cây số về hướng Bắc và một Chi Ðoàn Thiết Giáp thuộc Thiết Ðoàn 5 Kỵ Binh Việt Nam Cộng Hoà. Tại An Lộc, ngoài một số Ðịa Phươhg Quân, Cảnh Sát, và các cơ sở hành chánh Tỉnh mà nhân số không quá 200 tay súng, còn có pháo đội 105 ly, Chi Ðoàn Thiết Giáp, Trung Ðoàn 7 thuộc Sư Ðoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà, và Liên Ðoàn 3 Biệt Ðộng Quân. Ðể đánh chiếm Bình Long, Cộng quân cắt đứt quốc lộ 13 từ Lai Khê đi Lộc Ninh, đồng thời phong toả bầu trời Bình Long bằng một hệ thống phòng không để ngăn chặn sự can thiệp của Không Quân Việt Nam Cộng Hoà.

TRẬN CHIẾN BÙNG NỔ
 
Ba giờ sáng ngày 05 tháng 04 năm 1972 Trung Ðoàn Pháo có bí danh E.6 bắn phủ đầu vào các cứ điểm phòng ngự của Trung Ðoàn 9 Bộ Binh do Ðại Tá Trần Công Vĩnh chỉ huy bằng hàng ngàn quả đạn pháo đủ loại, sau đó Cộng quân tung Sư Ðoàn 5 Cộng Sản Bắc Việt có xe tăng yểm trợ bắt đầu tấn công. Mặt khác, Cộng quân sử dụng Trung Ðoàn 272 thuộc Sư Ðoàn 9 Cộng Sản Bắc Việt phục kích quốc lộ 13 từ An Lộc đi Lộc Ninh để tiêu diệt đường rút lui của quân trú phòng.

Mặc dù có sự can thiệp hữu hiệu của Không Quân, căn cứ yểm trợ hoả lực Alpha, phi trường Lộc Ninh và cứ điểm quân sự của Trung Ðoàn 9 Bộ Binh bị tràn ngập sau hơn hai ngày chống trả mãnh liệt. Lộc Ninh được ghi nhận hoàn toàn mất liên lạc lúc 19 gìờ ngày 07-04-1972.

Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh kịp thời nhảy vào An Lộc với hai Tiểu Ðoàn của Trung Ðoàn 8, tăng cường cho mặt phòng thủ phía Bắc Thị Xã ngày 06-04-1972 và tuyên bố tử thủ An Lộc.

Hai tiếng tử thủ lần đầu tiên được nhắc nhở nhiều lần trong chiến tranh Việt Nam qua lời tuyên bố của vị Tướng Tư Lệnh chiến trường, biểu lộ ý chí sắt đá của người chiến binh Việt Nam Cộng Hoà, quyết tâm chiến đấu để bảo vệ, gìn giữ mảnh đất quê hương.

Hai tiếng tử thủ như lời thề cùng sông núi, lời hứa hẹn với tiền nhân đã ra công dựng nước và giữ nước.

Hai tiếng tử thủ đã làm rung động con tim nhân dân miền Nam và cả nước hướng về An Lộc !

Chiếm xong Lộc Ninh, Cộng quân tiến về phía Nam và bắt đầu tấn kích An Lộc rạng sáng ngày 13-04-1972. Thực ra kể từ ngày 08-04-1972, Cộng Sản Bắc Việt đã dùng pháo binh rót vào An Lộc, Chơn Thành và Lai Khê để cầm chân sự tiếp viện của Việt Nam Cộng Hoà.

LỰC LƯỢNG TĂNG VIỆN CỦA QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ

Lực lương đầu tiên được tăng viện đến Lai Khê ngày 05-04-1972 là Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù do Ðại Tá Lê Quang Lưỡng chỉ huy gồm ba Tiểu Ðoàn và Pháo Đội Nhảy Dù.

Lực lượng tăng viện thứ hai là Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù do Trung Tá Phan Văn Huấn chỉ huy gồm 4 Ðại Ðội xung kích và 4 toán thám sát.

Ngoài ra, Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam Cộng Hoà quyết định sử dụng toàn bộ Sư Ðoàn 21 Bộ Binh từ vùng đồng bằng sông Cửu Long tăng cường cho mặt trận Bình Long, giải toả quốc lộ 13.

Ngoài quân bộ chiến nêu trên, Sư Ðoàn 5 Không Quân Việt Nam Cộng Hoà đã yểm trợ cho chiến trường từ những ngày đầu chiến sự bùng nổ tại Lộc Ninh với những phi vụ tấn công và yểm trợ xuất phát từ căn cứ không quân Biên Hoà và Tân Sơn Nhất. Hai đơn vị Không Quân của Không Lực Hoa Kỳ có mặt tại Quân Khu III Việt Nam Cộng Hoà là Lữ Ðoàn 7 Kỵ Binh Không Vận và Lữ Ðoàn 1 Không Vận cũng góp phần vào việc yểm trợ cho chiến trường Bình Long một cách đắc lực và hữu hiệu.

Với nhiệm vụ cắt đứt quốc lộ 13 ngăn cản sự tiếp viện của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà từ Lai Khê, Sư Ðoàn 7 Cộng Sản Bắc Việt được tăng cường pháo binh và phòng không tổ chức chằng chịt các vị trí phục kích, chốt chặn, chốt kiềng, giật sập cầu, phá đường mong biến quốc lộ 13 thành một sạn đạo, có đi mà không đường trở lại.

Ngày 12-04-1972, Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù mới đặt chân đến quận Chơn Thành sau 7 ngày chạm trán với Cộng quân để giải toả một khoảng đường không quá 30 cây số.
 
 
MỞ MÀN TRẬN CHIẾN TẠI AN LỘC
 
“Tiền pháo hậu xung” là một chiến pháp dùng để tấn kích một căn cứ quân sự, một đồn binh hay một trại lính có pháo đài, có công sự chiến đấu, có nhiều lớp rào kẽm gai làm chướng ngại vật và hệ thống mìn bẫy giăng mắc chung quanh.

An Lộc không phải là một căn cứ quân sự. An Lộc chỉ đơn thuần là một Thị Xã nhỏ bé, có nhà, trường học, bệnh viện và đường phố tấp nập người đi. An Lộc là một phố thị mà dân cư nhiều hơn lính chiến.

Áp dụng chiến thuật “tiền pháo hậu xung” để đánh chiếm An Lộc, Cộng Sản Bắc Việt đã hiện nguyên hình là loài quỷ đỏ điên cuồng bắn hàng ngàn quả đạn pháo 130 ly, 155 ly, súng cối 120 và hoả tiễn 122 ly vào phố thị đông người để sát hại dân lành vô tội.

Pháo! Loại đạn vòng cầu có tầm phá hủy kinh khủng nhất đã rót liên tục vào Thị Xã, ngày cũng như đêm, pháo từng hồi, từng phút, từng giờ biến An Lộc bỗng chốc trở thành hoả ngục. Nhà cửa, nhà thờ, chùa chiền, cao ốc, bệnh viện tất cả đều thay hình đổi dạng, sụp đổ hoang tàn.

Trú ẩn trong nhà cũng bị thương vong, chạy ra đường cũng chết. Sự chết đau thương và đến bất chợt theo tiếng ầm vang của pháo, theo tiếng gió rít của tầm đạn đi. Sự chết hãi hùng, chết không kịp nhắm mắt, chết không toàn thây, chết vô thừa nhận đầy dẫy khắp nơi trên đường phố. Ngay khi mưa pháo thưa dần và chấm dứt, Cộng quân tung vào trận địa Sư Ðoàn 9 và Sư Ðoàn Bình Long với sự yểm trợ của chiến xa T54.

Tuyến phòng thủ phía Tây Thị Xã do Trung Ðoàn 7 Bộ Binh đảm nhiệm và phía Ðông do Liên Ðoàn 3 Biệt Ðộng Quân án ngữ, chống trả mãnh liệt, khi thì dãn ra, lúc co cụm lại, nhưng vẫn đứng vững, trong khi tuyến phòng thủ phía Bắc do hai Tiểu Ðoàn thuộc Trung Ðoàn 8 vừa đến tăng cường đã bị chọc thủng. Ðặc công, xe tăng và quân bộ chiến Cộng Sản Bắc Việt tuôn vào thành phố như nước vỡ bờ. Ác chiến diễn ra trên thành phố, đạn bay súng nổ, thây người gục ngã, dân lành bồng bế, dìu dắt nhau bỏ chạy, chạy đi đâu để tránh thương vong… Nỗi khổ, nỗi lo và niềm hy vọng mong manh để được sống đã đến với người dân An Lộc sao quá bi thương, sao lắm đọa đầy!

Xe tăng Cộng quân rú gầm nhiều nơi trong thành phố, chạy ngang chạy dọc, tiếng xích sắt ken két nghiến trên đường tráng nhựa hoà lẫn với tiếng nổ ì ầm bắn ra từ đại bác 100 ly trên pháo tháp nhắm vào các cao ốc, và những bức tường nhà hiển hiện trên hướng tiến của chúng.

Trên bầu trời Thị Xã, Không Quân, bất chấp hiểm nguy, nhào lộn và len lỏi qua mạng lưới phòng không, tung ra những tràng đại liên và những quả bom chính xác vào vị trí giặc thù. Bom nổ làm rung chuyển thành phố như cơn địa chấn, từng cột khói đen bốc lên cao cuồn cuộn.

Giây phút nao núng ban đầu khi thấy xe tăng Cộng Sản xuất hiện tan biến nhanh chóng trong lòng những người lính tử thủ. Bây giờ đã đến lúc vùng lên bắn hạ những con quái vật đó, phải biến chúng thành những khối sắt bất động, không còn tác yêu tác quái nữa. Một đoàn 4 chiếc tăng T54 từ hướng Bắc theo đường Nguyễn Trung Trực nối đuôi nhau tiến vào phía sau khu Chợ Mới. Một anh lao công đào binh tạo được công đầu bằng một quả lựu đạn tung vào thùng xăng phụ đèo sau đuôi xe tăng T54. Lựu đạn nổ, xe tăng bốc cháy! Việt Cộng từ trong xe tăng mở nắp pháo tháp chạy thoát ra ngoài bị thanh toán ngay tại chỗ, thây nằm vất vưởng bên thành xe. Chiếc thứ hai xuất hiện sát Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5. Ðại Tá Lê Nguyên Vỹ Tư Lệnh Phó liền bắn một quả M.72 vào chiến xa T54. Vì bắn quá sát nên đạn M.72 không nổ, chiếc T54 bỏ chạy liền bị một chiếc trực thăng Cobra từ trời cao lao mình xuống phóng liền hai trái hoả tiễn trúng chiêc tăng đi đầu nổ tung. Ba chiếc tăng còn lại lúng túng, rú gầm trên khoảng đường bề ngang quá hẹp không xoay sở được, dễ dàng biến thành mục tiêu của hoả tiễn cầm tay M.72 được phóng ra từ quân trú phòng. Bây giờ người ta mới biết sức công phá mãnh liệt của loại hoả tiễn cầm tay M.72, một loại vũ khí chống tăng lợi hại mà bấy lâu nay bị người ta coi thường. Những chiếc tăng T54 đầu tiên bị bắn hạ tạo nên sự phấn khởi dây chuyền trong hàng ngũ quân trú phòng, họ xông vào xe tăng địch như một đợt thi đua lập chiến công. Hai khẩu pháo 105 ly của Thị Xã đặt tại sân vận động cạnh đại lộ Trần Hưng Ðạo hạ nòng bắn trực xạ vào xe tăng Cộng Sản, bắn lật tung pháo tháp xuống đất, bắn đứt xích, gẫy nòng và biến chúng thành những con cua rang muối, hừng hực đỏ lửa. Ðây là hai khẩu pháo cuối cùng của An Lộc đã bắn hết đạn trước khi tắt thở. Và bắt đầu từ đó, sự yểm trợ của hoả lực cơ hữu vào Thị Xã hoàn toàn bất khiển dụng.

Trận đánh khởi đầu từ mờ sáng đến xế chiều dưới ánh nắng chói chan của mùa hè vùng nhiệt đới, dưới sức tàn phá kinh hoàng của đạn bom, mà mỗi giờ mỗi phút đi qua đều mang theo hình ảnh của sự huỷ diệt.

Sự can thiệp của Không Quân gây ít nhiều thiệt hại cho Cộng quân, nhiều chiếc xe tăng T54 bốc cháy ven rừng trước khi vào thành phố.

Ngoài ra, sự xuất hiện của pháo đài bay B.52 được coi như khắc tinh của chiến thuật biển người, đã gây nhiều nỗi khiếp đảm và làm tổn thất nặng nề cho 4 Sư Ðoàn Cộng quân đang bủa vây An Lộc.

Pháo đài bay B.52, một vũ khí chiến lược của Không Lực Hoa Kỳ phát xuất từ Thái Lan và đảo Guam đã can thiệp vào chiến trường Bình Long theo yêu cầu của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà thực hiện 17 phi vụ đánh bom, mỗi phi vụ gồm 3 phi cơ bay trên thượng tầng khí quyển mà mắt thường ít khi nhìn thấy, chỉ nghe tiếng ù ù xa xăm của động cơ mà không biết bom sẽ nổ nơi nào. Mỗi phi vụ mang 42 quả bom nặng 500 ký và 24 quả bom nặng 250 ký đồng loạt rơi xuống chính xác mục tiêu đã ấn định. Vài giây đồng hồ trước khi bom nổ, người ta phát hiện tiếng gió rít ghê rợn của hàng loạt bom đang rơi, tiếng rít gió ào ào như trận cuồng phong, như tiếng kêu của tử thần. Bom chạm mục tiêu, nổ hàng loạt, nổ từng chuỗi dài, tiếng nổ làm rung chuyển mặt đất, lửa và khói đen bốc cao, từng luồng khí nóng hừng hực toả ra với vận tốc cực nhanh, 500 thuớc bề ngang và 1,000 thước bề dài trong tầm sát hại của bom rơi, tất cả đều biến thành bình địa.

Trong trận chiến An Lộc, B.52 đã đánh bom, có khi chỉ cách tuyến phòng thủ 900 thước, theo tin tức tình báo được kiểm nhận, có cả một Trung Ðoàn Cộng quân bị biến mất trong lúc bao vây thành phố.

Sau ba ngày đêm chống trả dữ dội, khu vực phía Bắc thành phố, kể cả đồi Ðồng Long, một cao điểm chiến thuật quan trọng đã lọt vào tay giặc. Từ đồi Ðồng Long, Cộng quân quan sát và nhìn rõ mọi hoạt động trong thành phố, hơn nữa nơi dây là cao điểm lý tưởng để tổ chức các vị trí súng phòng không 12 ly 8, đại bác 23, 37 ly và hoả tiễn địa không SA-7 đã khống chế và làm giới hạn sự can thiệp của Không Quân. Tuyến phòng thủ An Lộc càng lúc càng thu hẹp dưới sức ép của pháo binh và tấn công liên tục của Cộng Sản.

Quốc lộ 13 chưa được giải toả, do đó sự tiếp viện bằng đường bộ hoàn toàn bị tê liệt. Sự yểm trợ bằng Không Quân cũng gặp khó khăn. Hơn 80% đồ tiếp liệu như đạn dược, thuốc men và thực phẩm được thực hiện bằng phương tiện thả dù đã rơi vào vùng địch kiểm soát. Những đơn vị cơ giới và pháo binh của An Lộc hoàn toàn bất khiển dụng, phân nửa lực lượng phòng thủ bị loại ra khỏi vòng chiến.

An Lộc đang hấp hối, nhưng chưa tắt thở. Trong tình trạng chiến đấu tử thủ hôn mê đó, An Lộc vẫn củng cố niềm tin vào kế hoạch giải vây sẽ được bùng nổ vào giờ thứ 25. Không, An Lộc không thể chết tức tưởi như Lộc Ninh. An Lộc cần phải được mở một nút thoát hơi để thở. Các nhà lãnh đạo quân sự Việt Nam Cộng Hoà đã khẳng định điều đó và đã dự trù một kế hoạch để đối phó trong tình huống xấu nhất xảy ra để cứu nguy An Loc

THEO CHÂN ÐOÀN QUÂN MA
 
Theo kế hoạch giải vây, hai đơn vị thiện chiến được sử dụng đến là Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù và Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù.

Cả hai đơn vị này đều nhảy thẳng vào An Lộc với hai nhiệm vụ khác nhau, một phía trong và một phía ngoài Thị Xã.

Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù sẽ quét sạch hành lang vây khốn bên ngoài chu vi phòng thủ và Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù mở đường máu đánh thẳng vào An Lộc tiếp tay với quân trú phòng bên trong, chiếm lại phân nửa thành phố đã mất.

Người ta nghĩ kế hoạch này là một ván cờ liều, một kế hoạch đánh xã láng, “thí chốt để tiến xe” và những đơn vị thi hành sẽ là những con thiêu thân bay vào ánh lửa.

Ðúng vậy, họ là những con chốt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, những con chốt đã sang sông và đã nhập cung, trở thành một pháo đài sừng sững trước mặt quân thù.

Ngày 14-04-1972, từ Chơn Thành, Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù và một pháo đội được trực thăng vận vào một địa điểm cách An Lộc bốn cây số về hướng Ðông Nam.

Từ ấp Shrok Ton Cui, Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù chiếm lĩnh cao điểm 176 còn được gọi là Ðồi Gió, đặt 6 khẩu 105 ly dễ yểm trợ cho Bộ Chỉ Huy Lữ Ðoàn cùng Tiểu Ðoàn 5 và 8 Nhảy Dù tiến về hướng An Lộc.

Linh động và bất ngờ là hai yếu tố quan trọng trong binh pháp được Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù khai thắc triệt để trong cuộc hành quân này.

Cộng quân đang bao vây An Lộc bị cú bất ngờ khi thấy lính Nhảy Dù xuất hiện phía sau. Yếu tố bất ngờ đã làm địch quân hốt hoảng, trận đánh đẫm máu nổ ra và Nhảy Dù đã chiếm ưu thế, mở được một khoảng trống trong vòng vây kín mít từ phía Ðông Nam hướng về An Lộc.

Cùng ngày 14-04-1972, trong khi Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù được trực thăng vận vào An Lộc, thì từ những khu rừng già vùng Tây Nam Xa Mát dọc theo biên giớì Miên Việt, Liên Ðoàn 81 đang hành quân được triệt xuất để trở về Trảng Lớn thuộc Tỉnh Tây Ninh.

Sáng ngày 16-04-1972, Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù được vận chuyển qua Lai Khê bằng trực thăng Chinook CH-46, 12 giờ trưa cùng ngày, khi kho đạn Lai Khê bị đặc công Cộng Sản phá hoại nổ tung là lúc toàn bộ 550 quân cảm tử của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù sẵn sàng tại phi trường để được trực thăng vận vào An Lộc.

Nắng hè chói chan oi bức, ánh nắng lung linh theo cánh quạt của trực thăng tiễn đưa đoàn quân ma đi vào vùng đất cấm. Ðịa điểm đổ quân là những đám ruộng khô cằn nứt nẻ phía Tây Tỉnh lộ 245, chung quanh là những cánh rừng thưa trải dài theo hướng Tây Bắc, khoảng cách một cây số để đi đến Ðồi Gió.

Phải cần một hợp đoàn 45 chiếc trực thăng đa dụng HU1D với hai đợt đổ quân mới thực hiện xong cuộc chuyển quân, và Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù đã vào vùng hành quân lúc 4 giờ chiều ngày 16-04-1972.

Mở tần số liên lạc với Tướng Lê Văn Hưng trong An Lộc, liên lạc với Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù để biết vị trí quân bạn và nhanh chóng khai triển đội hình chiến đấu, di chuyển về hướng Tây, len lỏi theo đường thông thuỷ giữa hai ngọn đồi Gió và đồi 169. Âm thầm và ngậm tăm mà đi.

Một sự kiện bất ngờ không may xảy đến khi đoàn quân đang di chuyển: một quả bom của Không Quân đánh vào vị trí của Cộng quân lại rơi ngay vào đội hình di chuyển của Biệt Cách Dù, gây thương vong cho một vài binh sĩ, trong đó có Thiếu Uý Lê Ðình Chiếu Thiện. Lập tức trái khói vàng được bốc cao giữa đoàn quân để phi công nhận diện phìa dưới là quân bạn.

Phải mất một thời gian ngắn cho việc tản thương. Hai cố vấn Mỹ, Ðại Úy Huggins và Thượng Sĩ Yearta nhanh chóng liên lạc với Lữ Ðoàn 17 Kỵ Binh Không Vận Hoa Kỳ yêu cầu trực thăng cấp cứu và được thoả mãn. Ðây là hai cố vấn thuộc Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa Kỳ vẫn còn chiến đấu bên cạnh Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù khi quân bộ chiến Mỹ đã rút lui khỏi chiến trường Việt Nam theo kế hoạch “Việt Nam hoá chiến tranh” được thi hành vào năm 1970.

Sự kiện thứ hai xảy đến là sự xuất hiện của 47 quân nhân thuộc Liên Ðoàn 3 Biệt Ðộng Quân từ đồi 169 chạy tuôn xuống, mặt mày hốc hác vì mệt mỏi và thiếu ăn, bị thất lạc và phải trốn trong rừng. Họ đi theo Biệt Cách Dù để trở lại đơn vị gốc trong An Lộc.

Vài tràng súng AK ròn rã nổ ở hướng Ðông, có lẽ địch bắn báo động. Tiếp tục di chuyển, rẽ về hướng Tây Bắc để vào rừng cao su Phú Hoà. Tiếng súng nổ liên hồi, đứt khoảng phía trước. Tiểu Ðoàn 5 Nhảy Dù đang chạm địch. Gặp Tiểu Ðoàn Trưởng Nhảy Dù, Trung Tá Hiếu cười méo miệng, nói như phân trần: “Tụi nó đông như kiến và bám sát tụi “moi” như bày đỉa đói”.

“Tụi nó đông như kiến” đã nói lên thực trạng chênh lệch lực lượng quân sự đôi bên mà phần ưu thế về phía Việt Cộng! Nhưng đã là Nhảy Dù thì phải “cố gắng”, cố gắng cho đến lúc tàn hơi. Ðã là Biệt Cách Dù thì phải chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh cho màu cờ sắc áo của đơn vị.

Hoàng hôn phủ xuống thật nhanh, bóng tối lần lần bao trùm cảnh vật chung quanh. Súng vẫn nổ rải rác từng đợt, từng hồi trong rừng thẳm. Biệt Cách Dù tiến chiếm ấp Sóc Gòn trong im lặng và an toàn vì địch vừa rút ra khỏi đây. Lục soát, bố trí và dừng quân chung quanh ấp trong những công sự chiến đấu đã có sẵn của Việt Cộng. Bóng đêm dày đặc, im vắng, xa xa về hướng An Lộc, đạn pháo ì ầm nổ như tiếng trống cầm canh.

Sự đổ quân ồ ạt của Việt Nam Cộng Hoà về phía Ðông Nam cách An Lộc 4 cây số đồng nhịp với các phi vụ đánh bom B.52 tàn khốc về phía Tây Nam của thành phố đã làm cho Cộng quân hoang mang, hốt hoảng. Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù là lực đối kháng vòng ngoài để thu hút địch quân, đồng thời tạo một lỗ hổng để Biệt Cách Dù xâm nhập vào thành phố sáng ngày 17-04-1972, cùng một thời điểm của Tiểu Ðoàn 8 Nhảy Dù tiếp cận ngoại vi tuyến phòng thủ của Thị Xã về phía Nam cạnh quốc lộ 13.

Cộng quân không ngờ Biệt Cách Dù đã lọt vào Thị Xã tiếp hơi cho quân tử thủ và mở cuộc tấn kích ngay đêm đó vào các khu phố mặt Bắc. Với kỹ thuật đánh đêm điêu luyện, thần tốc, khi phân tán, khi hội tụ, Biệt Cách Dù đã giáng lên đầu Cộng quân những đòn sấm sét, đánh không có sự yểm trợ của pháo binh hay bất cứ một loại vũ khí vòng cầu nào, đánh bằng súng cá nhân, bằng lựu đạn, đánh cận chiến bằng lưỡi lê. Ðánh nhau từng căn nhà, từng cao ốc đổ vỡ, chiếm lại từng con đường, từng khu phố trong đêm dài dường như bất tận.

Sáng ngày 18-04-1972, Biệt Cách Dù đã có mặt hầu hết trong các khu phố phía Bắc Thị Xã và giải thoát gần 100 gia đình cư dân còn kẹt lại trong vùng kiểm soát của Cộng Sản.

Từ các căn nhà sụp đổ bên vệ đường, từng toán Việt Cộng tuôn ra tháo chạy thục mạng về hướng Bắc, vì chúng bị đánh phủ đầu ban đêm, sáng ra nhìn chung quanh nơi nào cũng thấy “lính rằn ri”, loại lính đã hơn một lần chặn đánh chúng trên đường Trường Sơn heo hút mưa bay.

Mặc dù đã chiếm lại toàn bộ khu vực phía Bắc, nhưng vẫn còn một ổ kháng cự mà Cộng quân vẫn cố thủ bên trong, đó là đồn Cảnh Sát Dã Chiến. Biệt Cách Dù tấn công nhiều đợt nhưng vẫn chưa vào được. Hơn nữa, từ đồi Ðồng Long, Việt Cộng dùng đại bác 57 ly, sơn pháo 75 ly và súng không giật 82 ly bắn trực xạ vào Biệt Cách Dù để yêm trợ cho bọn chúng cố thủ bên trong đồn. Cố vấn Huggins của Biệt Cách Dù vào ngay tần số của Lữ Ðoàn 1 Không Quân Hoa Kỳ xin yểm trợ hoả lực. Hai chiếc phi cơ AC.130 Spector bay lượn trên vùng trời An Lộc với cao độ ngoài tầm sát hại của cao xạ và hoả tiễn địa không SA7, bắn từng quả đạn 105 ly hoặc từng loạt 3 quả đạn 40 ly vào mục tiêu yêu cầu được điều chỉnh từ dưới dất. Cuối cùng đồn Cảnh Sát lọt vào tay Biệt Cách Dù vào lúc 4 giờ chiều. Phần nửa thành phố phía Bắc được chiếm lại sau gần 24 tiếng đồng hồ chiến đấu liên tục. Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù yêu cầu Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh điều động quân bạn hai bên cạnh sườn cùng tiến lên ngang hàng với quân Biệt Cách Dù. Sự yêu cầu không được đáp ứng, vì quân số của quân trú phòng đã hao hụt và bất khiển dụng quá nhiều, do đó cạnh sườn của Biệt Cách Dù bị bỏ trống. Lợi dụng sơ hở này, Cộng quân phản công mãnh liệt bằng hai mũi tấn công, mũi thứ nhất đánh trực diện từ hướng đồi Ðồng Long có sự yểm trợ của cối 61 ly, cối 82 ly và sơn pháo 75 ly, mũi thứ hai từ phía Tây đánh thốc vào ngang sườn với quân số khá đông. Trước tình huống phải đối đầu phía trước mặt và phía ngang hông, Biệt Cách Dù phải rút quân về phía khu chợ Mới, tuy nhiên vẫn còn để lại một Ðại Ðội cố thủ trong đồn cảnh sát.

Ðồn cảnh sát đương nhiên trở thành một tiền đồn án ngữ lẻ loi phía Bắc Thị Xã, một tiền đồn bất đắc dĩ mà không thể nào bỏ trống được, và nơi đây là một cái gai mà Cộng quân bằng mọi cách phải nhổ đi, do đó muốn duy trì vị trí chiến thuật quan trọng đó, phải đổ máu rất nhiều. Biệt Cách Dù chấp nhận sự lựa chọn này để giữ vững tiền đồn suốt một thời gian dài.

Sự tham chiến của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù đã làm cho An Lộc hồi sinh sau cơn mê dài hấp hối, và sự có mặt của Biệt Cách Dù đã mở màn cho những trận đánh ác liệt xảy ra trong lòng Thị Xã.

Ðêm 19-04-1972 Cộng quân sử dụng Trung Ðoàn 141 và Trung Ðoàn 275 có xe tăng yểm trợ tấn công Ðồi Gió sau khi rót vào vị trí này hàng ngàn quả đạn pháo, tiêu diệt 6 khẩu pháo 105 duy nhất của pháo đội Nhảy Dù và tràn ngập Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù của Trung Tá Ðĩnh đang án ngữ tại đây, đồng thời pháo kích dữ dội vào An Lộc để chuẩn bị cho hai mũi tấn công từ hướng Tây và hướng Bắc thành phố. Trận đánh kéo dài suốt đêm, tuyến phòng thủ vẫn đứng vững trước chiến thuật biển người của Cộng Sản. Riêng khu Bắc Thị Xã, Biệt Cách Dù và Cộng quân giao tranh ác liệt, có khi chỉ cách nhau một con đường bề ngang 4 thước trong tầm ném tay của lựu đạn.

Mất đồi Gió, một cao điểm quan trọng nằm bên ngoài phạm vi phòng thủ với 6 khẩu pháo 105 ly còn lại duy nhất để yểm trợ, An Lộc càng lúc càng thấy cô đơn trong mênh mông bão lửa. Môt số quân của Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù do Trung Tá Ðĩnh chỉ huy chạy thoát về sông Bé hướng Ðông, và được trực thăng cứu cấp bốc về Lai Khê tái huấn luyện và bồ sung quân số chờ ngày phục hận.

Cuộc chiến giảm dần cường độ vì sự thiệt hại của hai bên công - thủ.

Bên ngoài phạm vi phòng thủ, Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù đã là một thành đồng vững chắc án ngữ mặt Ðông Nam, bên trong thành phố, Biệt Cách Dù mở cuộc tấn công đêm liên tục, đánh phá những vị trí Cộng quân chiếm giữ, làm cho chúng ăn không ngon, ngủ không yên. Ngoài ra sự oanh tạc của B.52 gần An Lộc đã gây tổn thất rất nhiều cho địch quân, tuy nhiên mức độ pháo kích của Cộng quân vẫn đều đặn rót vào An Lộc khoảng 2,000 quả đạn mỗi ngày.

Bên phố chợ, người dân ngậm ngùi nhìn thấy những nấm mồ của tử sĩ Biệt Cách Dù mỗi ngày một nhiều hơn. Họ đánh nhau hằng đêm và hì hục chôn xác bạn bè hằng đêm trong mưa pháo tuôn rơi, khi mặt trời chưa thức giấc. Sống, chiến đấu bên nhau trong cuộc hành trình gian khổ để tiêu diệt quân thù trên khắp nẻo đường đất nước, lòng thuỷ chung và tinh chiến hữu keo sơn chan hoà thắm thiết khi có người nằm xuống, vĩnh viễn ra đi. Hình ảnh nghĩa trang Biệt Cách Dù đã nói lên điều đó.

AN LỘC, CHIẾN TRƯỜNG ÐI KHÔNG HẸN
 
Theo lời cung khai và thú nhận của tù hàng binh Cộng Sản mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bắt được, có ba thứ mà cán binh Cộng Sản lo sợ khi vượt Trường Sơn để xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà. Thứ nhất là B.52, thứ nhì là Biệt Kích số 81, và thứ ba là chạm súng với quân Nhảy Dù. Cả ba thứ đó đều hiện hữu và có mặt tại chiến trường An Lộc.

Liên Ðoàn Biệt Cách Nhảy Dù, dân Miền Nam thường gọi tắt là Biệt Cách Dù, Việt Cộng gọi là Biệt Kích số 81, thực ra là đơn vị Tổng Trừ Bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, với quân số khiêm nhường trên bảng cấp số là 916 người, được đào tạo và huấn luyện thuần thục về chiến thuật phản du kích trong chiến tranh ngoại lệ, nhảy toán, thám sát, đột kích, bắt cóc tù binh, đánh phá vào các cơ sở hậu cần của địch. Nhảy vào lòng đất địch để chiến dấu bằng phương tiện nhảy dù, nhưng phần lớn bằng trực thăng vận, âm thầm hoạt động trong vùng khu chiến, cách biệt xa tầm yểm trợ của pháo binh. Bước chân của người chiến binh Biệt Cách Dù đã lần lượt đi qua các chiến trường sôi động một thời vang danh quân sử.

Từ Làng Vei, A Sao, A Lưới, Tà Bạt, Khe Sanh, Lao Bảo quanh năm sương mờ bao phủ của vùng biên giới Việt Lào, vượt lên phương Bắc hoả tuyến với Mai Lộc, Cam Lộ, Ðông Hà, Quảng Trị và xuôi về vùng núi rừng cận duyên của Tam Quan, Bình Ðịnh, Bồng Sơn, An Lão. Ði miệt mài, hành quân không ngơi nghỉ để về Tây Nguyên với Boloven hùng vĩ, đổ xuống Tam Biên, đi Tân Cảnh, Diên Bình và tạm dừng chân, nâng chén quan hà bên bờ sông Dakbla nước chảy ngược dòng của chiến trường Kontum mịt mờ bụi đỏ. Tây Ninh nắng cháy nung người không làm nao lòng chiến sĩ, Bình Giả, Ðồng Xoài nặc nồng mùi tử khí. Khi chiến trường im tiếng xung phong thì bước chân của người chiến binh Biệt Cách Dù vẫn còn dong ruổi trong cuộc hành trình vô định.

Vào An Lộc, chiến trường nặng độ với trung bình mỗi ngày hơn hai ngàn đạn pháo, chiến trường cô đơn khi tổn thất của quân tử thủ mỗi lúc một gia tăng, đánh đêm đánh ngày, dằng dai khi công, khi thủ ròng rã kéo dài suốt tháng.

Cứ mỗi lần Cộng quân gia tăng cường độ pháo kích vào thành phố là để chuẩn bị cho cuộc tấn công bằng bộ binh ngay sau đó.

Ðêm 04-05-1972, Cộng quân ồ ạt tấn công vào phòng tuyến phía của Biệt Cách Dù.

Ở thế công thì dù sao cũng có ít nhiều sơ hở nhưng khi Biệt Cách Dù ở vào thế thủ thì một con kiến cũng khó lọt qua. Lựu đạn, mìn thi nhau nổ, AK, súng máy rít vang trời. Trận đánh kéo dài đến sáng tỏ trời. Xác địch nằm la liệt, ngổn ngang bên ngoài phòng tuyến. Lần đầu tiên trong trận địa chiến, Biệt Cách Dù tịch thu được 2 khẩu súng phun lửa do Trung Cộng sàn xuất. Trong túi áo của mỗi xác chết đề có mang theo một mảnh giấy nhỏ bề ngang 5 phân, bề dài 20 phân với câu viết ngắn gọn :”Quyết tâm bắt sống Sư Trưởng Sư Ðoàn 5, dựng cờ chiến thắng”. Thì ra bọn này có học tập trước khi lao mình vào tử địa.

Ngày 10-05-1972, Cộng quân bắt đầu pháo kích dữ dội từ 5 giờ sáng, pháo liên tục dòng rã suốt ngày. Người ta đếm có hơn 8,000 quả đạn pháo rơi xuống thành phố. Nhà cửa đã hoang tàn lại thêm hoang tàn. Người ta tiên liệu một cuộc tấn công lớn của Cộng quân sắp xảy ra và trận đánh lớn nổ tung lúc 5 giờ sáng ngày 11-05-1972 với toàn bộ lực lượng còn lại của 4 Sư Ðoàn đang vây hãm An Lộc.

Ðịch ồ ạt tiến vào thành phố từ nhiều phía. Tuyến phòng thủ phía Ðông Bắc của Biệt Ðộng Quân bị thủng, một số Cộng quân lọt vào Ty Chiêu Hồi. Xe tăng T54 xuất hiện nhiều nơi trong thành phố, có chiếc tiến lại gần bản doanh tử thủ của Tướng Lê Văn Hưng và bị bắn cháy. Xe tăng và quân bộ chiến của Cộng Quân bị chặn đứng tại phòng tuyến của Biệt Cách Dù. Trời sáng tỏ và trận đánh trở nên ác liệt. Phòng tuyến phía Tây của Trung Ðoàn 7 Bộ Binh bị thủng và co cụm lại thành từng ổ kháng cự chung quanh Tiểu Khu. Không Quân can thiệp kịp thời, dội bom bên ngoài, bắn phá bên trong thành phố. Xe tăng của Cộng Sản và bộ đội không phối hợp chặt chẽ với nhau khi tấn công vào thành phố, do đó nhiều chiếc xe tăng chạy lạc đường, bị lẻ loi, dễ bị tiêu diệt. Quân trú phòng nhảy ra khỏi vị trí chiến đấu để săn đuổi xe tăng như thợ săn đang săn đuổi con mồi. Ðây là lần thứ hai xe tăng địch đã vào thành phố để biến thành những khối sắt bất động. Ðơn vị nào cũng bắn cháy được xe tăng, kể cả một số ít Ðịa Phương Quân còn lại cũng hăm hở diệt tăng với khẩu M.72 lần đầu tiên được sử dụng. Trận đánh tàn dần lúc 3 giờ chiều với sự thiệt hại nặng nề của Cộng quân. Người ta đếm được 40 xác chiếc xe tăng rải rác đó đây trong thành phố và ngoài tuyến phòng thủ, không kể đến hàng loạt thi thể không toàn vẹn của những người lính đến từ phương Bắc xa xôi. Tuy nhiên An Lộc vẫn còn nằm trong khả năng pháo kích ngày đêm của Cộng Sản, An Lộc vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề của lực lượng bao vây khi quốc lộ 13 chưa được giải toả.

Sư Ðoàn 21 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà với nhiệm vụ giải toả quốc lộ 13, mặc dù tiến quân chậm và vững chắc cũng bị thiệt hại nhiều.

Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù đã lấy lại sinh lực sau lần thất bại tại Ðồi Gió đã trở lại tham chiến, và là đơn vị đầu tiên của lực lượng giải toả tiến về An Lộc sau bao trận đánh phục thù ven quốc lộ 13.

Ngày 08 tháng 06 năm 1972 lúc 5 giờ chiều, Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù đến Xa Cam bắt tay vói Tiểu Ðoàn 8 Nhảy Dù do Trung Tá Ðào Thiện Tuyển đang án ngữ tại đây. Xa Cam, cửa ải địa đầu cực Nam An Lộc, khoảng 2 cây số nằm ven quốc lộ 13, một đồn điền với rừng cao su ngang dọc thẳng tắp đã trở thành chiến địa mà Tiểu Ðoàn 8 Nhảy Dù “nhất kiếm trấn ải” tung hoành trong suốt thời gian gần hai tháng để chiến đấu sống còn với lực lượng địch quân có quân số và hoả lực đông và mạnh gấp nhiều lần.

Cái bắt tay của Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù với Tiểu Ðoàn 8 Nhảy Dù như một tiếng sấm vang trời trong cơn mưa tầm tã báo hiệu trời quang mây tạnh sẽ đến. Những người lính Nhảy Dù truyền hơi ấm cho nhau, mỉm cười với ánh mắt long lanh tin tưởng vào ngày tàn của Cộng quân trong chiến trường An Lộc.

Ngày 10 tháng 06 năm 1972, Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù tung toàn bộ lực lượng quét sạch tất cả các ở kháng cự của Cộng quân trong các khu phố phía Bắc Thị Xã, bắt được một tù binh đang thúc thủ dưới hầm sâu. Ðây là một tên bộ đội thuộc Sư Ðoàn 5 Cộng Sản Bắc Việt, sau hơn 6 tháng vượt Trường Sơn để bổ sung cho chiến trường với nhiệm vụ “anh nuôi”. Anh nuôi là tiếng của Việt Cộng dùng để chỉ những tên lính chuyên lo việc bếp núc, nấu ăn cho đơn vị. Gương mặt hốc hác vì hoảng sợ, nước da xanh như tầu lá vì thiếu ánh nắng mặt trời và tay chân hơi run rẩy vì thiếu ăn, Tên bộ đội lắp bắp khai: “Ðơn vị hết người chiến đấu vì bị chết quá nhiều, cho nên Thủ Trưởng bắt buộc em cầm súng ra trận. Em chưa bắn một phát nào, đến đây đã được ba ngày cứ lo đào hầm để tránh bom”. Lời cung khai của tên bộ đội khoảng 18 tuổi với gương mặt non choẹt còn phơn phớt nét thơ ngây của tuổi học trò đã nói lên tình trạng tổn thất bi đát của lực lượng Cộng quân sau gần 2 tháng bao vây và tấn công mà không chiếm nổi An Lộc.

Ngày 12 tháng 06 năm 1972, Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù tái chiếm đồi Ðồng Long, một cao điểm quan trọng nằm sừng sững phía Bắc, cách An Lộc khoảng 500 thước.

Lực lượng tấn công tái chiếm đồi Ðồng Long gồm Ðại Ðội 2 Xung Kích do Ðại Úy Nguyễn Sơn chỉ huy, Ðại Ðội 3 Xung Kích do Ðại Úy Phạm Châu Tài chỉ huy, và 4 toán Thám Sát do Trung Úy Lê Văn Lợi chỉ huy. Biệt Cách Dù chia làm 3 mũi, bọc trái, bọc phải và chính diện hưóng về mục tiêu trước mặt có cao độ 128 thước. Họ xuất quân và đến lưng chừng đồi lúc nửa đêm, đồng loạt xung phong khi hừng đông vừa ló dạng chân trời. Bị đánh bất ngờ và vô cùng táo bạo, lựu đạn tung vào hầm trú ẩn, đạn bắn xối xả vào công sự chiến đấu, những tiếng hét xung phong vang dội một góc trời. Ðịch quân chủ quan và còn mê mệt trong tình trạng ngái ngủ, trở tay không kịp, hoảng hốt bỏ chạy không có thì giờ xỏ chân vào đôi dép râu, nói chi cầm đến khẩu súng để chống trả.

Một số chạy thoát vào rừng để lại sau lưng chiến địa còn nặng mùi khói súng với nhiều xác chết vương vãi đó đây.

Ðột kích là phương pháp tấn công vô cùng táo bạo, đánh nhanh, đánh mạnh với hoả lực tập trung tối đa được Biệt Cách Dù áp dụng trong thời điểm bất ngờ nhất làm cho địch không có thì giờ xoay trở.

Trung Úy Lê Văn Lợi hãnh diện cắm lá Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hoà trên đỉnh đồi Ðồng Long.

Quốc Kỳ rực rỡ căng gió phất phới bay trên nền trời xanh biếc của mùa hè vùng bão lửa. Ðám mây mờ bao phủ vùng trời An Lộc bấy lâu nay lần lần tan biến. Trung Tá Phan Văn Huấn, con chim đầu đàn của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, vào tần số liên lạc với các cánh quân Biệt Cách Dù đang có mặt trên đỉnh đồi Ðồng Long, giọng cảm động, ông nói : ”Chúng ta đã chu toàn nhiệm vụ cao cả nhất mà quân đội đã giao phó, nhiệm vụ phải trả bằng xương máu của các anh em, của các tử sĩ Biệt Cách Dù đã nằm xuống. Tôi thành thật ca ngợi lòng dũng cảm của anh em trong chiến tích hôm nay”.

Chiếm xong đồi Ðồng Long, Biệt Cách Dù truy kích, lục xoát xung quanh, và phát hiện một căn hầm sâu ven rừng, có tiếng động khả nghi bên trong. Tất cả họng súng đen ngòm hướng vào miệng hầm chờ đợi như con hổ rình mồi. Có tiếng hét lớn từ trong đám lính:

- Chui ra ngay, đầu hàng ngay, tao tung lựu đạn vào chết cả đám bây giờ!
- Khoan, dừng tay, coi chừng bắn lầm vào dân! Tiếng nói khẩn cấp của người chỉ huy từ xa vọng lại. Tất cả đều chờ đợi. Bước lại gần miệng hầm, người chỉ huy nói to:

- Chúng tôi là lính Việt Nam Cộng Hoà. Ai trốn trong hầm thì chui ra mau.

Câu nói được lập lại lần thứ hai. Có tiếng thút thít bên trong hầm vọng ra.
- Ra đi, chui ra đi, không sao đâu!

Tiếng người lính thúc dục. Tiếng động bên trong rõ dần. Những ánh mắt long lanh của những chiến binh Biệt Cách Dù chùng xuống khi thấy hai em bé gái 9, 10 tuổi lê lết tấm thân tàn, chậm rãi bò ra khỏi căn hầm trú ẩn.

- Trời ơi! Hai đứa bé gái! Ba má các em đâu, sao lại như thế này? Còn ai trong đó không?

Người chỉ huy nắc nghẹn giọng nói. Hai em bé mặt mũi lem luốc, mắt mờ đẵm lệ, thân mình khô đét như hai bộ xương biết cử động, chỉ lắc đầu sau những câu hỏi dịu dàng của người chỉ huy Biệt Cách Dù. Hai em bé đã tránh bom đạn trong căn hầm này bao lâu rồi, một tháng, hai tháng, lấy gì ăn để sống đến nỗi thân thể phải xác xơ như thế này!

Ôi chiến tranh! Chiến tranh tàn khốc mà người Cộng Sản đã mang đến cho dân tộc mình như thế đó.
 
 
AN LỘC ÐỊA SỬ LƯU CHIẾN TÍCH
 
Kể từ ngày cắm lá Quốc Kỳ trên đỉnh Ðồng Long, Biệt Cách Dù bung ra khỏi thành phố và án ngữ trong các khu rừng phía Bắc An Lộc. Thành phố tuy sạch bóng quân thù, nhưng mức độ pháo kích vẫn còn rời rạc, vô chừng.
An Lộc đã được giải toả trong điêu tàn và đổ vỡ! An Lộc sụp đổ hoang tàn trong cái hình hài đấy vết đạn bom, nhưng An Lộc đã đi vào huyền thoại của những người tử thủ.

“An Lộc địa sử ghi chiến tích,
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân”

Trong hoang tàn và đổ vỡ của một thành phố đã chịu đựng sức tàn phá hãi hùng của đạn bom, hai câu thơ của cô giáo Pha được Biệt Cách Dù cứu thoát khi bị thương, được khắc trên đài tưởng niệm trước nghĩa trang bên phố chợ đìu hiu, mà trong đó 68 nấm mồ của tử sĩ Biệt Cách Dù được chôn vội vã từng đêm khi chiến trận tàn khốc xảy ra đã làm mủi lòng dân cả nước với lòng ngưỡng mộ và niềm xúc cảm vô biên.

Sau khi đồi Ðồng Long được tái chiếm, thành phố An Lộc xem như được giải toả, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Quân Ðoàn 3 lần đầu tiên đến thăm An Lộc và Trung Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, là người đầu tiên được vinh thăng Ðại Tá tại mặt trận. Tác giả Sao Bắc Ðẩu, trong cuốn “Một ngày trong An Lộc”, trang 296 và 297 đã ghi lại việc thăng cấp như sau:

“Một ông Ðại Tá mặt trận"
Trung Tướng Minh cẩn thận giải thích rằng không phải chỉ riêng Trung Tá Huấn, Chỉ Huy Trưởng Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù là có công, là xứng đáng được tặng thưởng. Sở dĩ ông cẩn thận như vậy là ngại có người sẽ hỏi: “Tại sao chỉ một mình Trung Tá Huấn được thăng cấp tại mặt trận?”. Tướng Minh cẩn thận như vậy cũng phải, nhưng trên thực tế, không ai có ý phân bì với tân Ðại Tá Huấn cả. Những người lính Biệt Cách của ông đã chiến đấu hơn một người lính và đã giúp đỡ dân chúng hơn một cán bộ Chiến Tranh Chính Trị.

Chính một binh sĩ của Tiểu Ðoàn 2 Nhảy Dù đã xác nhận với chúng tôi rằng đó là “những người lính tuyệt”. Một người khác kể lại rằng nếu không gặp lính Biệt Cách thì hai đứa trẻ nằm trong hầm 70 ngày đã chết vì lựu đạn. Anh này khẳng định:
- Miệng hầm trông khả nghi lắm. Lại nghe văng vẳng có tiếng động. Gặp người nhát là phải tung lựu đạn trước khi xuống.

Nhưng những anh Biệt Cách của Ðại Tá Huấn đã không tung lựu đạn xuống. Họ kiên nhẫn nằm trên miệng hố rình rập vì họ nghĩ rằng dù có lính Bắc Việt phía dưới thì những người này cũng đói lả không còn sức kháng cự nữa. Cuối cùng họ đã cứu sống được hai em nhỏ, nạn nhân chiến cuộc.

Tôi hỏi vị Ðại Tá tân thăng:
- Người ta nóí với chúng tôi rằng dân chúng An Lộc lập một nghĩa trang riêng để chôn những tử sĩ của Ðại Tá. Xin Ðại Tá cho chúng tôi hiểu rõ vì lý do nào, ngưòi lính Biệt Cách lại có một tác phong đặc biệt đối với dân chúng như vậy?

- Tôi thiết tưởng điều này cũng dễ hiểu. Anh nghĩ coi, từ trước đến nay, lính Biệt Cách chúng tôi chỉ nhảy từng toán 5 người vào tác chiến sau lưng địch. Nói một cách khác, chúng tôi đã quen sống với thái độ thù địch của dân chúng trong vùng chiến đấu. Ðây là lần đầu tiên chúng tôi là bạn chứ không phải là thù, dân chúng giúp đỡ chứ không chống lại chúng tôi”.
 
Biệt Cách Dù nhảy vào An Lộc ngày 16-04-1972 và rời khỏi An Lộc ngày 24-06-1972. Tính ra đúng 68 ngày tham chiến.

68 ngày tử chiến với 68 Biệt Cách Dù hy sinh và trên 300 bị thương, trong mưa pháo kinh hoàng, ngày cũng như đêm không tròn giấc ngủ, đục tường, khoét vách, đào hầm để giành lại từng tấc dất trong tay quân thù. Chiến đấu trong từng căn nhà, từng khu phố, từng đoạn đường lỗ chỗ hố bom, vùng lên diệt xe tăng cũng như đồng loạt truy kích khi địch đã tàn hơi, và cuối cùng cắm lá Quốc Kỳ trên đỉnh Ðồng Long tượng trưng cho sự chiến thắng, hình ảnh người chiến binh Biệt Cách Dù mãi mãi sống trong tâm hồn người dân An Lộc, hình ảnh dũng cảm, can trường biểu tượng cho sự chịu đựng bền bỉ, sức chiến đấu hào hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.

48 giờ sau khi rời khỏi chíến trường An Lộc, ngày 26-06-1972, Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù đã có mặt tại miền hoả tuyến để tham gia chiến dịch “ba tháng vùng lên tái chiếm Quảng Trị”. Còn giặc thù, còn chiến trường, người chiến binh Biệt Cách Dù vẫn còn xông pha tiến bước, dù một lần sảy chân nằm yên trong nghĩa trang hiu quạnh thì đó cũng là một điều vinh quang cho người chiến sĩ để báo đền ơn Tổ Quốc.
 
 
Hổ Xám PHẠM CHÂU TÀI
(cựu Thiếu Tá Biệt Cách Dù QLVNCH)