Monday, April 17, 2017

Những nghịch lý chết người hay bi kịch của một quốc gia
Author: Nguyễn Quang DySource: Viet Studies Posted on: 2017-04-17
“Chính trong những khoảnh khắc đen tối nhất, ta phải tập trung để thấy được ánh sáng” (It is during our darkest moments that we must focus to see the light - Aristotle)
Một số nghịch lý chết người có thể làm chính trị suy đồi và kinh tế tụt hậu, dẫn đến bi kịch quốc gia. Nguyên nhân chính là do hội chứng cực đoan và ngộ nhận, vì cực đoan thường dẫn đến vô cảm và ngộ nhận thường dẫn đến vô minh. Vô cảm và vô minh vốn là bi kịch lớn của con người, như một căn bệnh mãn tính rất khó chữa.
Tại các nước đang chuyển đổi (nhưng “không chịu phát triển”), cực đoan và ngộ nhận cản trở cải cách thể chế và hòa giải dân tộc, bỏ qua những cơ hội sống còn để phát triển, làm đất nước ngày càng suy yếu, cạn kiệt, và phụ thuộc, dễ mất độc lập và chủ quyền. Vì vậy, muốn thoát khỏi vấn nạn đó, để “kiến tạo” và phục hưng đất nước, người Việt phải nâng cao dân trí và đổi mới tư duy, để cải cách thể chế và dân chủ hóa.
Nhưng trong bối cảnh phân hóa nội bộ hiện nay, ai ủng hộ và ai chống lại cải cách thể chế? Theo Lê Kiên Thành, “Nếu những người có chức có quyền giàu lên nữa thì đất nước này sẽ sụp đổ… Chúng ta sẽ phải đứng về một phía chống lại 1/3 chúng ta, mà 1/3 này là những người vừa có tiền vừa có quyền, những người đang được hưởng lợi từ thể chế hiện giờ... Đó là những nghịch lý mà chúng ta đang phải đối mặt”.
Cực đoan và hận thù hay “tù nhân của quá khứ”
Khi xem xét lại chiến tranh Việt Nam, người ta nhận ra “một cuộc chiến sai lầm, sai lầm về địa điểm, sai lầm về thời điểm, và sai lầm về địch thủ” (a wrong war, at the wrong place, at the wrong time, with the wrong enemy – John Kennedy, Oct 13, 1960). Đó là một bài học lịch sử cho cả hai bên, vì ngộ nhận dẫn đến nghịch lý chết người. Phải chăng lịch sử có thể rẽ ngả khác, nếu John Kennedy nghe lời khuyên của George Ball (thứ trưởng ngoại giao, đã khuyên tổng thống đừng đưa quân vào Việt Nam). Những người “thông minh tài giỏi nhất” (the best and the brightest) cũng có thể ngộ nhận và mắc sai lầm.
Tuy chiến tranh Việt Nam đã kết thúc hơn bốn thập kỷ, nhưng bóng ma Việt Nam vẫn còn ám ảnh hai đất nước, và hai thế hệ người Mỹ cũng như người Việt. Tuy hai nước cựu thù đã bình thường hóa và trở thành đối tác toàn diện, nhưng hai cộng đồng người Việt đến nay vẫn chưa thể hòa giải được. Thậm chí trong cùng một cộng đồng, các phe phái cũng coi nhau như thù địch, dùng bạo lực để triệt hạ lẫn nhau. Vì vậy mới có bi kịch “Terror in Little Saigon” và “tiếng súng Yên Bái”, như một nghịch lý của người Việt.
Những người cộng sản cực đoan và những người chống cộng cực đoan thực ra rất giống nhau, vì họ đều độc tài, không chấp nhận ai nghĩ khác mình, nói khác mình. Chính họ đã tiếp tay cho nhau, ngăn cản hòa giải và đổi mới. Chừng nào những ân oán của hai bên chưa được hóa giải, cực đoan và hận thù (chứ không phải ôn hòa và nhân ái) còn ngự trị trong tâm thức họ như “tù nhân của quá khứ” thì bi kịch này còn tiếp diễn.
“Kinh tế thị trường định hướng XHCN” hay “Frankenstein”
Suốt bốn thập kỷ sau chiến tranh Việt Nam, tuy trải qua bao biến động trên thế giới và trong nước, nhưng Việt Nam vẫn kiên trì định hướng XHCN, vẫn “đi tìm cái không có” (như lời Bộ trưởng Bùi Quang Vinh). Chính là cực đoan và ngộ nhận đã xô đẩy Việt Nam vào bãi lầy ý thức hệ, nên vẫn loanh quanh tại ngã ba đường.
Chủ nghĩa tư bản hoang dã hay chủ nghĩa xã hội thân hữu, về bản chất đều như nhau, đã đi đêm và đẻ ra cái quái thai “kinh tế thị trường định hướng XHCN”, nay trở thành Frankenstein đang thao túng quyền lực, làm đất nước suy yếu và tụt hậu. Nói cách khác, các nhóm lợi ích đã trở thành “tư bản đỏ”, thao túng quyền lực và lũng đoạn chính sách, tạo ra bất ổn vĩ mô, làm cạn kiệt tài nguyên quốc gia, gây ra thảm họa môi trường, đẩy đất nước đến chỗ hỗn loạn, dễ mất chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc.
Trước vấn nạn nợ công khổng lồ, như một đám mây đen lớn đang đe dọa làm vỡ nợ quốc gia, chính phủ kiến tạo không thể tiếp tục đầu tư tràn lan vào những dự án lợi bất cập hại, duy trì các tập đoàn nhà nước thua lỗ và tham nhũng. Làm sao có thể kiến tạo và chống tham nhũng nếu không đổi mới thể chế toàn diện để triệt tiêu nguyên nhân gốc rễ? Chính phủ không thể bảo lãnh mãi cho con tàu đắm Vinashin và các “quả đấm thép” (nợ đến 237 tỷ USD, bằng 120% GDP), trong khi ngân sách phải “chạy ăn từng bữa”.
Liệu có “ổn định chính trị” nếu bất ổn về kinh tế
Theo chuyên gia Vũ Quang Việt, nợ công của Việt Nam không phải chỉ sát ngưỡng báo động 65% GDP (khoảng 94,8 tỷ USD). Nếu tính cả nợ của các doanh nghiệp nhà nước (được chính phủ bảo lãnh) thì nợ công lên tới 210% GDP, và nợ xấu lên đến 11% GDP (khoảng 22 tỷ USD).
Trong khi đó dự trữ ngoại hối chỉ có 40 tỷ USD (theo Ngân hàng Nhà nước), nhưng 1/3 trong số đó là trái phiếu chính phủ Mỹ (không khả dụng).
Theo Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VERP), nguồn kinh phí chi cho các tổ chức công chiếm 1,7% GDP (khoảng 71,000 tỷ VNĐ). Trong khi đó hàng năm Viêt Nam phải trả nợ đến hạn (20 tỷ USD năm 2015, và 12 tỷ USD năm 2016). Trong tháng 11/2016, Chính phủ phải vay tới 17 tỷ USD để chi thường xuyên cho 11 triệu người ăn lương ngân sách và trả lãi các khoản vay đến hạn, thâm hụt ngân sách hàng trăm ngàn tỷ VNĐ/tháng. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã cảnh báo khả năng “sụp đổ tài khóa quốc gia”.
Dù Bộ Tài Chính có bán hết vốn các doanh nghiệp lớn mà nhà nước nắm cổ phần, cũng chỉ thu về được 7 đến 15 tỷ USD, chỉ đủ chi ngân sách từ một tháng rưỡi đến ba tháng. Trong khi đó kiều hối năm 2016 giảm 30% (khoảng 3 tỷ USD). World Bank tuyên bố chấm dứt ODA cho Việt nam vào tháng 7/2017 (tiếp theo sẽ là ADB).
Bức tranh kinh tế hiện nay làm người ta liên tưởng đến Venezuela. Nếu Trung Quốc không thể cứu Venezuela (lạm phát tới 700%), liệu họ có thể cứu Việt Nam? Theo Financial Times (4/2016) nợ công Trung quốc năm 2016 tăng vọt lên 237% GDP (khoảng 28 ngàn tỷ USD). Trong khi đó dự trữ ngoại hối (tính đến đẩu 2017) đã giảm xuống còn khoảng 3000 tỷ USD, nhưng chỉ một nửa số đó là khả dụng (theo Gordon Chang).
“Tập trung dân chủ” hay “tam quyền phân lập”
Làm sao để “kiểm soát quyền lực”, nếu không áp dụng “Tam quyền phân lập”? Cái gì đã tạo ra bộ máy hành chính quan liêu khổng lồ, chồng chéo và bất cập? Làm thế nào để “nhất thể hóa” nếu Đảng vẫn độc quyền lãnh đạo, không dựa trên “pháp quyền” (rule of law)? Trên thế giới không có chính phủ nào có nhiều bộ trưởng và thứ trưởng như Viêt Nam (22 bộ trưởng và 130 thứ trưởng). Chính phủ Mỹ và Nhật cũng chỉ có 15-16 bộ trưởng và 16 thứ trưởng. Làm thế nào để giảm chi tiêu ngân sách, nếu Việt Nam vẫn duy trì hai bộ máy hành chính khổng lồ, với những “tổ chức quần chúng” phi sản xuất và ăn bám?
Mô hình nhà nước do một Đảng độc quyền lãnh đạo toàn diện, theo thể chế “tập trung dân chủ” đã lỗi thời và bất cập trước yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường và tiến bộ xã hội. Nếu muốn “kiến tạo” và chấn hưng đất nước, để đối phó với những nguy cơ và thách thức mới, Viêt Nam phải “cải cách vòng hai” bằng cách đổi mới thể chế toàn diện, bao gồm cải cách thể chế chính trị và hiến pháp, theo hướng “tam quyền phân lập”.
“Theo Tàu hay theo Mỹ” là tâm thức đầy ngộ nhận
Trước đây Việt Nam đã phải đối phó với nan đề “theo Liên Xô hay theo Trung Quốc”. Có lúc Viêt Nam đã “theo cả hai” bằng cách cân bằng để tranh thủ nguồn lực chống Mỹ (trước 1975). Có lúc Việt Nam đã theo Liên Xô để chống Trung Quốc (giai đoạn 1979-1989). Thậm chí Việt Nam đã từng ghi vào Hiến pháp rằng Trung Quốc là “kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất” (mà Nayan Chanda chơi chữ gọi là “Brother Enemy”).
Nhưng rồi sau đó Việt Nam lại “xoay trục” theo Trung Quốc tại Thành Đô (9/1990) với phương châm “16 chữ vàng”. Đó là quyết sách cực đoan do ngộ nhận về bạn thù và ý thức hệ, mà quên mất “chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn”. Khi Washington bắt tay với Bắc Kinh (từ 1972) họ đã bỏ rơi Đài Loan và Nam Việt Nam, mặc cho Trung Quốc chiếm Hoàng Sa (1974). Khi Moscow hòa hoãn với Bắc Kinh, họ cũng mặc cho Trung Quốc đánh chiếm Gac Ma và 4 đảo Trường Sa (1988), tuy họ là “đồng minh chiến lược” với ta. Đó là những bài học đau đớn để chúng ta đừng ngộ nhận và ngây thơ về quan hệ các nước lớn.
Muốn độc lập dân tộc và bảo vệ chủ quyền quốc gia, phải dựa vào sức mạnh nội lực là chính. Muốn vậy phải hòa giải dân tộc và cải cách thể chế để “khai dân trí”, giải phóng năng lượng yêu nước và tinh thần dân tộc, “chấn dân khí” để phục hưng đất nước. Chính sách “cân bằng thụ động” (“đu dây” bằng nguyên tắc “ba không”) tuy cần thiết như một sách lược (nhất thời) để đối phó tình huống, nhưng “cân bằng tích cực” mới là chiến lược (lâu dài).
Người Việt phải học hỏi người Đức về hòa giải dân tộc và thống nhất đất nước. Phải cải cách thể chế và dân chủ hóa mới chấn hưng được đất nước, để đối phó với những biến động chính trị bất thường và bất định (như Brexitism và Trumpism). Muốn “cân bằng tích cực” với Mỹ và Trung Quốc, Việt Nam phải tăng cường hợp tác chiến lược với các cường quốc khu vực (như Nhật, Ấn Độ, Úc) trong một khuôn khổ đối tác chiến lược mới.
“Còn Đảng còn mình” hay chuẩn bị tháo chạy Theo IOM (International Organization for Migration) sau 25 năm tính từ 1990 đến 2015, đã có 2.558.678 người Việt di cư ra nước ngoài, tính trung bình mỗi năm có khoảng 100.000 người Việt di cư. Việt Nam nằm trong “Top 10” các quốc gia có số du học sinh nhiều nhất thế giới.
Trong tổng số trên 4,5 triệu người Việt đã di cư (tính đến 2015), số người định cư bằng đầu tư đang tăng lên đáng kể. Chỉ riêng loại visa EB-5 (dành riêng cho các đối tượng đầu tư vào Mỹ) đã tăng chóng mặt so với các loại visa khác (như EB-1, EB-2). Số lượng visa EB-5 từ 6.418 suất (năm 2014) đã tăng vọt lên 17.662 suất (năm 2015).
Đến nay, Viêt Nam có 21,000 du học sinh ở Mỹ, trong đó đa số là con em các gia đình quan chức cao cấp và trung cấp. Hồ sơ Panama tiết lộ Việt Nam có tới 189 cá nhân và tổ chức, với 19 công ty vỏ bọc được thành lập ở nước ngoài, chủ yếu là tại các “thiên đường trốn thuế” (như Cayman và Virgin Islands). Sau khi ông Trump thay đổi chính sách nhập cư vào Mỹ, nhiều người Việt chuyển hướng di cư sang Canada và Australia. Người Việt Nam (cũng như người Mỹ) đang đối mặt với quá nhiều biến số và ẩn số.
Tại hội thảo “Kịch bản Kinh tế Viet Nam 2017” (tp HCM, 9/3/2017) tiến sỹ Trần Đình Thiên (Viện trưởng Viện Kinh tế) đã cảnh báo về tình trạng “tẩu tán tư bản”, với số triệu phú người Việt di cư ra nước ngoài ngày càng tăng. Ngoài dòng tiền đầu tư chính đáng ra nước ngoài, còn có dòng tiền chạy ra ngoài bất hợp pháp theo dòng người di cư, trong đó nhiều triệu phú là quan chức đã có sẵn kế hoạch bỏ chạy (một khi bị truy cứu trách nhiệm). Đến nay, tổng cộng đã có 92 tỷ USD được chuyển phi pháp ra khỏi Viêt Nam.


Lượng tiền bất hợp pháp chảy khỏi Việt Nam từ năm 2004 đến 2013. (Nguồn GFI).
“Hoàng hôn nhiệm kỳ” hay tranh thủ vơ vét
Các nhóm lợi ích tranh nhau vơ vét, chia chác mọi thứ, làm cạn kiệt tài nguyên quốc gia. Họ “ăn không từ một cái gì” (theo lời phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan). Hết nạc họ vạc đến xương. Sau khi đã bán rẻ Vũng Áng cho Formosa, họ định bán nốt Cà Ná. Sau khi đã ăn hết dầu khí, than, thủy điện, bauxite, vonphram, ruộng đất…làm rừng vàng biển bạc cạn kiệt, họ tìm cách ăn nốt cát nhiễm mặn. Phải chăng dự án thép Cà Ná và chủ trương khai thác cát để xuất khẩu là “làn ranh đỏ” (red line) của thực trạng “hoàng hôn nhiệm kỳ”?
Năm 2010, chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký văn bản cấm xuất khẩu cát nhiễm mặn. Nhưng đến 2013, Bộ Xây dựng lại cho phép xuất khẩu cát nhiễm mặn qua hình thức “xã hội hóa” với lý do “nhằm tiết kiệm chi phí nạo vét thông luồng”. Đây là nhiệm vụ của Bộ Giao thông Vận tải dùng ngân sách để làm, tại sao phải “xã hội hóa” để các doanh nghiệp khác thác cát tràn lan, tiếp tay cho các nhóm lợi ích bán rẻ nốt tài nguyên quốc gia?
Theo phóng sự điều tra nhiều kỳ của báo Tuổi trẻ (1-3/3/2017), hầu hết các tàu chở cát từ Phú Quốc đều đến Singapore (đảo Tekong và Changi). Từ năm 2013 đến cuối năm 2016, Việt Nam đã xuất 43 triệu m3 cát. Theo các hợp đồng xuất khẩu, giá bán cát chỉ từ 0,8 đến 1,3 USD/khối, trong khi giá bán trên thực tế là hơn 4 USD/khối. Vậy chênh lệch giá đi đâu? Việt Nam không chỉ mất tài nguyên cát, thất thu ngân sách (vì giá bán cát trên giấy tờ là quá thấp), mà còn gây sụt lở ngiêm trọng, và nguy hại cho an ninh quốc gia.
Theo số liệu thống kê, từ năm 2016 Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Quốc phòng và các địa phương (là “chủ đầu tư”) đã phê duyệt 40 dự án nạo vét, tận thu một khối lượng cát khoảng 250 triệu m3. Dẫn đầu hoạt động “xã hội hóa” này là Bộ Quốc Phòng và chính quyền 11 tỉnh ven biển: Kiên Giang, Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Ðịnh, Quảng Nam, Thừa Thiên-Huế, Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh. Cuộc chiến giành quyền nạo vét cát không chỉ dọc các tỉnh ven biển, mà còn trên các dòng sông. Tranh chấp tại Sông Cầu giữa Bắc Ninh và Bộ GTVT là “phần nổi của tảng băng chìm”.
Ngoài Singapore, Trung Quốc cũng tích cực thu mua cát giá cao nhằm bồi đắp các đảo, đá mà họ chiếm của Việt Nam. Các hoạt động nạo vét, bồi đắp các đảo nhân tạo, nhằm mở rộng diện tích các đảo, đá mà họ chiếm đóng trái phép (như Châu Viên, Chữ Thập, Gạc Ma, Ga Ven và Ken Nan) đã diễn ra với quy mô lớn. Từ năm 2014, diện tích các đảo, đá mà họ chiếm tại Biển Đông đã tăng lên 400 lần (tương đương 800ha). Vậy họ lấy cát ở đâu? Không loại trừ doanh nghiệp của ta đã lặng lẽ bán cát cho họ. Nếu đúng là có chuyện này, thì đó có phải là hành động phản quốc? Không thể vừa bảo vệ chủ quyền quốc gia, vừa dung túng cho những kẻ làm tay sai cho ngoại bang (như Formosa & MCC, Huawei & OPPO).
Như trước khi con tàu đắm Theo Wikileaks (6/1/2017), có khoảng 65% quan chức cấp cao đã có kế hoạch chạy khỏi Việt Nam (một khi có biến). Như đã thành thông lệ, khi có quan chức tham nhũng nào bị “sờ gáy”, là lại nghỉ phép trốn ra nước ngoài “chữa bệnh” (không biết bệnh gì). Kèm theo dòng người di cư là dòng vốn đi theo. Chỉ tính riêng năm 2015, đã có 19 tỷ USD chạy ra khỏi Việt Nam. Đó là hiện tượng tẩu tán vốn hay “bỏ phiếu bằng chân”, trước thực trạng của đất nước ngày càng bi đát như hình ảnh con tàu Vinashin đang chìm.
Bức tranh Viêt Nam là một bản sao bức tranh Trung Quốc. Theo phó chủ tịch nước TQ Lý Nguyên Triều (Đại Kỷ Nguyên, 30/12/2016), điều tra nội bộ trước đại hội Đảng 18 cho thấy trên 85% quan chức cấp cao đã cho vợ con định cư, mua nhà ở nước ngoài, chuẩn bị ra đi trước nguy cơ “vong Đảng”. Theo Reuters, dự trữ ngoại hối đã giảm 70 tỷ USD (trong tháng 11/2016) và 41 tỷ USD (trong tháng 12/2016), nay chỉ còn 3.010 tỷ USD.
Mỹ không còn là địa chỉ an toàn để rửa tiền tham nhũng. Liệu chính quyền Trump có triển khai “Luật Nhân Quyền Magnisky” (mà ông Obama đã ký) nhằm cấm nhập cảnh và đóng băng tài sản của những người vi phạm nhân quyền? Liệu chính phủ Việt Nam có tiến hành một chiến dịch “Săn Cáo” như chính quyền Tập Cận Bình đang làm?
Theo giáo sư Minxin Pei, chiến dịch chống tham nhũng của Tập Cận Bình cho thấy tình trạng tham nhũng đã ăn sâu vào mọi ngõ ngách của chế độ (nhất là từ thời Giang Trạch Dân). Tuy nhiên, hoạt động chống tham nhũng vẫn chưa chạm đến cái gốc rễ quan trọng nhất là “tham nhũng đất đai”. Có đến 90% quan chức có thể bị bắt bất cứ lúc nào, trong khi số “quan thanh liêm” chỉ chiếm có 0,000001% dân số. (VOA, 29/10/2016).
Chỉ cần quan sát dòng người và dòng vốn chạy đi đâu là biết tình trạng đất nước ra sao. Dòng người di cư ngày càng đông, gồm cả doanh nhân, trí thức, và quan chức, là dấu hiệu bất ổn về “chảy máu chất xám” (brain drain) và “tẩu tán vốn”, làm đất nước kiệt quệ. Đó là bi kịch của một quốc gia thiếu dân chủ, bị các nhóm lợi ích thao túng, trì hoãn đòi hỏi cấp bách phải đổi mới thể chế, để họ tranh thủ vơ vét nốt trước khi con tàu đắm.

NQD. 18/3/2017

Friday, April 14, 2017

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VENEZUELA ĐÃ SỤP ĐỔ - BAO GIỜ SẼ ĐẾN VIỆT NAM ?
Author: Philip NguyenSource: FB Cọng Hòa Thời Báo Posted on: 2017-04-15
Ngày 8/04/2017 hàng trăm ngàn người dân Thủ đô Caracas Venezuela ở Nam Mỹ xuống đường biểu tình đòi phế truất Tổng thống Madurol, họ hô vang khẩu hiệu "Phế truất độc tài Maduro!" và "Bầu cử tự do ngay lập tức"
Đứng trước sức mạnh của lòng dân trào dâng như nước lũ, cảnh sát không còn cách nào hơn là tìm đường bỏ chạy thoát thân, tuy nhiên có nhiều cảnh sát vẫn không tránh khỏi bị người biểu tình ném đá trọng thương.
Từ khi cựu Tổng thống Hugo Chaves lên cầm quyền đưa đất nước giàu tài nguyên dầu mỏ ở Nam Mỹ "tiến lên" theo con đường Xã hội chủ nghĩa, nhưng cũng đã đưa Venezuela về với vực thẳm, trở thành một nước nghèo đói bất ổn nhất Châu Mỹ La Tinh.Tình trạng tham nhũng tiêu cực, suy thoái đạo đức biến chất của một số quan chức càng làm cho Venezuela tồi tệ thêm.
Sau gần 20 năm sống dưới chế độ độc tài Xã hội chủ nghĩa, người dân Venezuela đã kiệt sức, không còn kiên nhẫn được nữa họ cùng nhau xuống đường đòi giải tán chính phủ bầu cử tự do thay đổi thể chế.
Quần chúng nhân dân xây dựng lên thể chế được thì họ cũng đạp đổ thể chế đó được, không có gì bằng sức mạnh của nhân dân mổi một khi quần chúng nhân dân nổi dậy thì bất cứ chế độ độc tài nào cũng sụp đổ.
Philip Nguyen (theo Reuters)
Venezuela: Protest against Maduro turns violent in Caracas



Thursday, April 6, 2017

THỜI ĐẠI QỦY ÁM



THƯ GỬI NHỮNG NGƯỜI BẠN TRẺ VN Ở HẢI NGOẠI
Author: BẰNG PHONG ĐẶNG VĂN ÂU Posted on:2017-04-06
Thành phố Westminster, ngày 5 Tháng 4 năm 2017.
Thưa quý bạn trẻ hải ngoại thân mến,
Trước đây tôi có viết một bức thư cho các bạn trẻ tranh đấu trong nước để bày tỏ sự ngưỡng mộ về lòng can đảm và tình yêu nước của họ. Tôi ví họ giống như những Thiên thần, những Bồ tát giáng trần. Bởi vì sống dưới chế độ cực kỳ man rợ của loài quỷ sứ, ngay cả những ông già mang danh “lão thành cách mạng” từng thề quyết tử để dân tộc quyết sinh mà còn phải sợ, để nay phải chịu phận hèn; trong khi các bạn trẻ ấy bị quỷ khủng bố bao năm lại dám đứng lên, thì họ quả là những bậc siêu nhân.
Khi còn trẻ, tôi đã tình nguyện vào Quân đội để làm người lính xông pha ngoài chiến trường hầu chống lại cuộc xâm lăng của bọn cộng sản từ Miền Bắc. Nhưng so với sự dũng cảm của các bạn trẻ ấy, tôi không thấm vào đâu. Bởi vì lúc bấy giờ tôi có khí giới trong tay và nếu chết thì được tuyên dương công trạng, được thăng một cấp và thân nhân được lãnh tiền tử tuất. Còn những bạn trẻ yêu nước bây giờ với đôi tay trần, rất ôn hòa, chỉ mới lên tiếng chống quân xâm lược Tàu thì không những riêng bản thân bị đánh đập, tù đày, hãm hại, mà thân nhân, gia đình của họ cũng bị trừng phạt dã man.
Mỗi khi nghe bài hát “Anh Là Ai?” của Việt Khang hay nhìn những người anh chị em tranh đấu bị quỷ sứ đánh đập mặt mày sưng húp, be bét máu, trong lòng tôi sục sôi cơn uất hận như thể chính mình bị chúng đánh đập. Cả Đất Nước đang bị bọn quỷ sứ mang danh lãnh đạo đấu đá nhau để giành quyền làm đầy tớ ngoại bang, chứ chẳng có thằng nào chịu dựa vào thế lực nhân dân để giành quyền độc lập. Trong khi ấy, những thành phần đã từng ra sức xây nên cỗ máy độc tài toàn trị này chỉ biết ngồi nhà viết thư ngỏ hoặc kiến nghị; chứ không chịu tập hợp nhau lại liều chết để làm tấm gương cho toàn dân vùng lên. Bọn cầm quyền đốn mạt như thế. Lớp người yêu nước bị chúng lừa mà nhúng tay vào tội ác thì không dám nhận mình có phần trách nhiệm, lại tìm cách biện minh để chạy tội. Vậy còn mong gì cứu nhân dân thoát cảnh lầm than để được sống xứng đáng với phẩm giá của mình?
Thưa các bạn trẻ hải ngoại thân mến,
Đất Nước Việt Nam rơi vào tình cảnh tồi tệ này chẳng phải không có nguyên nhân. Tôi, một cựu quân nhân Quân lực VNCH, không có một thành tích gì đáng kể để dám cầm bó đuốc trao lại cho các bạn, giống như các ông già hiện nay đang bày trò xây dựng thế hệ “hậu duệ”. Tôi cũng chẳng dám xưng mình tiền bối để nói chuyện với hậu sinh. Tôi chỉ xin phép nêu lên các sự kiện xảy ra trong thời đại của tôi và kèm theo sự nhận định của riêng mình để báo cáo, tường trình cùng quý bạn một số sự kiện với tư cách của một kẻ “lạc đường vào lịch sử”, rồi từ đó sự phán xét, đánh giá là quyền của quý bạn.
Là người yêu nước hết mình, tôi chỉ biết trên đầu mình là Tổ Quốc, sẵn sàng phục vụ mà không hề đòi hỏi sẽ được đền bù. Với tinh thần không phe phái, không điêu ngoa, tôi sẵn sàng chết vì lý tưởng bảo vệ SỰ THẬT để chống lại những bọn người hô hào “Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc” mà lại hà hiếp dân để bán nước. Tôi chống cộng sản đã đành, nhưng tôi không ngần ngại vạch trần tội ác của bọn lưu manh danh nghĩa Chống Cộng mà hành động không khác gì cộng sản. Với sự lương thiện của người có chút học vấn, tôi sẵn sàng trao đổi, đối thoại một cách thẳng thắn với bất cứ ai có tấm lòng với Đất Nước và sẵn sàng phục vụ cho bất cứ người chân chính nào đấu tranh vì lý tưởng dân chủ.
* * *
Sử sách ghi chép rằng có một trăm (100) giống dân Việt sống ven bờ sông Dương Tử bên Tàu, mà chỉ còn một giống Lạc Việt phải chạy xuống miền Núi Nùng Sông Nhị để tồn tại, vì chủ trương Hán hóa của dân Tàu. Kể ra điều đó để các bạn biết rằng nòi giống Lạc Việt của ta là những sinh vật hiếm quý (endangered species) có bản năng sinh tồn rất cao nên mới còn sót lại trong nhân loại. Họ từng nhiều phen bị quân Tàu tràn sang đánh chiếm, đô hộ nhưng cũng nhiều phen quật khởi để giành quyền tự chủ. Từ kinh nghiệm luôn luôn bị kẻ thù manh tâm tiêu diệt, tổ tiên ta dạy: “Đoàn kết thì sống; chia rẽ thì chết”. Hễ khi nào nội bộ dân tộc ta có tranh chấp thì bọn Tàu đều mang quân sang thôn tính. Chúng đã từng mượn danh nghĩa “Phù Trần Diệt Hồ”, “Phù Lê Diệt Trịnh” trong quá khứ. Nay Hồ Chí Minh – một thằng Tàu giả danh người Việt – cũng mượn danh nghĩa giải phóng dân tộc Việt thoát vòng nô lệ thực dân Pháp để làm nô lệ thực dân Tàu còn tàn tệ khủng khiếp hơn.
Tại sao tôi dám quả quyết Hồ Chí Minh là một thằng Tàu do Mao Trạch Đông lấy bí danh của Cụ Hồ Học Lãm tròng lên đầu Nguyễn Tất Thành (đã chết vì bệnh lao phổi từ năm 1932) để tiến hành cuộc diệt chủng nòi giống Lạc Hồng? Bởi vì giáo sư Hồ Tuấn Hùng (người Đài Loan) đã viết sách xác minh Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương (gốc người Hẹ) và tài liệu của Trung Cộng nói rõ Hồ Chí Minh là Trung tá Hồ Quang (người Tàu) từng phục vụ trong Đệ Bát Lộ Quân, mà bọn cầm quyền này im lặng; chứ không dùng giảo nghiệm DNA để chứng minh cái xác khô nằm trong lồng kính ở quảng trường Ba Đình là người Việt. Im lặng trước sự kiện người Tàu tố cáo rành rẽ như thế, tức là xác nhận.


Rồi một mai xác ưóp của Hồ Chí Minh sẽ được mang đi triển lãm cho thiên hạ xem để ghê tởm !!
(Nếu thông tin của Hồ Tuấn Hùng và của Trung Cộng không đúng, giả thử Hồ Chí Minh là Nguyễn Tất Thành – con ông Nguyễn Sinh Sắc – có máu huyết người Việt đi nữa, thì linh hồn Hồ Chí Minh đã bán cho con quỷ Tầu Cộng từ khuya rồi).
* * *
Tôi xin thuật cho quý bạn nghe mẩu chuyện sau đây: Vào tháng 5 năm 2015, tôi dự cuộc họp mặt với các anh chị cựu học sinh Quốc Học, Huế thuộc khóa 55 – 58. Trong lúc hàn huyên, có người nói đến những thảm trạng mà dân ta bị hứng chịu. Tôi nói: “Nước mình bị quỷ ám”. Ngay lúc đó, anh Võ văn Dật, cựu Giám sát viên của Giám Sát Viện VNCH trước năm 1975, phụ họa: “Tôi có thực hiện cuốn đặc san Hội Ngộ Cựu Sinh Viên Đại Học Sư Phạm Huế, trong đó giáo sư Lê Tuyên kể về lời tiên tri của một Giáo sĩ Công Giáo liên quan đến dân tộc Chàm. Khi trở về lại San José, tôi sẽ gửi cho anh đọc”.
Mấy ngày sau tôi nhận được cuốn sách dưới dạng PDF từ anh Dật. Mẩu chuyện có tựa đề “Thơ Gởi Cố Nhân” của Liên Chi (tức là Thầy Lê Tuyên – Giáo sư Đại Học Huế). Thầy kể rằng trước khi về Việt Nam, có mấy người bạn cùng thầy đi thăm ngôi giáo đường Santander, xứ Tây Ban Nha. Nhóm bạn đều là Công Giáo, riêng thầy Tuyên là Phật giáo. Khi họ đến nơi thì có một vị Giáo sĩ ra đón và thì thầm: “Nghe nói có người đi về Việt Nam… Làm chi có nước Việt nữa mà về. Phân nửa còn lại đó là của Chiêm Quốc. Các ông không tin … rồi có ngày sẽ lại ra đi. Tôi là môn sinh của tông đồ Thánh Matthew. Với phép tu thân của Ngài, tôi có thể nhìn thấy quá khứ, tương lai của quý vị. “Thượng Đế” hay quan niệm như quý vị … Định Mệnh đã an bài. Một dân tộc cũ sẽ trở lại để trả mối thù xưa từ Bắc chí Nam. Nạn nhân sẽ không biết bao nhiêu mà kể. Chỉ có cơ duyên mới cứu được một số người”.
Anh BXB giật mình hỏi vị Giáo sĩ: “Cha dạy chuyện gì vậy? Đây có ai về Việt Nam đâu? Tôi hiện là Cố vấn của Tòa Đại sứ, anh này là Đại diện Ngoại vụ của chính phủ nước tôi ở vùng Đông Nam Âu, anh này là Tham vụ Ngoại giao sắp đi Luân Đôn tu nghiệp. Có ai về Việt Nam đâu mà Cha dạy vậy? Huống chi lịch sử đã qua rồi. Miền còn lại hiện là lãnh thổ nước Việt Nam Cộng Hòa”.
Vị Giáo sĩ mỉm cười khiêm tốn: “Chúng tôi thuộc hệ giáo Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, cơ duyên không có ở Việt Nam ngày xưa, nhưng nay gặp quý vị ở đây là cũng theo lời Thánh dặn. Tôi còn nhớ một câu Kiều của nhà thi sĩ Việt Nam: ‘Nghiệp duyên cân lại, nhắc đi cũng nhiều’. Các vị nên cẩn trọng giữ mình nếu có ý định đi về … Tổ Quốc. Xin Chúa ban phước lành cho quý vị.”
Có lẽ thời điểm của vị Giáo sĩ nói với giáo sư Lê Tuyên vào khoảng năm 1955 hoặc 1956. Đọc mẩu chuyện của thầy Lê Tuyên, niềm tin trong tôi về sự kiện nước mình bị quỷ ám càng mạnh mẽ. Tổ tiên người Chàm đã thay mặt nòi giống của họ, chờ cho tới khi một nhóm người Việt Nam đi sang Nga, sang Tàu rước về một tôn giáo Quỷ (chủ nghĩa cộng sản) thì họ ra tay. Hồ Chí Minh chính là con Quỷ đó, không ai biết nó là người Việt hay người Tàu, nhưng nó có khả năng phù phép như Quỷ khiến cho tầng lớp trí thức cực kỳ thông minh bị mê hoặc mà trở nên ngu si một cách không thể giải thícch.
Tôi đã đọc những mẩu chuyện của các nhân vật tên tuổi như Tướng Trần Độ, giáo sư Trần Phương, bác sĩ Bùi Duy Tâm… về sự huyền bí của các nhà ngoại cảm. Tôi tin rằng họ không phịa để bịp quần chúng. Năm 2011, tham dự buổi lễ do các cháu tôi mang tro cốt của anh tôi mất ở Pháp về chôn cất tại nghĩa trang dòng họ Đặng tại Phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, tôi được chứng kiến một sự lạ. Đó là chuyện người cháu tôi thuê hai phụ nữ, một già một trẻ, từ Hà Nội về Nghệ An nấu cỗ chay để giỗ tổ tiên. Vào buổi chiều trước hôm giỗ, hai người đàn bà đang sửa soạn các món cỗ chay, thì đột nhiên người phụ nữ trẻ thốt lên: “Này anh Chương, các Cụ đã tề tựu đông đủ ở nhà thờ rồi kia kìa. Anh hãy ra chợ mua ít thứ gì cho các Cụ nhắm trước đi. Các Cụ không thể chờ đến ngày mai đâu”. Rồi người phụ nữ ấy đưa tay chỉ vào khoảng không và nói tên từng Cụ, mà cháu Chương là người phụ trách thực hiện gia phả dòng họ Đặng phải xác nhận người phụ nữ trẻ ấy gọi đúng từng tên của các Cụ từ mười đời. Tôi chỉ biết tên Bố Mẹ, tên ông bà Nội; chứ trên nữa là không biết. Người phụ nữ trẻ nấu cỗ chay không hề có chút liên hệ đến dòng họ Đặng, mà nói vanh vách tên các Cụ từ nhiều đời, thì ắt hẳn cô ấy không thể phịa. Niềm tin vào thế giới vô hình trong tôi càng ngày càng xác tín hơn.
Những sự kiện xảy ra trong lịch sử cận đại, tôi tin rằng không ai có thể nào giải thích được, mà chỉ có bị quỷ ám thì một nòi giống thông minh chẳng kém dân tộc nào ở Châu Á mới trở nên ngu độn, mê muội, phản phúc ngoài lý lẽ thông thường. Bài hát “Gia tài của Mẹ” do nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sáng tác có câu: “Gia tài của Mẹ để lại cho con một lũ lai căng; gia tài của Mẹ để lại cho con một lũ bội tình” mô tả rất chính xác vê hoàn cảnh nước Việt Nam mình ở thời đại này.
Cộng sản đề ra chủ trương: “Vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo”. Nếu chủ trương đó ai muốn tin thì tin; ai không tin thì có quyền bác bỏ. Chắc chắn tai họa cho nhân loại không đến nỗi thảm khốc. Nhưng không! Cộng sản dùng bạo lực để bắt buộc mọi người phải tin theo giáo điều của chúng một cách tuyệt đối; nếu ai cưỡng lại, chúng sẽ giết một cách không thương tiếc. Cái chủ nghĩa quái dị như thế chắc chắn phải đẻ ra quái thai. Tại sao những người thông minh tuyệt đỉnh của Việt Nam không nhìn ra cái hậu quả sẽ đem đến cho giống nòi để cảnh báo toàn dân mà lại đâm đầu vào thờ phượng nó? Bởi vì họ đã bị quỷ ám, nên lý trí không còn !
Chỉ bị quỷ ám thì mới có ông bác sĩ Nguyễn Khắc Viện có cha bị quỷ đấu tố cho đến chết mà vẫn dốc tâm đề cao nó!
Chỉ bị quỷ ám nên mới có ông nhạc sĩ Phạm Tuyên làm bài nhạc “Như có Bác Hồ trong niềm vui đại thắng” để ca ngợi, khi cha mình là nhà văn hóa Phạm Quỳnh bị cộng sản đập vỡ sọ.
Đó là hai bằng chứng tượng trưng thôi! Sự thực là có vô số bằng chứng để kể ra cái lũ lai căng (thờ chủ nghĩa ngoại lai) và cái lũ bội tình (phản lại chính cha dày công nuôi nấng mình).
Sau năm 1954, ở Miền Bắc con quỷ Hồ Chí Minh và tập đoàn biến toàn xã hội thành súc vật: Có đầu óc không được quyền suy nghĩ điều gì khác ngoài giáo điều; có miệng không được nói. Ngoan ngoãn thì được cho ăn vừa đủ no; cứng đầu thì bị bỏ đói. Ở Miền Nam, mới thoát khỏi thân phận nô lệ của Thực dân Pháp, được Hoa Kỳ giúp cho vũ khí, lương thực để có tự do làm người thì không biết quý trọng để bảo vệ, lại bội phản, ngấm ngầm làm tay sai cho quỷ, khiến cho cả nước bị quỷ thống trị.
Sở dĩ Hoa Kỳ đến giúp nước ta là vì địa thế chính trị đặc biệt của nước ta; chứ không phải vì lòng tốt thương dân Việt Nam. Họ coi nước ta giống quân cờ Domino, nếu con cờ Việt Nam đổ thì toàn vùng Nam Á và Úc Châu sẽ bị nhuộm đỏ. Nên hiểu rằng trong bang giao quốc tế, không có nước nào phải yêu thương nước khác, mà vì quyền lợi. Chỉ có bọn cộng sản Hồ Chí Minh ngu si đần độn mới đi kết nghĩa anh em với kẻ thù truyền kiếp của dân tộc mà thôi. Miền Nam bị cộng sản Miền Bắc xâm chiếm là tại vì sự chia rẽ của lãnh tụ đảng phái chính trị, tôn giáo và sự phản bội của tầng lớp trí thức, được hưởng không khí tự do lại đi làm tay sai (nằm vùng) cho bọn kẻ thù man rợ khát máu say sưa với câu thơ của bồi bút Tố Hữu: “Giết! Giết! Giết nữa bàn tay không phút nghỉ!”.
Trí thức là thành phần ở đỉnh cao nhất trong thứ bậc xã hội Việt Nam (Sĩ, Nông, Công, Thương), lẽ ra họ phải đem kiến thức để dạy dân, để cảnh báo cho dân thấy hiểm họa trước mắt. Thế mà, một phần ngấm ngầm làm tay sai cho cộng sản, một phần lợi dụng nền dân chủ phôi thai vừa mới độc lập để chống đối chính quyền và phần còn lại thì ích kỷ, thờ ơ, thủ lợi riêng và hèn.
Tổng thống Ngô Đình Diệm áp dụng lời dạy của nhà cách mạng Phan Chu Trinh: “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, khác với chính sách ngu dân của Hồ Chí Minh ở Miền Bắc thì trường học biến thành nơi bị cộng sản lợi dụng để biến thành những hang ổ gieo rắc nội loạn. Nên nhớ mỗi trường chỉ có chừng năm, bảy tên học sinh, sinh viên cộng sản là đủ sức quậy nát. Bởi vì hoc sinh, sinh viên không cộng sản chỉ lo chăm chỉ học hành; chứ không biết tập hợp nhau để diệt cộng sản!
Khi đám Việt Cộng nằm vùng đội lốt nhà tu viện cớ tôn giáo bị đàn áp, chở Ngài Quảng Đức ra góc đường Lê văn Duyệt – Phan Đình Phùng để đốt, chính là dấu hiệu khởi đầu nền Cộng Hòa của Miền Nam bị sụp đổ.
Thưa quý bạn trẻ hải ngoại thân mến,
Miền Nam sụp đổ không phải vì binh lính Miền Bắc hùng dũng. Miền Nam bị sụp đổ cũng không phải vì Hoa Kỳ phản bội chúng ta. Nhưng Miền Nam sụp đổ chính vì sau khi Tổng thống Ngô Đình Diệm bị giết thì Miền Nam bị rơi vào tình trạng khủng hoảng lãnh đạo chính trị. Những tướng lĩnh như Dương văn Minh, Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, Lâm văn Phát, Nguyễn Chánh Thi v… v… cậy có quân lính, vũ khí trong tay thì liên tục đảo chánh, chỉnh lý lẫn nhau khiến cho người Mỹ nản lòng, đành phải tìm cách rút chân ra khỏi vũng lầy Việt Nam.
Bọn cộng sản Miền Bắc tưởng bở, nghĩ rằng chúng có thể đánh bại một “đế quốc sừng sõ”, nên vội tự phong “đỉnh cao trí tuệ loại người”. Không! Cộng sản Miền Bắc không thể chiến thắng Hoa Kỳ! Chính Miền Nam bị quỷ ám, không ý thức cái giá trị cao quý của hai chữ TỰ DO để gắn bó với nhau, cùng sống chết với nhau để gìn giữ mảnh đất thân yêu, cho đến khi Con Quỷ Cộng Sản nuốt trọn thì mới bồng bế nhau chạy như vịt, thật đáng xấu hổ!
Không phải vì căm thù cộng sản mà tôi ví bọn chúng là Quỷ. Nếu ví cộng sản là cầm thú, thì chẳng khác nào chúng ta hạ nhục cầm thú. Bởi vì cầm thú có ác chăng, thì đó là luật của rừng xanh mà tạo hóa làm nên chúng. Còn Cộng Sản Việt Nam đã biến đất nước đã có nền văn hiến, có luật lệ xã hội loài người thành luật rừng xanh! Từ ngày Hồ Chí Minh lập ra Đảng Cộng Sản Việt Nam cho đến nay, tất cả những đường lối cai trị của chúng là nhằm dâng nước ta cho Tàu. Chính Lê Duẩn – Tổng Bí thư của chúng – từng nói rõ chúng đánh Pháp, đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Cộng thì thử hỏi chúng có công trạng gì với xứ sở, với nòi giống? Chẳng qua chúng bị mất những sợi thần kinh biết xấu hổ, nên chúng huênh hoang một cách ngu xuẩn vậy thôi!
Thư viết cho các bạn đã khá dài, tôi xin dừng nơi đây. Tuần sau, tôi sẽ viết nốt cho các bạn để các bạn hiểu thêm về người Việt Nam mình bị quỷ ám như thế nào. Tôi là người lạc quan, vì không lạc quan thì đành buông bỏ tất cả hay sao? Lạc quan tin rằng các bạn là những người mang dòng máu Việt thì các bạn sẽ không thể nào chấp nhận nòi giống ta trên đà diệt chủng mà không quan tâm? Trong đạo đức xã hội, sự vô cảm trước sự tàn ác, sự bất công đều bị coi là hạng người không còn nhân tính!
Tôi chân thành chúc các bạn dồi dào sức khỏe để bền ý chí phấn đấu cho sự tồn tại của nòi giống Việt Nam vẫn còn trong nhân loại.
Thân ái,
Bằng Phong Đặng văn Âu

Monday, April 3, 2017

Con đường xưa vẫn phải đi…

Con đường xưa vẫn phải đi…
Author: - Đặng Chí Hùng Source: Nhìn Ra Bốn Phương Posted on:2017-04-03
Tôi vốn mê nhạc vàng và “Con đường xưa em đi” cũng nằm trong số đó. Nhạc Vàng đã đưa tôi vào một cuộc đời thật khác đa phần người ta ở Miền Bắc sinh sau năm 1975. Nhạc vàng đã góp công lớn để “giải phóng” tôi khỏi những tháng ngày vô định. Và trong đó có “Con đường xưa em đi”.
Tôi đã từng nghe qua Tuấn Vũ, Thanh Tuyền, Như Quỳnh, Phượng Mai vv..ca bản này, mỗi người có một sự “đặc biệt” riêng. Hay chứ, chất chứ ! Đó là cảm giác của tôi. Và cảm giác đó cũng mang theo vào cả những mối tình học trò. Nhớ khi đó, học lớp 9 là đã biết yêu và ca nghêu ngao với nàng những “Hoa sứ nhà nàng”, “Con đường xưa em đi”, “Hoa mười giờ”, “Chuyện người thiếu nữ tên Thi”, “Chuyện hoa sim” vv… Cái thuở đó, chẳng biết cái “Con đường xưa” là con đường gì, chỉ biết đó là con đường mà nàng đi. Để rồi đến lúc vào đại học thì được nghe tin con đường đó đã đi lấy chồng. Buồn !
“Năm năm đại học có là bao
Anh về làng xóm nở hoa chào
Người yêu bồng con ra đón bác,
Đau lòng bác lắm mẹ cháu ơi…!”
Thế rồi cuộc đời nổi trôi đưa đẩy tôi vào giữa giòng đời đầy cám dỗ, danh vọng, bon chen, khổ đau nơi xứ “Thiên đường” cộng sản. Chợt có một ngày nghe lại “Con đường xưa em đi” mới biết rằng “Anh đã quên một dòng sông”…
Và cuộc đời cứ thế trôi đi, lúc rảnh café, lúc ngồi trong tù, lúc ngồi chờ vượt biên qua Thái, lúc rảnh rỗi lái xe tại Canada. Tôi lại hát nhạc vàng và trong đó có “Con đường xưa em đi”.
Đôi lúc tôi nghĩ, hát chỉ là để hát và con đường ấy đã đi mất rồi. Giờ là lúc cần tìm một con đường khác. Nhưng người ta lại phải khiến cho tôi viết một chút về con đường xưa mà em đã đi…
Nhạc sỹ Châu Kỳ viết nhạc bài “Con đường xưa em đi” vào năm 1968 với lời nhạc của Hồ Đình Phương. Với gốc gác là gia đình làm nghệ thuật ở Huế, nhạc sỹ Châu Kỳ đã viết cho mình rất nhiều ca khúc nổi tiếng như:“Áo Trắng màu vu quy”, “Được tin em lấy chồng” ,“Đón xuân này nhớ xuân xưa”. vv… mang âm hưởng Bolero sâu đậm. Nhưng ấn tượng nhất với người nghe vẫn ấn tượng nhất với “Con đường xưa em đi”.
Ấy thế nhưng cộng sản Việt Nam đã cấm bài hát đó không được lưu hành. Câu hỏi là Vì sao ? Vì sao lại có chuyện bi hài đó? Và sau đây là câu phỏng đoán của tôi…
Mở đầu bài hát, tác giả mô ta sự lãng mạn của một người lính VNCH:
“Con đường xưa em đi,
Vàng lên mái tóc thề,
Ngõ hồn dâng tái tê
Anh làm thơ vu quy
, Khách qua đường lắng nghe,
Chuyện tình ta đã ghi”
Anh lính vì yêu cô gái nên đứng bên đường làm thơ tán tỉnh nàng. Người qua đường thấy bài thơ lãng mạn và phải đứng lại lắng nghe anh lính trải lòng. Không gian được bài hát mở ra trong không khí yên bình của đôi lứa nơi hậu phương trước năm 1975. Và bên cạnh đó, tác giả muốn nói đến sự cảm thông của người dân với hoàn cảnh của người lính chiến khi không hề chê bai cách tỏ tỉnh hết sức đặc biệt của anh lính.
Bài hát tiếp theo với khung cảnh của những năm tháng chiến tranh trước năm 1975. Người lính lên tiền đồn, ra mặt trận để canh giữ bình yên cho Miền Nam. Người thiếu nữ trong bài hát ở lại hậu phương ngóng chờ:
“Những mùa trăng vu quy,
Vì mưa gió không về
Chiến trường anh bước đi
Có nàng hoen đôi mi,
ngóng theo đường vắng hoe…
Hỏi còn ai cố tri”
Nàng khóc vì chờ người lính chiến, nàng khóc vì nhớ chàng, nàng khóc vì số phận của đất nước. Nàng ngóng theo con đường mà chàng đã ra đi và mong chờ chàng trở lại. Người con gái ấy cũng chờ người mà nàng cho là cố tri ấy trở lại trong khi anh lính VNCH vẫn “Chiến trường anh bước đi”. Đây là một hình ảnh đẹp tiêu biểu cho thời chiến chinh điêu linh trước 1975 mà người dân VNCH phải chấp nhận để giữ bình yên trước sự khủng bố, phá hoại của CSVN. Hình tượng “Mưa gió không về” là tiêu biểu cho nghệ thuật nhân hóa mà Châu Kỳ, Hồ Đình Phương muốn ví người lính VNCH như những cơn mưa gió mang theo thương yêu với người con gái hậu phương ra tiền tuyến.
Tiếp theo đó, tác giả lại nói đến nỗi nhớ từ phía người lính với hậu phương:
“Em ơi! nhìn gió lên khơi,
Lòng có trông vời một người xa cuối trời?
Nơi đây phiên gác canh dài,
e ấp đôi lời mình còn nhớ thương hoài
Em ơi! màu áo phong sương,
mình ước huy hoàng được bàn tay chính nàng
Dâng hoa, dâng hết ân tình
Tình đến bao giờ”.
Người lính ấy trong mỗi canh gác đều nhìn theo mây bay, gió cuốn cuối trời trong chiếc áo đầy phong sương, khói súng vẫn nhớ về hậu phương nơi có nàng, nơi có con đường mà nàng vẫn đi như thuở xưa bên nhau. Nhạc sỹ Châu Kỳ, Hồ Đình Phương mô tả người lính ấy mong mỏi có một ngày về chiến thắng huy hoàng trước quân cộng sản để được đến bên nàng và được nàng trao những đóa hoa ân tình. Đến lúc đó thì sẽ có “tình đến bao giờ”.
Trong khổ cuối của bài hát, tác giả lại quay lại kỷ niệm xưa của đôi lứa:
“Hỏi đường xưa mà nhớ con đường xưa em đi
Thời gian có quên gì
Đá mòn kia vẫn ghi,
ghi một đêm trăng thanh
Quán bên đường vắng tênh
Chỉ còn em với anh.”
Mối tình của đôi trai tài, gái sắc sẽ vượt qua chông gai, đạn thù để có nhau. Họ sẽ đi lại con đường xưa mà họ đã đi trong một đêm trăng đẹp. Họ chỉ cần bên nhau là đủ, họ sẽ ôm xiết vòng tay bên trong ngôi quán nhỏ ven đường.
Hai tác giả Châu Kỳ, Hồ Đình Phương đã mô tả khái quát cảnh thanh bình nơi hậu phương miền Nam trước 1975, khung cảnh miền Nam vướng vào chiến tranh liên miên thông qua cảnh chia ly, chinh chiến của người lính VNCH mà kẻ thủ ác là CSVN. Đôi lứa đang yên bình phải chia cách cũng là lỗi của giặc cộng. Vì thế mà đảng CSVN không thể không cấm bài hát đã tố cáo tội ác phá hoại cuộc sống yên bình của miền nam trước 1975.
Chưa hết, bài hát “Con đường xưa em đi” được viết vào năm 1968, đó là thời điểm sau tết Mậu Thân 1968. Tác giả đã viết để cổ vũ tinh thần chiến đấu của người lính VNCH trong tết Mậu Thân. Điều đó một lần nữa gợi lên tội ác giết người hơn 5000 người dân Huế vộ tội của đảng CSVN. Vì thế mà đảng phải cấm.
Cuối cùng, con đường mà những người lính VNCH đã đi qua mà bài hát ám chỉ không chỉ có là con đường dệt mộng mà là cả những con đường xây bằng máu và nước mắt của họ như: An Lộc với con đường 13 máu lửa, Đường 9 Nam Lào, Đại Lộ Kinh Hoàng 1972, hay đường 7B đầy tủi hận, đường ra biển đông đầy sóng dữ…Tất cả là sự oai hùng lẫn đau thương của quân lực VNCH. Vì thế mà CSVN không hề muốn ai biết tới.
CSVN sợ người dân nhớ thương về VNCH, về nhạc vàng và những con đường hùng tráng, bi thương của quân dân VNCH. Đảng sợ điều đó vì điều đó là kẻ thù của đảng độc tài hiện này. Vì thế, đảng phải cấm.
Nhưng…Những con đường xưa em đi dù có thơ mộng, hùng tráng hay bi thương thì vẫn là con đường phải đi tiếp cho ngày hôm nay. Đảng càng cấm, con đường xưa vẫn tiếp tục đi vì con đường đó là con đường mang linh hồn của cả một dân tộc với đầy rẫy bi tráng, kiêu hùng và cả đau thương trong mình.
Dân tộc Việt Nam sẽ phải đi tiếp những con đường xưa vẫn đi…

Đặng Chí Hùng
30/03/2017


Như Quỳnh & Trường Vũ - LK Con Đường Xưa Em Đi & Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê / PBN 77


 

Friday, March 31, 2017

TỐNG PHONG BÌ VÀO MIỆNG CHÚNG.

TỐNG PHONG BÌ VÀO MIỆNG
Author: Phan Ngọc QuếSource: Việt Nam Dân Đen Posted on:2017-03-31


Ủy viên Quốc vụ viện Trung Cộng Dương Khiết Trì
Dương Khiết Trì (Yang Jiechi), cựu bộ trưởng Ngoại Giao Trung Cộng (2007-2013) đã viết một bài, tựa đề: “ Không cần phải đánh Việt Nam chúng nó!
Nguyên văn dưới đây:
"Súng đạn nào mãnh liệt bằng phong bì tống vào miệng chúng để sau đó Đại Hán ta ngồi ngay trên nóc nhà Tây Nguyên, đào mồ xới mả đất Mẹ của chúng, thải chất độc vào môi trường của chúng và Bộ chính trị của chúng vẫn khăng khăng đấy là chiến lược đã quyết, là chính sách công nghiệp hóa hiện đại đất nước không thể ngừng."
Thật là nhục nhã !
Tứ Trụ Triều Đình Quang-Trọng-Phúc-Ngân hãy vễnh tai trâu mà nghe cho rõ tên Hán Tặc Dương Khiết Trì nó chửi. Nó hỗn láo xấc xược chửi đến TAM TỨ ĐẠI ĐỒNG ĐƯỜNG đám Tứ Trụ các người, nó thừa nhận đã "TỐNG PHONG BÌ VÀO MIỆNG" các người để các người giao nộp Hoàng-Trường Sa biển đảo, biên giới, Ải Nam Quan, nóc nhà Tây nguyên cho nó.....để nó "ĐÀO MỒ XỚI MÀ" tổ tiên dân Việt lên.
Xấc xược hỗn láo đến thế là cùng !
Thế mà tên Nguyễn Phú Trọng bộ mặt trơ trẽn ôm siết nó vào người như người tình muôn thuở. Tên Bộ Trưởng NG Phạm bình Minh siết tay nó thặt chặt miệng cười duyên như tri kỷ tri âm. Bọn Lãnh đạo CSVN lương tri các người để đâu, điếc hết rồi cả sao?
Một bọn khôn nhà dại chợ, hèn với giặc Tàu kẻ muốn tiêu diệt dân mình chiếm đoạt đất nước mà tổ tiên bao đời đã gầy dựng, nhưng lại ác với dân.
Người dân chỉ biểu tình ôn hòa, có bạo động đập phá gây thiệt hại tài sản gì mà CSVN cho bọn côn an côn đồ đánh đập đổ máu ? Người dân 4 tỉnh miền Trung chỉ đòi hỏi bọn cầm quyền điều tra công bố nguyên nhân biển bị nhiễm độc gây cá chết và công bố thủ phạm. Một đòi hỏi hợp lý và phù hợp với luật pháp như vậy lại bị đàn áp đánh đập không nương tay. Trong khi những kẻ cầm quyền có trách nhiệm, từ cấp Tỉnh cho đến trung ương phủ bộ, lại câm miệng hến như không có gì xảy ra suốt bao tháng trời.
Ngư dân đói khổ, màn trời chiếu đất, vô kế sinh nhai vì ngư trường 4 tỉnh bị hũy hoại vì “GIẶC LẠ”, quan chức cầm quyền không ai ân cần an ủi thăm nom vỗ về chia sẻ nhường cơm xẻ áo với dân. Đâu rồi cái thời kêu gọi hô hào “TAM CÙNG : CÙNG LÀM - CÙNG ĂN - CÙNG Ở" với dân hay chỉ là khẩu hiệu để phĩnh phờ lừa gạt?
Đã không chia sẻ thì chớ những mất mát mà người dân 4 tỉnh duyên hải phải gánh chịu, bà Chủ Tịch Quốc Hội ngược lại lên giọng công an cay cú hách dịch trong cuộc họp báo ngày 23-7-2016 :
“Chưa làm gì cả, chỉ có nói, kích động CÁC PHẦN TỬ XẤU ĐỂ LÀM RỐI TÌNH HÌNH.”
Là đại diện dân, bà Ngân không đứng về phía nhân dân đấu tranh cho quyền lợi người dân mà lại chụp mũ cho họ là “các phần tử xấu làm rối tình hình.” Vậy bà Ngân là Chủ Tịch Quốc Hội hay là Bộ Trưởng Công An ? Vậy chớ khẩu hiệu :”DÂN BIẾT, DÂN BÀN, DÂN NÓI” từ cửa miệng các quan chức nhà nước Xã Nghĩa để xử dụng trong trường hợp nào ? Quan chức nhà nước các người, từ trung ương xuống tới địa phương, nếu đã lỡ bị tên “Giặc Lạ” “TỐNG PHONG BÌ VÀO MIỆNG” trở thành CÂM ậm ừ chứ thằng dân ăn cái giải gì mà phải ngậm miệng chịu đói khổ ?
Cả cái bộ máy cầm quyền tham ô nhũng lại, hà hiếp dân tình đến thế, hèn nhục đến thế thì trách chi tên Tàu Lạ Dương Khiết Trì không khinh rẽ ra mặt, sĩ nhục công khai.
“Chúng ta không cần đánh bởi chúng đã đánh dân của chúng thế chúng ta.
Chúng ta cũng không cần phải cướp vì chúng đã tự cướp nước của chúng để dâng để bán và sẽ tiếp tục dâng, tiếp tục bán cho chúng ta.”
Thật là cạn tàu ráo máng ! Những người Cộng Sản Việt Nam tự coi mình là “Đỉnh Cao Trí Tuệ” nghe những lời sĩ nhục của tên giặc Tàu chỉ có hộc máu mà chết như Châu Du chứ sống làm sao nỗi trước miệng đời nguyên rũa.
Riêng với bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ Tịch cái Quốc Hội bù nhìn, tưởng cũng nên có đôi lời phải trái mong bà sáng mắt.
Ở các nước Dân chủ phương Tây, các đại diện dân không chỉ ngồi trong tòa nhà Lập Pháp mà xuống tận dân tình để lắng nghe tiếng nói của quần chúng cử tri (các cuộc tiếp dân gọi là Town Hall). Trước vụ cá chết trắng biển 4 tỉnh miền Trung, nhẽ ra bà nên thân hành xuống tận nơi để thấy cảnh màn trời chiếu đất của ngư dân, ghe thuyền nằm ụ bến bãi, hàng quán dịch vụ sống nhờ vào ngư trường vắng hoe buồn thảm như chỗ không người…… Trước khi có những phát biểu kẻ cả cửa quyền, bà nên xuống tận nơi để “LẮNG NGHE” tiếng kêu vang thống khổ thế nào của những con người khốn nạn hiện đang sống trong cái “Thiên Đường Xã Nghĩa” xuống hàng chó ngựa mà bà là một trong giới lãnh đạo.
Bà Ngân là người đại diện dân không đứng về phía nhân dân, không đau cái đau của dân, không chia sẻ những oan tình của những con người khốn khổ, thế bà ngồi ở cái ghế Chủ tịch để làm gì? Ai và Thế Lực nào đã đưa bà ngồi vào cái ghế thay mặt nhân dân ?
Bà Ngân có nét dáng của người phụ nữ đẹp, hãy tự soi lại gương mặt mình để thấy xấu hổ nhục nhã khi nghe thằng Tàu Dương Khiết Trì nó chà đạp đám lãnh đạo CSVN các người xuống chân bằng những lời sĩ nhục dưới đây:
Cần gì phải đánh khi chúng thay thế ta ngăn chặn, trấn áp, bắt giam, bỏ tù dân của chúng đứng lên phản đối Đại Hán. Đánh chúng sẽ khơi dậy lòng yêu nước của dân tộc chúng vốn. Đảng của chúng đã tích cực giúp chúng ta tiêu diệt lòng yêu nước của dân tộc chúng trong suốt bao năm qua, đã biến đa phần dân của chúng thành những đàn cừu chỉ muốn sống trong hòa bình của một cuộc đời nô lệ. Chúng đang làm tốt!
Ô hô! Bộ mặt bán nước cầu vinh của Cộng Sản Việt Nam đã bị chính “NGƯỜI THẦY TÍN CẨN” của chúng phơi bầy trước bàng quan thiên hạ, chứ không phải của “THẾ LỰC THÙ ĐỊCH” nào cả.
Hỡi bọn Lãnh Đạo CSVN !
Hãy cúi đầu mà nghe gió bão búa rìu của hồn thiêng sông núi.
ĐỨA CON HOANG ĐÀNG

Thà nó đánh ta, ta không đau
Thà nó chửi ta, ta không tức
Thà nó cướp của ta, ta xem như đã mất
Thà nó giết ta, chết một đời là hết
Nhưng nó bảo ta "Đứa con hoang đàng"
"Nay trở về nhà sau ngày tháng đi hoang"
Ôi nhục nhã làm sao!
Nó xem ta như con của nó
Chỉ biết cúi đầu nghe bố dạy, nghe con!
Ôi Văn Hiến nghìn năm, Lạc Hồng anh dũng
Trãi bốn ngàn năm
Gìn giữ giang sơn bất khuất kiên cường
Dựng trời Nam hùng cứ một phương
Một tấc đất thắm đậm tình xương máu
Giờ này đây cúi đầu nghe giặc dạy bảo
Hãy ngoan lên chớ bướng bĩnh, nghe con!
Đẹp mặt chưa, lũ Ba Đình tôi tớ!
Một đời khom lưng thờ phụng Nga Tàu
Để dân tình khốn khổ lòng đau
Để giặc khinh thường, chửi thằng con lưu địa
"Thằng con hoang đàng" nhục nhã quá người ơi!
Trước thế nước lâm nguy, toàn dân Việt Nam trong ngoài nước hãy cùng đứng lên làm lịch sử, diệt lũ ươn hèn khiếp nhược, dựng cờ dân tộc phá tan trận đồ xâm lược của bọn Đại Hán hung hăng.
Hồn thiêng sông núi đang chờ đợi ngày nhân dân Việt trong ngoài nước đứng lên phá xiềng làm lịch sử. .../
Phan Ngoc Que

Wednesday, March 29, 2017

Âm nhạc miền Nam và những ngày xưa thân ái .



Âm nhạc miền Nam và những ngày xưa thân ái .
Vũ Đông Hà

Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhung nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết man mác buồn mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà khan gáy ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt bàn lớp học khắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây, biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya... Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.


Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.

*
Tôi lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở: "Tôi muốn mọi người biết thương nhau. Không oán ghét không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau. Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu..." Các bậc đàn anh như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành người, để biết ngước mặt nhìn đời và "cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười..."

Những đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình: "Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng. Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm. Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi. Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời..." Và anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận "Xương sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào, thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà." Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ: "Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên..." Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau "Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới." Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi - tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ!

Nguyễn Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường, Cô Trâm cho cả lớp đồng ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam Việt Nam, Về Với Mẹ Cha... Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi nở buồng phổi vang vang lên: "Từ Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu. Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong lòng..." Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân... Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát "Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người..."

Cô giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của Tổ tiên.

Trong cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày tết Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình của miền Nam để làm nên Những Ngày Xưa Thân Ái của chúng tôi.

"Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai
Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em
Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù
Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em..."


Các anh, những người anh miền Nam đã khoát áo chinh nhân lên đường đối diện với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm, đã hy sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.

Lần đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. Cô tôi, mồ côi từ nhỏ, một mình quạnh quẻ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà Thầy yêu thích lúc còn sống - "Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo... Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa! Trên cõi đời này, trên cõi đời này. Từ nay mãi mãi không thấy nhau..."

Và tôi say mê Mùa Thu Chết từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng Nhảy Dù vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.
*
Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi. Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh, và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. Giữa những đau thương chia lìa của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần trong lòng chúng tôi. Những "cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh" cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.

Nhìn lại quãng thời gian binh lữa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của một người được "Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời. Đặt tên cho anh, anh là Quốc. Đặt tên cho anh, anh là Nước. Đặt tên cho Người. Đặt tình yêu Nước vào nôi", chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những "Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!" Chúng tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát "Tôi thức từng đêm, thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng. Mẹ là mẹ trùng dương, gào than từ bãi trước ghềnh sau. Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội. Mà lòng thì chưa hề yêu ai". Chúng tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi thuộc lòng khúc hát "Toumorong, Dakto, Krek, Snoul. Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu. Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình. Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành." Chúng tôi không biết "Phá" là gì, "Tam Giang" ở đâu, nhà thơ Tô Thùy Yên là ai, nhưng "Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi..." đã thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.

Trong cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những "Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành". Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là "ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm". Giữa những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết "bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà..." Âm nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường, rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi - những người lính VNCH - thì ngời sáng. Và chúng tôi biết yêu thương, khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.
*
Sau ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn. Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi đến với Một thời để yêu - Một thời để chết. Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ tình yêu với những Vũng lầy của chúng ta, Con đường tình ta đi, Bây giờ tháng mấy, Ngày xưa Hoàng Thị, Tình đầu tình cuối, Em hiền như Ma Soeur, Trên đỉnh mùa đông, Trả lại em yêu... Đó là lúc Cô đọc thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên cho chúng tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ "thần sầu" của Trần Thiện Thanh trong lời nhạc "anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ... ôi niềm nhớ........ đến bất tận. Em ơi... em ơi!..." khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn - em ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn lên thăm Cô, vừa đàn vừa hát. Những buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn - Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An... Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Bản nhạc ấy có những dòng như sau:

"Nhưng anh bây giờ anh ở đâu
con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm
tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ
Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa
nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời."


Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung ấy và "người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này" cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH.

Cô tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách đàn đến trước mộ Cô và hát lại "Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo" để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.
*
Một buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn... nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước 1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu.

Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại. Sống lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các em chưa bao giờ gặp mặt "Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về...". Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước "giải phóng" của những "Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi..." Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh: "Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến, súng trên vai bước lê qua đường phố;  tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ,  tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ".... Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ: "Như phai nhạt mờ, đường xanh nho nhỏ, hôm nay tình cờ, đi lại đường xưa đường xưa. Cây xưa còn gầy, nằm phơi dáng đỏ, áo em ngày nọ, phai nhạt mây màu, âm vang thuở nào, bước nhỏ tìm nhau tìm nhau"...

Đêm ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng: Chỉ cần lắng nghe và hát lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng khiếp của con người miền Nam. Những mất mát không chỉ là một cái nhà, một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân ái ấy đã bị thay thế bởi những "Bác cùng chúng cháu hành quân" và "Tiến về Sài Gòn" thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.
*
Gần 42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản. Dòng suối trong mát ấy cũng cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam dành cho họ.

Gần 42 năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. Nhưng họ không biết rằng, dòng âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép, bán buôn... Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người dân Việt, bất kể Bắc - Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau 1975. Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam ra khỏi con người Việt Nam.

Ai giải phóng ai? Hãy hỏi Con Đường Xưa Em Đi và đốt đuốc đi tìm xem Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân đang nằm trong cống rãnh nào trên những con đường Việt Nam!!!
24.03.2017
Vũ Đông Hà
danlambaovn.blogspost.com