Tuesday, July 14, 2020

Toàn văn thông cáo của Mỹ bác bỏ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông
Tác giảQuý Khải | ĐKNNguồnĐại Kỷ NguyênNgày đăng: 2020-07-13


Trái: Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo phát biểu Lớp Tổng cục Ngoại giao lần thứ 194 (ảnh: Chính phủ Mỹ), Phải: Người phát ngôn của Trung Quốc, Cảnh Sảng (ảnh: Epoch Times).
Rạng sáng hôm nay theo giờ VN (14/7), chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump đã công bố quyết định phủ nhận gần như toàn bộ tất cả các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông.
Dưới đây là bản tiếng Việt do Đại Kỷ Nguyên biên dịch dựa trên thông cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ.
*********
Mỹ ủng hộ duy trì một khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và cởi mở. Hôm nay, chúng ta củng cố chính sách của Mỹ tại một bộ phận quan trọng, gây tranh cãi trong khu vực này – Biển Đông. Chúng tôi muốn làm rõ: Các yêu sách của Bắc Kinh đối với các nguồn tài nguyên ngoài khơi ở hầu hết Biển Đông là hoàn toàn bất hợp pháp, chiến dịch bắt nạt của họ nhằm kiểm soát chúng cũng như vậy.
Tại Biển Đông, chúng tôi sẽ tìm cách duy trì sự hòa bình và ổn định, giữ vững tự do trên biển phù hợp với luật pháp quốc tế, duy trì dòng chảy thương mại không bị cản trở và phản đối mọi nỗ lực sử dụng biện pháp cưỡng chế hoặc ép buộc để giải quyết tranh chấp. Chúng tôi chia sẻ những lợi ích sâu sắc và lâu dài này với nhiều đồng minh và đối tác, những người từ lâu đã tán thành một trật tự quốc tế dựa trên pháp luật.
Những lợi ích chung này đã đối mặt với sự đe dọa chưa có tiền lệ từ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC). Bắc Kinh sử dụng trò hăm dọa để làm suy yếu quyền chủ quyền của các quốc gia Đông Nam Á vùng ven Biển Đông, bắt nạt họ phải rời khỏi các nguồn tài nguyên ngoài khơi, đòi hỏi sự thống trị đơn phương và thay thế luật pháp quốc tế bằng cái lý ‘lẽ phải thuộc về kẻ mạnh’. Cách tiếp cận của Bắc Kinh đã trở nên rõ ràng trong nhiều năm. Năm 2010, Bộ trưởng Ngoại giao lúc bấy giờ là Dương Khiết Trì đã nói với các đối tác ASEAN rằng “Trung Quốc là một nước lớn, còn các nước khác là nước nhỏ và đây là thực tế”. Quan điểm hiếu chiến ‘mạnh được yếu thua’ của Trung Quốc không có chỗ đứng trong thế kỷ 21 này.
Trung Quốc không có căn cứ pháp lý để đơn phương áp đặt ý chí của mình lên khu vực. Bắc Kinh đã không thể đưa ra một cơ sở pháp lý nhất quán nào cho yêu sách về “Đường Chín Đoạn” trên Biển Đông kể từ khi chính thức đưa ra khái niệm này vào năm 2009. Trong một phán quyết mang tính đồng thuận ngày 12/7/2016, một Tòa án Trọng tài được thành lập theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982 – mà Trung Quốc là một quốc gia thành viên – đã bác bỏ các yêu sách hàng hải của PRC vì không có cơ sở dựa trên luật pháp quốc tế. Phán quyết của Toà án đã đứng về phía Philippines – bên đưa vụ kiện lên tòa trọng tài – khi bác bỏ hầu hết các yêu sách của Bắc Kinh.
Như Hoa Kỳ đã từng tuyên bố trước đây, và như được trình bày cụ thể trong Công ước, phán quyết của Tòa Trọng tài là quyết định cuối cùng và ràng buộc về mặt pháp lý đối với cả hai bên (Trung Quốc và Philippines). Hôm nay chúng tôi một lần nữa nhấn mạnh lập trường của Hoa Kỳ đối với các yêu sách hàng hải của Trung Quốc tại Biển Đông tương thích với phán quyết của Toà án. Cụ thể:
- Trung Quốc không thể áp đặt các yêu sách hàng hải hợp pháp – bao gồm bất kỳ các yêu sách nào trên Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) tại bãi cạn Scarborough và quần đảo Trường Sa – liên quan tới Philippines trong các khu vực mà Toà án phán quyết thuộc EEZ hoặc trên thềm lục địa của Philippines. Việc Bắc Kinh quấy rối hoạt động đánh bắt cá và phát triển năng lượng ngoài khơi của Philippines trong các khu vực này là bất hợp pháp, tương tự bất kỳ hành động đơn phương nào của nó nhằm khai thác tài nguyên tại đây. Đối chiếu theo quyết định ràng buộc v ề mặt pháp lý của Toà án, Trung Quốc không có yêu sách về lãnh thổ hoặc hàng hải hợp pháp nào đối với khu vực Đá Vành Khăn hoặc Bãi Cỏ Mây, cả hai đều thuộc quyền chủ quyền và tài phán của Philippines, đồng thời Bắc Kinh cũng không có bất kỳ yêu sách lãnh thổ hay quyền lãnh thổ nào tại những khu vực này.
-  Bởi Bắc Kinh không thể đưa ra một yêu sách hàng hải hợp pháp, mạch lạc ở Biển Đông, Hoa Kỳ bác bỏ mọi yêu sách của Trung Quốc đối với vùng biển bên ngoài lãnh hải 12 hải lý của các đảo mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền tại quần đảo Trường Sa (không gây tổn hại đến các tuyên bố chủ quyền của các bên khác đối với các đảo này). Do đó, Hoa Kỳ bác bỏ mọi yêu sách hàng hải của Trung Quốc tại vùng biển xung quanh bãi Tư Chính (ngoài khơi Việt Nam), Cụm bãi cạn Luconia (ngoài khơi Malaysia), vùng biển thuộc EEZ của Brunei và đảo Natuna Besar (ngoài khơi Indonesia). Bất kỳ hành động nào của Trung Quốc nhằm quấy rối hoạt động đánh bắt cá hoặc khai thác hydrocarbon (dầu mỏ) ở những vùng biển này – hoặc để tiến hành các hoạt động đó một cách đơn phương – đều là bất hợp pháp.
-  Trung Quốc không có tuyên bố lãnh thổ hoặc hàng hải hợp pháp đối với (hoặc xuất phát từ) Bãi ngầm James, một thực thể chìm hoàn toàn dưới nước chỉ cách 50 hải lý tính từ Malaysia và khoảng 1.000 hải lý tính từ bờ biển Trung Quốc. Bãi ngầm James thường được trích dẫn trong tuyên truyền của Trung Quốc là “vùng lãnh thổ cực nam của nước này”. Luật pháp quốc tế quy định rất rõ ràng: Một thực thể ngầm dưới nước như Bãi ngầm James không thể bị tuyên bố chủ quyền bởi bất kỳ nước nào, và không có khả năng tạo ra các khu vực hàng hải. Bãi ngầm James (thường nằm khoảng 20m dưới mặt nước) không phải và không bao giờ là lãnh thổ của Trung Quốc, và Bắc Kinh cũng không thể tuyên bố bất kỳ quyền hàng hải hợp pháp nào từ đây.
Thế giới sẽ không cho phép Bắc Kinh coi Biển Đông là đế chế hàng hải của mình. Hoa Kỳ ủng hộ các đồng minh và đối tác Đông Nam Á của chúng tôi trong việc bảo vệ quyền chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên ở ngoài khơi, phù hợp với các quyền và nghĩa vụ của họ theo luật pháp quốc tế. Chúng tôi sát cánh với cộng đồng quốc tế nhằm bảo vệ tự do biển cả và tôn trọng chủ quyền, đồng thời bác bỏ bất kỳ ý đồ nào nhằm áp đặt ‘lẽ phải thuộc về kẻ mạnh’ ở Biển Đông cũng như khu vực rộng lớn hơn.

Trung Cọng Trước Giờ Lâm Tử
Tác giả Nguyễn Tường TuấnNguồnVietnam DailyNgày đăng: 2020-07-13


Dấu hiệu quan trọng nhất mọi người có thê thấy, Trung cộng chỉ là con “Gấu Trúc” không hơn không kém, được Mỹ nuôi đưỡng từ năm 1972 khi Tông thống Nixon qua thăm Hoa Lục. Anh bạn Đài Loan bị mời đi chơi chỗ khác, dọn chuồng cho Trung cộng vào Liên Hiệp Quốc. Từ đó giới cầm đầu Trung Nam Hải tự cho mình cái quyền ngang ngược, cắt đứt mọi giao thiệp ngoại giao của chính quyền Đài Loan với thế giới, bắt mọi quốc gia (kê cả Hoa Kỳ) phải công nhận chính sách một nước Trung Hoa, trong đó Đài Loan là một tỉnh của Trung cộng! Bốn mươi tám năm trôi qua, chẳng có cái gì là “muôn năm” cả! “Gấu Trúc” được tô son vẽ phấn thành cọp, hôm nay son phấn rã rời hiện ra chỉ là con “Hồ giấy”.
1. Ngày 1/5/2020, bà Kelly Craft, Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc trong một hàng Tweets nêu rõ Mỹ ủng hộ việc Đài Loan tái gia nhập Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cùng cộng đồng 193 nước tại Liên Hiệp Quốc. Dấu hiệu bão tố cho Trung cộng, không thê nào một vị đại sứ có thê viết lên những dòng Tweets đi ngược lại chính sách của chính phủ. Bước đi ngoạn mục của chính quyền Tổng thống Trump, dọn đường cho một ngày không xa Đài Loan chính thức quay trở lại chiếc ghế cũ của mình. Và cũng không lâu, Hoa Kỳ sẽ vất bỏ chính sách một nước Trung Hoa, Đài Loan sẽ hiên ngang tung bay lá cờ Cộng hoà Trung Hoa trên toàn thế giới. Ngày đó không còn xa.
2. Không như bạo quyền hèn hạ, bán nước csVN! Nữ Tổng thống Cộng hoà Trung Hoa (Republic of China) bà Thái Anh Văn (Tsai Ing-wen) sinh ngày 31 August 1956, thông minh và can đảm, lĩnh đạo 23,78 triệu người Đài Loan đối đầu với 1 tỷ 400 triệu đân Hoa Lục. Trung cộng nắn gân, cho máy bay xâm phạm không phận, Đài Loan nhanh chóng đưa phi cơ lên xua đuôi! Tốt nghiệp Đại học Luật tại Cornell Law School (Hoa Kỳ), Tiến sĩ Luật tại London School of Economics and Political Science (Anh Quốc) vị nữ lưu 64 tuôi đang trên đường phục hồi danh dự cho một nước Trung Hoa Tự do! Tập Cận Bình có giỏi đem quân vượt qua eo biển Kim Môn Mã Tổ? Trong khi Trung cộng bị cả thế giới nguyền rủa, thì bà Thái Anh Văn rực sáng với kết quả ngăn ngừa “Chinese virus”, đến mức nước Nga và Tổng thống Putin phải gửi các bác sĩ qua Đài Loan đề học! Trong khi esVN từng là đàn em của Nga, hiện nay vẫn tự hào chưa có người nào tử vong vì “*Chinese virus”, tại sao Putin lại không qua Việt Nam học? Hỏi tức là trả lời! Thông minh, dũng khí như thế, thì cỡ tiến sĩ chính trị đảng Lù Trọng Thắng xin đi bưng bô, chưa chắc đã xứng đáng! “Mình phải tôi tệ cỡ nào mà Nga nó chê?” Người liêm sỉ sẽ tự hỏi câu nảy.
3. Hồng Kông, khúc xương mắc nghẹn của họ Tập! Từ 2019 — 2020, tuổi trẻ Hồng Kông, thông minh, sáng tạo và can đảm đã biểu tình hằng triệu người, thách thức tay sai Bắc Kinh. Trung cộng có dám đưa quân vào đản áp, làm một “Thiên An Môn” thứ hai? Không một phản ứng quân sự nảo xây ra, con “Gấu Trúc” già nua chỉ còn nằm thoi thóp nhìn với đôi mắt mắt thần của kẻ sắp ra đi theo Mao! Cậu thanh niên 24 tuổi Hoàng Chí Phong (Joshua Wong) và hằng triệu sinh viên, học sinh Hồng Kông viết chúc thư cho cha mẹ và cùng nhau xuống đường đối đầu với Tập Cận Bình! Chính nghĩa có sức mạnh riêng của nó, khiến súng đạn, côn an, trở thành trò chơi trẻ con! Người Việt còn lương tri, hãy tự hỏi một Hoàng Chí Phong 24 tuổi, đám đương đầu với Tâp Cận Bình, trở thành khuôn mặt quốc tế. Nhục nhã thế nào cho tổ tiên chúng ta khi tên Lù Trọng Thắng, cả triệu quân trong tay, có tầu ngầm Kilo, mà rúc đầu như con rùa không dám đối đầu tại Biển Đông? Nhục quốc thể!
4. Siêu vi khuẩn “Chinese virus” sinh sau, đẻ muộn, mới vài tháng tuổi, đã quay lại làm hại ngay người và nơi đã sinh ra nó! Đúng là cả thế giới bị thiệt hại, không riêng gì Trung cộng. Đúng là Hoa Kỳ bị quay cuồng chóng mặt, số thất nghiệp trên 30,300,000 người trong năm tháng. Đúng là chỉ trong vòng vài tháng đầu năm 2020, số tử vong của người Mỹ đã cao hơn 20 năm tham chiến tại Việt Nam. Cho phép tôi có chút ý riêng tư dành cho bọn truyền thông thổ tả Mỹ khi so sánh nạn nhân của “Chinese virus” với số binh sĩ Hoa Kỳ hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam. Chúng mảy là một lũ khốn nạn trên cả mọi sự khốn nạn!
Một bầy ngu mà nhân loại không còn ai ngu hơn!
a) Chiến tranh Việt Nam do con người tạo ra, dựa trên ý thức hệ Quốc gia đối đầu với Cộng sản.
b) “Chinese virus” không mang mâu sắc chính trị, vô hình, đánh tất cả mọi người không phân biệt bạn hay thù. Gây tôn thương cho cả thế giới!
e) Đồ lỗi cho Trump là mù quáng và thiên vị. Con số người Mỹ tử vong vì bệnh “Cúm” dưới thời Obama cao hơn rất nhiều so với bệnh dịch hiện nay, sao không thấy ai đồ lỗi cho Obama? Hiến pháp Hoa Kỳ bảo vệ quyền tự do ngôn luận, chúng tôi tôn trọng những ý kiến khác biệt, bạn có quyền chửi nếu ghét Trump, nhưng chửi cho thông minh để không ai bắt bẻ.
Quay lại vấn đề, nền kinh tế của Trung cộng thiệt hại vô cùng từ ngày nạn dịch xây ra. Đồng Nhân dân tệ mắt giá, thị trường chứng khoán bốc hơi hằng trăm tỉ đô la Mỹ!
4.1 Giám đốc điều hành Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IME) bà Kristalina Georgieva, trong cuộc họp báo chung của IMF và Ngân hàng Thế giới (WB) ngày 4/3, tuyên bố “Dự báo tăng trưởng của Trung cộng trong năm 2020 dưới 5,6%”.
4.2 Một báo cáo của Viện Đông Á thuộc Đại học Quốc gia Singapore, đưa ra con số bi quan, theo đó, Trung cộng có thê ghi nhận mức tăng trưởng âm 6,3% trong quý Ï năm nay so với quý Ï năm 2019.
5. Trung cộng: Tứ vi địch thù. Tính cao ngạo cộng sản pha trộn mùi vị phong kiến Á Đông khiến Trung cộng thay vì nhanh chóng nhận lỗi, lại giở thói che đậy bưng bít theo kiêu đảng cộng sản. Đáng lý dùng nước chữa lửa, thì Tập Cận Bình lại hoa mắt, đem xăng đỗ vào!
5.1 Theo thăm đò của Pew Research từ ngày 3-29/3/2020 cho biết 66% dân Mỹ có nhận xét không tốt về Trung cộng, và 26% ngược lại. Trong cuộc phỏng vấn trên đài truyền hình ABC, Thứ hai 4/5, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo tuyên bố: “Trung cộng áp dụng lối tuyên truyền cô điên cộng sản, bóp méo sự thật, nguy hiểm vô cùng” (China participated in a classic communist disinformation effort that created enorrmous risk). Chưa hết, nhà ngoại giao hàng đầu của Hoa Kỳ còn nói: “Rất nhiều chứng cớ rõ ràng, cho thấy con vi khuẩn Coronavirus đến từ phòng thí nghiệm sinh học tại Vũ hán” (Enormous evidence that coronavirus came from Wuhan lab). Có đại ký giả trong làng báo người Việt giở giọng bênh Trung cộng, đặt câu hỏi kém thông minh, “Pompeo nói có những bằng chứng cụ thê, tại sao không nêu ra?” Bình tĩnh, cách nói của nhà ngoại giao không giống như bọn chăn trâu ngoài đồng, ông Ngoại trưởng Mike Pompeop nêu ra câu hỏi “Tại sao Trung cộng không cho mở cuộc điều tra và phóng viên ngoại quốc tự đo tường thuật, viên chức Trung cộng và các quốc gia khác sẽ làm việc tốt hơn khi thăng thắn đối đầu với vấn đề” (Had China permitted its own and foreign journalists and medical personnel to speak and Investigate freely, Chinese officials and other natlons would have been far better prepared to address the challenge). Cho đến hôm nay 9/5 khi chúng tôi viết bài này, Trung cộng vẫn chưa hề cho phép Tổ chức Y tế Quốc tế (WHO) và phái đoàn Hoa Kỳ cùng các quốc gia khác đến điều tra tại Vũ Hán! Tại sao phải che giấu? Chỉ một việc này thôi, cũng đủ đề cho người thông minh hiểu lời nói của Ngoại trưởng Pompeo.
Vòng vây đang siết chặt qua mặt trận ngoại giao, Thượng Nghị sĩ đảng Cộng Hoà Lindsey Graham trả lời phóng viên Fox ngày Chủ nhật 3/5, “Quốc hội cân nhắc biện pháp phong toả Trung cộng vì bệnh dịch Coronavirus” (Congress weighs sanction against China over Coronavirus crisis). Tại Quốc hội Hoa Kỳ, các dân biểu chuẩn bị một dự luật đòi Trung Quốc phải bồi thường, một khi đã hết dịch, thậm chí một số thượng nghị sĩ còn đòi trừng phạt.
Lần đầu tiên, chính phủ Hoa Kỳ bắt đầu điều tra những viện đại học nổi tiếng của Mỹ, đứng đầu là Harvard với những số tiền khổng lồ đóng góp từ Trung cộng: 93.7 triệu dollars, nhà trường nhận 2,270 sinh viên đến từ Trung cộng, họ thành lập cả phân viện Harvard tại thành phố Thượng Hải, tổ chức quỹ mang tên “Harvard China Fund”... và ái nữ của Tập Cận Bình tốt nghiệp viện đại học danh tiếng này. Chứng cớ quan trọng khác, theo AP ngày 28/1/2020, một Giáo sư Harvard đã che dấu chuyện nhận tiền và làm việc với Trung cộng bị bắt. Bản tin AP ngày 27/2/2020, giáo sư khác tại UT (University of Texas) cũng bị bắt cùng tội. Cũng đến từ AP ngày 11/7/2019, một giáo sư Đại học UCLA (University of California Los Angeles) ra toà nhận 219 năm tủ về tội cung cấp bí mật về hoả tiễn cho Trung cộng...Nhiều trường đại học danh tiếng tại Hoa Kỳ đang phải khai báo với Bộ Giáo dục về những liên quan của họ với chính quyền Hoa Lục...Không trả lời trong 30 ngày, Bộ Giáo dục sẽ chuyên hồ sơ qua Bộ Tư pháp đề điều tra.
Quan trọng hơn cả, chính quyền Tổng thống Donald Trump đang thảo luận chính sách hạn chế một số kỹ nghệ liên quan đến quốc phòng, điện tử, y tế của Hoa Kỷ trong việc giao thương với Trung cộng, họ phải xin phép đặc biệt của chính phủ. Ngoài ra, cũng khuyến khích các công ty Mỹ rút ra khỏi Trung cộng, đầu tư ở những quốc gia thân thiện với Mỹ như Ấn Độ, Mexico, và các nước Châu Á. Điều này cho thấy, một làn sóng thất nghiệp rất lớn đang đánh vào nền kinh tế Trung cộng.
Trong cuộc đối thoại với người dân, qua chương trình “Town Hall” trên truyền hình Fox, Chủ nhật 3/5, có một câu hỏi lý thú cho Tổng thống Trump, ông có lo ngại nếu Trung cộng không thi hành Thoả ước Kinh tế giai đoạn I, và mượn cớ đại dịch không mua nông sản Mỹ? Câu trả lời KHÔNG. “Nếu họ không mua, chúng ta sẽ chấm dứt thoả thuận, rất đơn giản” (If they don't buy, we'll terminate the deal. Very simple) có nghĩa là đánh thuế thêm vào hàng hoá TC. Chỉ một câu nói thôi, Bắc Kinh đã vội vàng đề nghị một cuộc điện đàm vào tuần tới giữa Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Robert Lighthizer và Phó Thủ tướng Trung cộng Lưu Hạc. Theo thoả thuận, cả hai thương thuyết gia sẽ gập nhau sáu tháng một lần, và cuộc điện đàm đến sớm hơn thời hạn sáu tháng. Thế bí của Trung cộng!
5.2 Chánh văn phòng Nội các Nhật Bản Yoshihide Suga cho biết, đại dịch “Chinese virus” đã cho nước này bài học lớn về sự nguy hiểm của việc phụ thuộc quá nhiều vào Trung cộng như nguồn cung cấp chính với nhiều loại sản phẩm, hàng hoá từ khẩu trang đến các phụ tùng xe hơi. Ông Yoshihide Suga cho biết 70% đến 80% khâu trang y tế của Nhật đặt làm tại Trung cộng, khi nền kinh tế của họ đóng băng, công ty xe hơi của Nhật không thể mua phụ tùng và cũng phải tạm ngưng sản xuất!
Theo Nikkei Asian Review, “... Nhật Bản dành gói cứu trợ kinh tế khẩn cấp hơn 240 tỷ yen (khoảng 2,2 tỷ USD) tháng này để giúp đỡ các công ty Nhật chuyên dây chuyền sản xuất về nước hoặc đa dạng hóa các cơ sở sản xuất đến khu vực Đông Nam Á”. Chính phủ Nhật cũng đã phê duyệt ngân quỹ giúp đỡ cao nhất từ trước đến nay trị giá 108 nghìn tỷ yên (khoảng 989 tỷ USD), chiếm khoảng 20% GDP, để hạn chế thiệt hại kinh tế do dịch “Chinese virus”.
5.3. Cộng Hoà Liên bang Đức (Federal Republic of Germany) là quốc gia đứng hàng đầu trong khối Liên hiệp Châu Âu, với chính sách ngoại giao thân thiện với Trung cộng, luôn tránh né những tuyên bố chính trị có thê làm Hoàng đề Tập Cận Bình mất vui. Đó là chính sách của bà Thủ tướng Angela Merkel, người thường xuyên đối đầu với Tổng thống Donald Trump. Tuy nhiên, ý đảng (đảng bên Đức) không phải là lòng dân.
Trong số báo ra ngày 15/4/2020, nhật báo BILD nhiều độc giả nhất nước Đức có bài viết tựa đề “Trung cộng đang nợ chúng ta những gì?” và đòi chính quyền Trung cộng phải bồi thường 149 tỷ Euro (160 tỷ USD). Trong đó hóa đơn rất chỉ tiết, nêu từng khoản mục của thiệt hại kinh tế do “Chinese virus” gây ra, chăng hạn: 24 tỷ Euro cho doanh thu du lịch bị thiệt hại — 7,2 tỷ Euro cho ngành công nghiệp điện ảnh Đức - I triệu Euro mỗi giờ cho hãng hàng không Lufthansa của Đức - 2 tỷ Euro mỗi tuần cho hãng ô tô Volkswagen — và 50 tỷ Euro cho các doanh nghiệp nhỏ của Đức. Ngoài ra, trong hóa đơn cũng ghi rõ rằng, nếu GDP của Đức giảm 5,1% thì mỗi người dân Đức sẽ chịu thiệt hại khoảng 2.160 Euro.
Bài báo viết, Trung Quốc phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại này “Cũng bởi vì giới lãnh đạo Trung Quốc đã bưng bít thông tin quan trọng trong nhiều tuần”, và “Trung Quốc đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin cho Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)”. Trong bài, báo BILD cũng căn cứ vào lời Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo nói về trách nhiệm của Trung Quốc.
5.4. Tại Úc, thủ tướng Scott Morrison tuyên bố hôm 22/04 đã liên lạc với các nhà lãnh đạo Mỹ, Pháp, Đức để đề nghị mở “điều tra quốc tế về đại dịch”. Ngay sau đó, Đại sứ Trung cộng tại Úc Cheng lingye lên tiếng đe doạ chính quyền Canberra, Úc sẽ thiệt hại hàng tỷ đô la trong thương mại nếu theo đuổi chính sách đòi điều tra Trung cộng, du khách sẽ mất, sinh viên Hoa Lục không du học tại Úc, và người dân Trung cộng sẽ thôi uống rượu vang Úc.
Lời đe doạ ngu xuân của tên Đại sứ Cheng Jingye đã tạo ra một làn sóng giận dữ, người dân Úc biểu tình đòi trục xuất hắn. Úc còn đi thêm một bước về quân sự, gửi chiến hạm đến Biển Đông cùng tham dự với hạm đội Hoa Kỳ.
5.5. “Made in China” Giấc mơ vĩ cuồng của Tập Cận Bình là thống trị thế giới bằng sản phẩm Trung cộng, với khẩu hiệu “Made in China 2025”. Ý họ Tập là thế, nhưng ý trời lại khác, còn năm năm nữa mới đến 2025, mà sản phâm của Trung cộng đã khiến cả thế giới giật mình. Người Việt biết rất rõ về phâm chất của hàng hoá “Made in China” hơn ai hết! Dưới đây là kinh nghiệm mới của thế giới:
* Vương quốc Anh cho biết: 17,5 triệu bộ xét nghiệm “Chinese virus” đặt mua từ Trung cộng không đủ tốt đê dùng. Theo Giáo sư John Newton, Giám đốc Y tế công cộng Anh, trả lời báo Times ngày 6/4 cho biết “Các bộ xét nghiệm của Trung cộng chỉ tìm ra kháng thể ở những bệnh nhân có “số lượng virus rất lớn”. Tuy nhiên, Anh cần bộ xét nghiệm có thể phát hiện kháng thê ở những người bị nhiễm virus nhưng biêu hiện nhẹ, và theo giáo sư Newton, các xét nghiệm của Trung cộng là “Không đủ tốt để có thê dùng ở quy mô lớn”. Theo NBC News 30/4 cho biết, “Ngày 13/4 nhóm bác sĩ và các nhà quản lý y tế cao cấp nước Anh nêu ra: “250 máy thở Anh mua từ Trung cộng có nguy cơ gây ra tác hại cho bệnh nhân, kê cả tử vong. Đường dẫn oxy của các máy thở này không thể lau rửa đúng cách, thiết kế lạ, hướng dẫn khó hiểu, và được chế tạo dùng trong xe cứu thương chứ không phải bệnh viện!” Các máy thở hiệu Shangrila 510 của Công ty TNHH Bắc Kinh Aeonmed, một trong những nhà sản xuất máy thở lớn của Trung Cộng.
Các bác sĩ Anh nhấn mạnh: “Chúng tôi mong muốn những chiếc máy này bị thu hồi và thay thế bằng các thiết bị có khả năng cung cấp thông khí cho bệnh nhân của chúng tôi trong việc điều trị hồi sức cấp cứu”.
* Vào cuối tháng 3/20, Cộng hòa Séc thông báo có tới 80% trong số 150.000 bộ xét nghiệm ““Chinese virus” mà nước nảy mua từ Trung cộng bị lỗi.
* Tây Ban Nha cũng phải loại bỏ một lô hàng bộ xét nghiệm mua từ Trung cộng sau khi tìm ra, các xét nghiệm chỉ chính xác 30%.
* Uy tín cộng sản một lần nữa tuôn chây xuống cống! Tháng 3/20, Trung cộng tuyên bồ sẽ tặng thiết bị y tế cho Ý. Tuy nhiên, trái với lời hứa, Ý đã phải bỏ tiền mua, và theo tờ Spectator, lô hàng mà Ý mua lại chính là những thứ mà nước này đã tặng cho Trung cộng khi bắt đầu đại dịch. Đều giả hết chỗ nói!
Ý là quốc gia đầu tiên trong khối Liên hiệp Châu Âu, dân số 60,317,116 người (2019), tham dự chương trình “Một vành đai, một con đường”, mở cửa đón số đông công nhân viên Trung cộng. Ngài Thủ tướng Ý, ông Giuseppe Confe, nhanh chóng nhận ra anh bạn phương đông mới, ngoài thói quen ăn to, nói lớn, khạc nhỗ bừa bãi còn đem thêm món quả không mong muốn, siêu vi khuẩn “Chinese virus”. Thành phố Prato tại Ý là địa chỉ của hơn 50,000 công nhân đến từ Trung cộng, số người này khiến nước Ý đứng đầu danh sách nhiễm siêu vi khuẩn “Chinese virus” và tử vong nhiều nhất tại Châu Âu. Kết quả đầu tiên của chương trình “Một vành đai, một con đường”, bài học vỡ mặt cho Thủ tướng Giuseppe Conte.
KÉT LUẬN.
Khi bị sa lầy, rơi vào vũng bùn, ai trong chúng ta cũng có lúc gặp! Cách sinh tồn hay nhất là “bình tĩnh” suy nghĩ, tìm những gì có thể bấu víu đề thoát ra.
Bài “Mưu sinh thoát hiểm” căn bản.
Trung cộng dưới sự lĩnh đạo của Hoàng Đề Tập Cận Bình làm ngược lại! BỊ cả thế giới lên án, nghi ngờ, tây chay, đòi bồi thường thiệt hại. Khôn ra, Trung cộng cần tỉnh táo, nhận lỗi (điều này rất khó với văn hoá Trung Hoa, cho là mất mặt) đề nghị bồi thường, sửa chữa. Họ cho bộ máy tuyên truyền của đảng cộng sản làm việc ngày đêm, cố tình đảo ngược tình thế! Đô lỗi cho lính Mỹ, cho Pháp, các nhà ngoại giao đưa ra những tuyên bố ngạo mạn, khiêu khích cả thế giới!
Chúng ta hiểu, Trung cộng cần trấn an dân chúng, đánh trống khua chiêng, bài bản sơ đẳng của chủ nghĩa cộng sản qua chính sách “ngu dân”. Họ quên đi, các hãng xưởng nước ngoài rút ra khỏi Hoa lục, thì đám một tỷ bốn trăm triệu dân lấy gì mà nhét vào bao tử? Đứa con hoang csVN ngu cũng không kém gì, chúng hân hoan khoe con số người tử vong của Hoa Kỳ đứng đầu thế giới, tuyên truyền dân chúng Mỹ thất nghiệp cao, không có thịt mà ăn, phải vào rừng săn bắn. Một nữ học viên của tôi tại Việt Nam lên tiếng, “Nếu dân Mỹ thất nghiệp, thì tụi em bán sản phâm cho ai?” Nghịch lý lớn nhất tại Việt Nam, người thông minh như em không có quyền, và bọn lãnh đạo là một lũ ngu!
Càng quậy, càng lún sâu xuống bùn! Giờ đây đã chìm qua khỏi ngực rồi!
Hàng triệu triệu công nhân Hoa Lục rơi vào thất nghiệp. Danh hiệu cơ xưởng sản xuất toàn thế giới không còn nữa. Một trật tự mới được thiết lập lại cho nhân loại! Chủ nghĩa cộng sản cáo chung! Có sống được qua cơn đại hoạ này, thì Trung cộng sẽ trở thành một phế nhân, mắt hết mọi ảnh hưởng.
Còn tương lai đảng csVN ra sao? Vua chết, Chúa cũng băng hà! Thằng “con hoang” Ba Đình mất chỗ dựa lớn nhất. “Hàng sống, chống chết” lịch sử lập lại sau 45 năm.
Nguyễn Tường Tuấn

Sunday, June 28, 2020


Video Clip Ukraina trưng bằng chứng cha con Joe Biden ăn hối lộ 6 tỷ USD chấn động nước Mỹ
Tác giả Nguyễn AnhNguồnCánh CòNgày đăng: 2020-06-28
Hiện nay vừa có một tin chấn động, bom tấn, có thể nói là bom nguyên tử tấn công thẳng vào cựu phó Tổng thống Joe Biden (ứng cử viên Tổng thống của Đảng dân Chủ).

Records of conversations testifying to international corruption
Lâu nay chúng ta nghe những tin tức đồn đoán, tố cáo về việc ăn hối lộ của Joe Biden thông qua con trai là Hunter Biden (làm ăn ở Ukraina) ăn hối lộ, nhưng không ai biết rõ. Tuy nhiên, ngày 22/6/2020, thì các cơ quan truyền thông báo chí được mời đến tham dự buổi họp báo của các công tố viên Nhà nước và nghị sĩ Ukraina công bố việc ăn hối lộ, tham nhũng của cựu phó Tổng thống Joe Biden. Tiết lộ chi tiết đường dây ăn hối lộ quốc tế khủng của cha con ông Joe Biden liên quan đến công ty dầu khí quốc gia Ukraina (Burisma).
Đây là clip bình luận của luật sư Trịnh Quốc Thiên tại thủ đô Washington về vụ việc chấn động chính trường nước Mỹ này. Nó sẽ khiến đánh gục ứng cửa viên Joe Biden trong cuộc bầu cử sắp tới vì rất có lợi cho Tổng thống Trump.


2 cha con tham nhũng Joe Biden
Buổi họp báo này đã được đưa lên youtube với tiêu đề “Records of conversations testifying to international corruption” của cơ quan chống tham nhũng quốc gia Ukraine (NABU). Nội dung nói về những bằng chứng của các công tố viên Ukraine tìm ra. Gồm các giấy tờ, các chi phiếu, các ngân phiếu, bản ghi âm bí mật của cơ quan tình báo Ukraina đối với các cuộc gọi điện thoại từ miệng của ông Biden.
Đường dây tham nhũng này bao gồm các nhân vật cao cấp của chính phủ Mỹ và chính phủ Ukraine gồm: Cựu Tổng thống Ukraine Poroschenko, Cựu Phó tổng thống Mỹ Joe Biden, Thượng nghị sĩ Mỹ John Kerry, tỷ phú George Soros. Đây là một đường dây ăn hối lộ rất tinh vi của Joe Biden.
Số tiền ăn hối lộ lên tới 50 triệu USD bị thu giữ, và đang tiếp tục điều tra và vụ ăn hối lộ có thể lên tới 1,5 tỷ USD và có dấu hiệu ăn hối lộ lên tới 6 tỷ USD.
Các chi phiếu, các ngân phiếu của Burisma đã ký là bằng chứng rót tiền hối lộ cho đối tác là “BHR” là một công ty chứng khoán trá hình của Trung Quốc mà Hunter Biden là thành viên. Rồi công ty trá hình này viết séc rót tiền cho Hunter Biden mỗi tháng 3,4 triệu USD (dưới danh nghĩa tiền tư vấn). Sau khi vụ việc bị bại lộ thì Hunter Biden đã rút khỏi công ty này.


Ông Zlochevsky, người sáng lập Tập đoàn dầu khí Burisma của Ukraina và ông Hunter Biden (con trai của Joe Biden)
Công ty này đã hối lộ 50 triệu USD cho chính phủ Ukraina để ngăn chặn cuộc điều tra tham nhũng đối với tập đoàn dầu khí Burisma. Sau khi ăn tiền, Cựu Tổng thống Ukraine Poroschenko đã sa thải công tố viên Kulyk (một hình thức bịt miệng).
Nhóm công tố viên đã công bố bố thêm một chứng cứ động trời. Đó là các cuộc điện thoại bị ghi âm của chính Joe Biden yêu cầu chính phủ Ukraina phải hủy bỏ các bằng chứng liên quan đến vụ tham nhũng ở tập đoàn dàu khí Burisma càng sớm càng tốt, kẻo bị FBI từ Hoa Kỳ sang Ukraina điều tra các vụ làm ăn của con trai Hunter Biden. Trong đó, ông Joe Biden đã dọa Tổng thống Ukraina lúc đó, nếu không làm tốt, không bịt miệng được cuộc điều tra này hoặc hủy hồ sơ một cách thì Hoa Kỳ sẽ ngưng viện trợ với số tiền là 1.8 tỷ USD cho Ukraina.
Các công tố viên Ukraina còn công bố thêm một nhân chứng quan trọng là, thứ trưởng Bộ ngoại giao Hoa Kỳ về Âu châu và Á Châu là ông George Kent đã chứng kiến vụ việc động trời này.


Cựu thứ trưởng Bộ ngoại giao Hoa Kỳ về Âu châu và Á Châu là ông George Kent đã chứng kiến vụ việc động trời này.
Một vụ ăn hối lộ thê thảm. Có một sự ma giáo ở đây. Ông Joe Biden đã làm áp lực chính phủ Ukraine để ngưng cuộc điều tra. Tiền hối lộ chạy lòng vòng và có hàng loạt chính trị gia cấp cao Mỹ dính líu. Các công tố viên đang điều tra Hunter Biden có trốn thuế không.
Điều đặc biệt, Thượng nghị sĩ Mỹ John Kerry cũng nằm trong ban lãnh đạo của công ty trá hình BHR của Trung Quốc. Đây là một sự lem nhem, khi các chính trị gia hàng đầu nước Mỹ lại có mặt trong một công ty nước ngoài tham nhũng.


Thượng nghị sĩ Mỹ John Kerry cùng với cựu Phó Tổng thống Joe Biden đang nói chuyện với Cựu Tổng thống Ukraina
Đây là những bằng chứng quá rõ ràng, được ví như bom tấn đánh vào uy tín của đảng dân chủ. Hiện nay ông Joe Biden đang chạy trốn trước dư luận, không thể nào chối cãi sự thật. Đặc biệt là băng ghi âm tiếng nói của ông Joe Biden. Cho nên đảng Dân chủ không dám lên tiếng, không dám phản biện, không dám trả lời. Vì càng trả lời càng lộ ra một đường dây tham nhũng gộc. Bằng chứng quá rõ ràng. Không biết vài ngày tới Đảng Dân chủ sẽ phản ứng ra sao.
Trước đó, ông Artem Sytnyk, người đứng đầu cơ quan chống tham nhũng quốc gia Ukraine (NABU), ngày 13/6 cho biết 3 người đã bị bắt giữ, trong đó có một quan chức và cựu quan chức ngành thuế, liên quan tới khoản tiền hối lộ của công ty Burisma.
Cụ thể, 6 triệu USD là số tiền mà Burisma đã hối lộ các quan chức Ukraine để họ chấm dứt điều tra người sáng lập công ty dầu khí này – ông Mykola Zlochevsky. Ông Zlochevsky là bạn thân của cựu Tổng thống Ukraine Viktor Yanukovych, từng là một bộ trưởng môi trường và hiện đang sống ở nước ngoài.
Theo NABU, 6 triệu USD là khoản tiền hối lộ lớn nhất trước này mà cơ quan này tịch thu. Khoản tiền này được bỏ trong các túi nhựa đem tới công khai tại cuộc họp báo ngày 13/6.


Các túi tiền đầy tờ 100 USD bị Cục Chống Tham nhũng quốc gia Ukraine tịch thu được. Ảnh: AP
Cục trưởng NABU Sytnyk cho hay, 5 triệu USD được đưa cho một số quan chức chống tham nhũng và 1 triệu USD nữa được cho đưa cho một quan chức có vai trò trung gian.
Cục trưởng Sytnyk cho biết có 3 người bị tạm giữ liên quan việc hối lộ này, trong đó có một đương kim và một cựu quan chức về thuế. Tất cả các nghi can bị tạm giữ đều có liên quan đến ông Zlochevsky.
Theo lời Cục trưởng Sytnyk thì các nghi can đưa hối lộ rất vội thực hiện vụ việc vì muốn nhanh chóng chấm dứt cuộc điều tra nhắm vào ông Zlochevsky đúng vào ngày sinh nhật ông này (14/6), để ông này có thể về lại Ukraine an toàn.
Các công bố trước đó về các cuộc điều tra liên quan đến Burisma – tâm điểm trên chính trường Mỹ nhưng NABU chưa có bằng chứng. Nhưng nay thì đã có đầy đủ các bằng chứng rõ ràng khẳng định các vụ hối lộ liên quan trực tiếp đến cha con ông Biden.
Hồi tháng 6, cựu Tổng công tố Ukraine Ruslan Ryaboshapka từng nói với Reuters rằng khi còn tại chức ông đã dẫn đầu một cuộc kiểm toán và không nhận thấy có chứng cứ sai trái gì với ông Hunter Biden khi ông này còn làm cho Burisma.
Ông Ryaboshapka bị sa thải hồi tháng 3, sau khi nhiều nghị sĩ cáo buộc ông trễ nải trong một số vụ khởi tố. Phần mình, ông Ryaboshapka nói ông bị xử vì đã thực hiện một số cải cách với văn phòng công tố theo cách đe dọa đến quyền lợi của các chính trị gia tham nhũng.


Tổng thống Trump đã hối thúc Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky điều tra vụ việc
Trước đây, Tổng thống Donald Trump và các thân tín nghi ngờ Biden dùng quyền lực để giúp Burisma không bị điều tra cáo buộc tham nhũng. Thì nay đã quá rõ ràng.
Hồi tháng 8/2019 Tổng thống Trump đã hối thúc Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky điều tra cha con Biden, khiến Hạ viện Mỹ mở cuộc điều tra luận tội ông chủ Nhà Trắng. Nhưng cuối cùng không khép tội được ông Trump. Và bây giờ cuộc điều tra đã được công bố như một quả bom tấn hạ gục ứng cử viên tổng thống Đảng Dân chủ. Xoay đổi cục diện chính trường Mỹ.
Nguyễn Anh

Sunday, April 26, 2020

Tác giả Búi Anh TrinhNguồnTrách Nhiệm OnlineNgày đăng: 2020-04-25
Năm 1973, ngày 7.2, mười một ngày sau khi ký kết Hiệp Định Paris, Kissinger lên đường đi Hà Nội. Tại Hà Nội Kissinger trao cho Phạm văn Đồng một công hàm của Tổng Thống Nixon, trong đó quy định thể thức thanh toán số tiền bồi thường chiến tranh cho Hà Nội là 4,75 tỷ USD. Sau đó Thủ Tướng cộng sản Việt Nam Phạm văn Đồng giao cho Kissinger mang về cho Tổng Thống Hoa Kỳ một công hàm hoan nghênh tinh thần Mật ước của Nixon và hứa sẽ thi hành nghiêm chỉnh Mật ước này. Như vậy là Mật ước đã có đủ chữ ký của cả hai người cầm đầu chính phủ. (Lưu văn Lợi, Các Cuộc Thương Lượng Lê đức Thọ & Kissinger tại Paris)
Nguyên văn Mật ước:
“Ngày 1 tháng 2 năm 1973.
Tổng Thống thông báo cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa những nguyên tắc sẽ chỉ đạo sự tham gia của Hoa Kỳ về việc xây dựng lại sau chiến tranh ở Bắc Việt Nam. Như đã nêu trong Điều 21 của Hiệp Định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết tại Paris ngày 27 tháng giêng năm 1973, Hoa Kỳ thực hiện sự tham gia này theo chính sách truyền thống của mình.
Những nguyên tắc đó là:
1.- Hoa Kỳ sẽ đóng góp xây dựng lại Bắc Việt sau chiến tranh mà không cần một đòi hỏi chính trị nào.
2.- Con số cam kết sơ khởi là 3,25 tỷ Dollars viện trợ không hoàn lại trong vòng 5 năm. Những hình thức viện trợ khác (viện trợ phát triển kinh tế) sẽ được nghiên cứu sau.
3.- Công việc điều hành kế hoạch viện trợ sẽ do một Ủy Ban được đặt tên là Ủy ban hỗn hợp kinh tế Hoa Kỳ-Bắc Việt. Ủy ban sẽ được hình thành trong vòng 30 ngày sau khi ký Hiệp Định.
4.- Chức năng của Ủy ban này sẽ là đề ra các chương trình cho việc đóng góp của Hoa Kỳ vào công cuộc xây dựng lại ở Bắc Việt Nam. Sự đóng góp của Hoa Kỳ sẽ tiến hành trên cơ sở những yếu tố sau đây:
a/ Các nhu cầu của Bắc Việt Nam do những tàn phá của chiến tranh gây nên.
b/ Các yêu cầu của công cuộc xây dựng lại sau chiến tranh trong các lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp của nền kinh tế Bắc Việt Nam.
5.- Ủy ban hỗn hợp kinh tế sẽ gồm những đại diện ngang nhau của mỗi bên. Ủy ban sẽ thỏa thuận về một bộ máy để quản lý chương trình đóng góp của Hoa Kỳ vào công cuộc xây dựng lại Bắc Việt Nam. Ủy ban sẽ cố gắng hoàn thành sự thỏa thuận này trong vòng 60 ngày sau khi được thành lập.
6.- Hai thành viên của Ủy ban sẽ hoạt động trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Những trụ sở của Ủy ban sẽ đặt tại một nơi sẽ được thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
7.- Hoa Kỳ cho rằng việc thực hiện những nguyên tắc nói trên sẽ thúc đẩy những quan hệ kinh tế thương mại và các quan hệ khác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và sẽ góp phần vào việc bảo đảm một nền hòa bình vững chắc và lâu dài ở Đông Dương. Những nguyên tắc này phù hợp với tinh thần của Chương VIII của Hiệp Định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam ký tại Paris ngày 27 tháng giêng năm 1973.
Điều ghi chú về những hình thức viện trợ khác: Về những hình thức viện trợ khác, việc nghiên cứu của Hoa Kỳ cho thấy rằng những chương trình thích hợp có thể là vào khoảng 1 đến 1,5 tỷ đô la tùy theo nhu cầu của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa về lương thực và hàng hóa khác.
Hiểu biết về Chương trình xây dựng lại kinh tế: Có sự hiểu biết là những đề nghị của ủy ban hỗn hợp kinh tế nói trong công hàm của Tổng Thống gửi Thủ Tướng sẽ do mỗi thành viên thực hiện theo những quy định của Hiến Pháp của mình” (Lưu văn Lợi, Các Cuộc Thương Lượng Lê đức Thọ-Kissinger Tại Paris)”.
Tại sao cả hai bên đều không thi hành mật ước?
Như vậy những gì hai bên thương lượng với nhau suốt 4 năm không nằm trong Hiệp Định, mà nằm trong Mật ước. Và hai bên ký với nhau Hiệp Định Paris chỉ là che mắt thế gian, còn Mật ước mới là kết quả thương lượng thực giữa hai bên.
Khoan nói tới hai bên đã mật cam kết với nhau những gì, nhưng tại sao lại không giữ lời giao ước ? Đây là một giao ước mật chứ không phải là giao ước công khai. Một khi giao ước mật được ký kết thì phải được tôn trọng tuyệt đối, gần như là lời thề thiêng liêng. Nếu có một bên phản bội thì bên kia chỉ cần tung mật ước ra trước ánh sáng thì bên vi phạm sẽ trở thành kẻ lừa đảo.
Mãi đến ngày 19.5.1977 Tổng Thống Hoa Kỳ Carter mới loan báo rằng sau khi ký Hiệp Định Paris 1973, Tổng Thống Nixon đã có ký với Hà Nội một mật ước riêng. Trong đó cam kết bồi thường 4,75 tỷ USD cho Hà Nội.
Sau loan báo của Tổng Thống, Quốc Hội Hoa Kỳ tuyên bố đó chỉ là lời hứa của người đứng đầu cơ quan hành pháp Hoa Kỳ, cho nên quốc gia Hoa Kỳ không có trách nhiệm phải thi hành cam kết đó. Vì vậy dư luận hiểu rằng chính phía Hoa Kỳ đã không thi hành đúng như cam kết, nghĩa là sau Hiệp Định Paris Hoa Kỳ không chung cho Hà Nội một đồng nào trong số 4,75 tỷ.
Vấn đề được đặt ra là tại sao Nixon lại không thi hành những điều mà ông nhân danh Tổng Thống Hoa Kỳ để viết ra ? Trong khi đó Hà Nội cũng không đưa mật ước ra để tố cáo Nixon thất hứa ? Nhất là khi Nixon còn tại chức ? Đặc biệt theo như nhân dân Hoa Kỳ được biết một cách không chính thức thì Hoa Kỳ chỉ phải chung cho Hà Nội 3,25 tỷ đô la mà thôi, tại sao giờ đây chính phủ Cater lại loan báo là 4,75 tỷ.
Còn về phía Hà Nội tại sao họ cứ một mực tố cáo Nguyễn Văn Thiệu vi phạm Hiệp Định mà không công khai hay bán công khai tố cáo Nixon không giữ lời hứa về số tiền tái thiết Bắc Việt ? Nhất là khi Nixon còn tại chức ?
Chìa khóa giải mã
Năm 1998 chính phủ cộng sản Việt Nam (Phan văn Khải) đã cho công bố toàn bộ biên bản các cuộc mật đàm giữa Lê đức Thọ và Kissinger bằng một cuốn sách của Đại Tá cộng sản Việt Nam Lưu văn Lợi, ông là chuyên gia thương thuyết trong phái đoàn Hà Nội tại Paris. Cuốn sách có tựa đề là “Các Cuộc Thương Lượng Lê đức Thọ & Kissinger tại Paris”, sách xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1998 nhưng phổ biến hạn chế, đặc biệt không cho lưu hành trong nước.
Đến tháng 10 năm 2002 nhà xuất bản “Công an Nhân dân” mới in lại và xuất bản trong nước. Trong chương cuối có đăng nguyên văn bản mật ước Nixon-Phạm văn Đồng, được Nixon ký ngày 1.2.1973, nghĩa là 4 ngày sau khi hai bên ký kết Hiệp Định Paris.
Bản mật ước gồm có 7 mục, trong đó 3 mục đầu quy định thể thức chi trả 3,25 tiền bồi thường chiến tranh và 4 mục sau quy định thể thức viện trợ kinh tế dài hạn cho Hà Nội, bước đầu là 1,5 tỷ hàng hóa và lương thực (viện trợ với lãi xuất ưu đãi). Cơ quan điều hành hệ thống viện trợ bồi thường chiến tranh của Hoa Kỳ tại Hà Nội sẽ được thành lập xong trong vòng 30 ngày sau khi Hiệp Định Paris được ký kết. Và hệ thống sẽ đi vào hoạt động trong vòng 60 ngày sau khi được thành lập, nghĩa là đồng đô la viện trợ đầu tiên sẽ đến Hà Nội 1 tháng sau khi người tù binh Hoa Kỳ cuối cùng đã được thả (Tù binh được thả trong vòng 60 ngày).
So sánh thời gian trao trả tù binh và thời gian bắt đầu chung viện trợ thì có thể kết luận được rằng ”Nếu Hà Nội thả hết 391 tù binh Hoa Kỳ xong rồi thì Hoa Kỳ mới thưởng bằng tiền viện trợ” Đây là lời hứa của bên chiến thắng: Hà Nội phải thả hết tù binh vô điều kiện, thả xong tới người cuối cùng một cách vui vẻ thì mới được chung 4,75 tỷ. (Thường thì giao ước bồi thường và trao trả tù binh được thực hiện trên nguyên tắc: Đồng tiền đầu tiên được đưa ra cùng với người tù đầu tiên được thả, và đồng tiền cuối cùng được đưa ra cùng với ngày người tù binh cuối cùng được thả. Thêm một bằng chứng chứng minh Hà Nội đã đầu hàng sau cuộc dội bom).
Vậy thì ai đánh lừa ai ?
Sự kiện tù binh phải được thả hết trước khi Hà Nội nhận được viện trợ chứng tỏ Hoa Kỳ không có lý do gì để sợ Hà Nội phản bội mật ước. Có chăng là Hà Nội sợ Hoa Kỳ lấy xong tù binh rồi quỵt nợ không chung tiền. Và thực tế xảy ra đúng như vậy, Nixon lấy được toàn bộ tù binh nhưng không chung được 1 đồng như đã hứa. Cái gì khiến cho Nixon và Kissinger trở thành những tay lừa đảo hạng bét ?
Người ta xem lại biên bản từng cuộc mật đàm để truy nguyên hoàn cảnh phát sinh ra bản mật ước Nixon-Phạm văn Đồng. Hóa ra ban đầu, trước trận thả bom 12 ngày đêm thì mật ước đã được soạn trước nhưng chỉ có 3 mục đầu, nghĩa là bồi thường 3,25 tỷ. Số tiền này đã được thông báo cho Quốc Hội Hoa Kỳ.
Nhưng sau khi Hà Nội thiếu điều kéo cờ trắng trong cuộc dội bom 12 ngày đêm thì hai bên mới ngồi lại và thêm vào 4 mục sau, có thêm 1,5 tỷ viện trợ lương thực và hàng hóa (Đây là số tiền cho vay để phát triển kinh tế chứ không phải là viện trợ nhân đạo không hoàn lại). Đồng thời có thêm một kế hoạch viện trợ phát triển kinh tế về lâu về dài cho Bắc Việt.
So sánh mật ước 3 mục (trước cuộc dội bom) với mật ước 7 mục (sau cuộc dội bom) thì sau cuộc dội bom Hà Nội đã được Nixon thưởng thêm bằng cam kết sẽ viện trợ phát tiển kinh tế cho Hà Nội như là viện trợ cho một nước đồng minh, giống như viện trợ cho Nam Hàn sau Hiệp Ước Bàn Môn Điếm hay viện trợ cho Sài Gòn sau Hiệp định Genève.
Suy ra Hà Nội đã âm thầm trở thành đồng minh của Hoa Kỳ sau cuộc dội bom, nghĩa là thay vì đầu hàng thì Hà Nội đã xin hồi chánh.
Đầu hàng là buông súng và chịu mọi sự phán xét của kẻ thù, còn hồi chánh là ly khai với phe cọng sản và trở thành đồng minh của phe tự do. Lê Duẩn quyết định hồi chánh thì có lợi cho Bắc Việt nhiều hơn so với đầu hàng. Ông ta có quyền ly khai khỏi phe cộng sản bởi vì Trung Quốc và Liên Sô đã phản bội ông ta trước.
Còn nếu như ông ta đầu hàng thì không có ai giúp ông hồi phục kinh tế sau chiến tranh mà trái lại ông còn giữ nguyên quyển sổ nợ chiến phí của Liên Sô và Trung Quốc. Vả lại chạy theo Mỹ thì tất cả dân Việt từ Nam chí Bắc đều hoan hô ông, còn như tiếp tục chạy theo hai đàn anh đểu cáng là Trung Quốc và Liên Sô thì dân tộc mãi mãi trong tăm tối và đói khát như Bắc Hàn hay Cu Ba ngày nay.
Tại sao không bắt Hà Nội đầu hàng mà lại cho hồi chánh ?
Ngay từ những ngày đầu có cuộc mật đàm Kissinger-Lê đức Thọ thì Quốc Hội Hoa Kỳ đã mặc nhiên cho phép Kissinger có quyền bỏ tiền ra lấy tù binh trở về. Vấn đề là Kissinger trình diễn làm sao cho việc chung tiền không có vẻ là Hoa Kỳ bại trận. Vì vậy Nixon vẫn hợp pháp khi Kissinger soạn ra tờ “Mật ước 3 điểm” hứa chung 3,25 tỷ cho Hà Nội. Số tiền đã được thông báo cho Quốc Hội Hoa Kỳ và ngay cả dân chúng Hoa Kỳ cũng được biết một cách không chính thức.
Thế nhưng 4 mục sau (cam kết thiết lập hệ thống viện trợ kinh tế dài hạn cho Hà Nội) là một việc làm phi pháp, bởi vì không xin phép Quốc Hội Hoa Kỳ, “lén thỏa thuận với đối phương”. Vả lại viện trợ kinh tế dài hạn chỉ được dành cho quốc gia đồng minh của Hoa Kỳ chứ không thể nào dành cho ”kẻ thù”.
Ngoài ra những đối thủ của Nixon trong Đảng Dân Chủ cũng có thể cáo buộc rằng cái giá để lấy tù binh trở về là công cuộc viện trợ phát triển kinh tế cho Hà Nội. Cũng là phạm pháp vì không xin phép Quốc Hội, nhưng nếu có xin phép thì Quốc Hội cũng sẽ bác bỏ bởi vì viện trợ kinh tế chỉ được cung cấp cho các quốc gia đồng minh trong khi Hà Nội đang là quốc gia thù địch.
Sự kiện Nixon lẫn Hà Nội giữ kín tờ mật ước cho tới 1977 chứng tỏ ngày đó hai bên đồng thỏa thuận “Hà Nội bí mật hồi chánh”. Hà Nội có quyền ly khai khỏi thế giới cộng sản là do Trung cộng và Liên Sô tráo trở, cả hai đã ngưng cung cấp vũ khí để buộc Hà Nội phải chấm dứt chiến tranh và trả tù binh cho Hoa Kỳ.
Thế nhưng tại sao Nixon lại giấu nhẹm tin Hà Nội hồi chánh ? Câu trả lời rằng nhân dân Hoa Kỳ sẽ không chấp nhận bởi vì mối thù giữa Hà Nội và nhân dân Hoa Kỳ đang còn nóng hổi, Quốc Hội và dân chúng Hoa Kỳ muốn Hà Nội phải đầu hàng chứ dứt khoát không có chuyện Hà Nội tự nhiên trở thành đồng minh của Hoa Kỳ mà chẳng phải trả giá cho tội lỗi của họ.
Vậy thì tại sao Nixon không buộc Hà Nội phải đầu hàng đúng theo ước vọng của dân chúng Hoa Kỳ ? Câu trả lời là Trung cộng và Liên Sô sẽ không chấp nhận. Họ đã thỏa thuận trói tay Hà Nội để Hà Nội ngưng theo đuổi chiến tranh chứ không phải để cho Hoa Kỳ tha hồ đánh Bắc Việt đến nỗi phải đầu hàng. Thế giới sẽ nguyền rủa hai đàn anh đểu cáng.
Nếu Hà Nội đầu hàng vì trận dội bom 12 ngày đêm thì đương nhiên Liên Sô và Trung cộng sẽ công bố cho thế giới biết rằng trong năm 1972 đích thân Nixon đến Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa để năn nỉ họ thôi viện trợ vũ khí cho Hà Nội để Hà Nội chấm dứt mộng theo đuổi chiến tranh, đem lại hòa bình cho nhân dân Việt Nam và cho toàn thế giới chứ họ không ngờ là Hoa Kỳ đã lợi dụng việc này để tấn công buộc Hà Nội phải đầu hàng.
Hậu quả chắc chắn sẽ kéo theo sự căng thẳng trở lại giữa Hoa Kỳ và thế giới cọng sản. Và dư luận thế giới sẽ coi Hoa Kỳ như là một kẻ tráo trở vô liêm sỉ, bởi vì rõ ràng là Hoa Kỳ đã bị cộng sản Việt Nam đánh bại nhưng lại năn nỉ Liên Sô và Trung cộng trói tay Hà Nội để Hoa Kỳ tiếp tục hạ gục Hà Nội.
Vì vậy mà Nixon đã không kịp trở tay khi nghe Hà Nội đề nghị hồi chánh, ông chỉ còn có nước bí mật giúp đỡ Hà Nội dưới hình thức viện trợ bồi thường chiến tranh. Sau đó là hiệp thương trao đổi hàng hóa giữa hai miền Nam Bắc (theo Hiệp Định Genève và Hiệp Định Paris). Cuối cùng là tổng tuyển cử lựa chọn chế độ (Cũng theo Hiệp Định Genève và Hiệp Định Paris). Dự trù đến lúc tổng tuyển cử thì Hà Nội sẽ sắp xếp cho dân miền Bắc bỏ phiếu quyết định theo chế độ tự do. Lúc đó Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa sẽ không nói gì được. Và nhân dân Hoa Kỳ không thể nào từ chối.
*(Ghi chú: Thực ra bức mật thư đã được Hà Nội tiết lộ dần dần cho các dân biểu nghị sĩ Hoa Kỳ từ năm 1975 nhưng những người này đã nhém đi vì không muốn chung tiền cho Hà Nội. Họ viện lý do Hà Nội đã không thi hành nghiêm chỉnh Hiệp Định Paris:
Tháng 12 năm 1975 phái đoàn của Hoa Kỳ do Dân Biểu Montgomery dẫn đầu đến Hà Nội đã được xem.
Ngày 15.1.1976 phái đoàn do Thượng Nghị Sĩ McGovern dẫn đầu đến Hà Nội đã được xem.
Ngày 14.4.1976, báo Nhân Dân của Hà Nội đăng một phần Mật ước với lời công kích chính phủ Mỹ (Đăng 3 điều đầu, giấu 4 điều sau).
Ngày 3.5.1977, Phái đoàn đàm phán bình thường hóa quan hệ giữa cộng sản Việt Nam và Hoa Kỳ tại Paris do Holbrooks dẫn đầu đã được thứ trưởng ngoại giao cộng sản Việt Nam Phan Hiền cho xem.
Ngày 6.5.1977, báo Nhân Dân của Hà Nội cho đăng một phần Mật ước và một phần Công hàm đáp nhận của Phạm văn Đồng cùng với lời chỉ trích chính phủ Mỹ “chà đạp luật pháp quốc tế”. Dân Biểu Hoa Kỳ Lester L.Wolff đòi đưa Nixon ra tòa nếu Nixon không đưa ra bản Mật ước.
Ngày 14.5.1977 Nixon viết thư trả lời Wolff rằng chẳng có cam kết viện trợ nào cả.
Ngày 19.5.1977, trước sức ép của Wolff, chính phủ Carter loan báo ngày 1.2.1973 Nixon có ký một Mật ước với Hà Nội với con số 4,75 tỷ USD (nghĩa là cho lộ luôn 4 điều sau mà Hà Nội đã giấu).
Ngày 21.5.1977 bộ ngoại giao Hà Nội cho công bố toàn văn Mật ước của Nixon và công hàm đáp nhận của Phạm văn Đồng).
…oOo…
ĐẰNG SAU HIỆP ĐỊNH PARIS, MẬT ƯỚC NIXON & NGUYỄN VĂN THIỆU
Năm 1973, ngày 8.1, sau trận dội bom Mùa Giáng Sinh, Hòa đàm Paris được nối lại, mở đầu phiên họp là bài diễn văn của Lê đức Thọ, ông ta công kích Hoa Kỳ lật lọng leo thang chiến tranh. Kissinger không còn vui vẻ hoạt bát như các cuộc họp trước. Buổi chiều hai bên tiếp tục soạn thảo những chi tiết của văn bản hiệp ước mà trước đây đã bị bỏ dở.
Ngày 9, 10, 11 và 12.1, hai bên hoàn thành văn bản của hiệp ước bằng tiếng Anh lẫn tiếng Việt. Buổi chiều Kissinger và Sullivan họp với đoàn đàm phán Việt Nam Cộng Hòa để thông báo nội dung toàn bộ văn bản Hiệp Định. Vấn đề còn lại là Tổng Thống Thiệu có chấp thuận hay không.
* Chú giải: Đoạn tường thuật trên đây được ghi lại trong biên bản của bộ ngoại giao Hà Nội, do Lưu văn Lợi công bố năm 1998. Đọc qua đoạn biên bản này không ai có thể ngờ rằng đây là một cuộc họp sau cuộc dội bom Hà Nội 12 ngày đêm của Hoa Kỳ.
Hẳn nhiên là phải có nhiều biến cố và nhiều thượng lượng đã xảy ra sau khi cuộc dội bom vừa chấm dứt. Thế nhưng biên bản buổi họp được ghi lại như không hề có gì xảy ra. Chứng tỏ Lưu văn Lợi đã buộc phải giấu kín những trao đổi đã xảy ra giữa Kissinger và Lê đức Thọ trước khi hai ông bước vào phiên họp ngày 8.1.1975, tức là từ ngày ngưng ném bom 29.12.1972.
Những giấu kín đó đã làm tốn rất nhiều giấy mực của những nhà nghiên cứu thời cuộc, người ta cho rằng Hà Nội đã chịu đầu hàng trước khi cuộc dội bom chấm dứt. Điều này sẽ được đưa ra ánh sáng 5 năm sau cái chết của Kissinger.
Năm 1973, ngày 14.1, Tướng Alexander Haig đến Sài Gòn với tối hậu thư của Nixon cam kết ”Chúng tôi sẽ không nhìn nhận quyền có mặt của quân đội ngoại quốc nào trên mãnh đất miền Nam. Chúng tôi sẽ phản ứng mãnh liệt trong trường hợp Hiệp Định bị vi phạm…”, “…Tôi quyết định sẽ tiếp tục viện trợ đầy đủ kinh tế và quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa”. Tối hôm đó họp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, Tổng Thống Thiệu trình bày nội dung tối hậu thư của Nixon. Đa số mọi người đồng ý nên ký vào vì đã có cam kết Mỹ sẽ tham chiến trở lại để đổi lại việc quân Bắc Việt có thể vi phạm hiệp ước.
Ngày 17.1, Tổng Thống Thiệu gửi thư phúc đáp cho Tổng Thống Nixon trong một phong bì dán kín và nhờ Haig chuyển về cho Nixon khi đến Hoa Kỳ. Nhưng Haig về đến Tòa Đại Sứ thì xé phong bì để chuyển bằng diện tín về Washington. Trong thư Thiệu cho biết cần một cam kết rõ ràng hơn nhằm bảo đảm cho việc ông ta chấp nhận quân Bắc Việt ở lại miền Nam (Hồi ký của Alexander Haig).
Ngay đêm đó, trong lúc Haig còn ở tại Sài Gòn, Đại Sứ Bunker chuyển đến Tổng Thống Thiệu một điện văn của Nixon, cho biết sau ngày ký hiệp ước, dự trù vào ngày 27.1, Phó Tổng Thống Agnew sẽ đến Sài Gòn với một bản mật ước của Tổng Thống Nixon, trong đó nêu rõ ba vấn đề:
1.- Hoa Kỳ công nhận chính phủ của ngài là chính phủ duy nhất hợp pháp ở miền Nam Việt Nam.
2.- Hoa Kỳ không công nhận quyền có mặt của quân ngoại quốc trên lãnh thổ của miền Nam.
3.- Hoa Kỳ sẽ phản ứng mãnh liệt nếu bản Hiệp Định bị vi phạm. Ngoài ra: ”Tôi muốn được hội kiến riêng với ngài ba hay bốn tuần sau ở tại San Clements, California để chúng ta có dịp công khai nhắc lại mối hợp tác giữa hai nước, và sự cam kết của Hoa Kỳ” (Nguyễn Tiến Hưng, Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập).
Trên nguyên tắc, đây cũng là điều kiện để hình thành Hiệp Định, nếu không có điện thư cam kết đó thì Tổng Thống Thiệu đã không ký vào Hiệp Định. Nguyên bản bức điện văn được Nguyễn Tiến Hưng đưa lên sách The Palace File, bản tiếng Việt trang 663. Vì vậy sau này cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã hết lời nguyền rủa Hoa Kỳ bội ước.
Không phải Tổng Thống Nixon chủ tâm lừa đảo, sở dĩ ông mạnh dạn viết bức điện cam kết đó là vì Hà Nội đã đầu hàng. Không thể nào có chuyện Hà Nội gây chiến trở lại, họ không còn súng đạn, không còn gạo, và đang cần tiền viện trợ tái thiết của Hoa Kỳ (Tiến bồi thường chiến tranh). Không ngờ là sau này tình thế đã biến chuyển khác hẳn với những toan tính của Nixon và Kissinger.
Năm 1973, ngày 16.1. Tài liệu của CIA: ”Ngày 16/1 Haig đến Sài Gòn với một thư tay khác của Nixon gởi cho Tổng Thống Thiệu rằng nếu vẫn không ký ông sẽ công khai tố cáo trước dư luận thế giới Thiệu ngăn cản hòa bình. Thiệu vẫn hoãn binh và cho biết sẽ trả lời Nixon vào ngày hôm sau.
Hôm sau, 15 phút sau khi máy bay Haig rời Tân Sơn Nhất, Thiệu triệu tập Hội Đồng An Ninh thu hẹp, đọc tối hậu thư của Nixon cho Hội Đồng nghe. Sau đó Hội Đồng bàn về cung cách thi hành hiệp định. Việc ký kết đến đây xem như đương nhiên. CIA báo cáo rằng “trong thâm tâm Thiệu biết trước sau cũng phải ký theo ý Hoa Kỳ, nhưng ông đã làm những gì cần thiết có lợi cho sự tồn tại của Nam Việt Nam.”
Sáng ngày 20/1 Thiệu triệu tập Hội Đồng An Ninh Quốc Gia thông báo quyết định ký. Phó Tổng Thống Trần Văn Hương khóc nói rằng Nam Việt Nam đang ở trên một chiếc gậy, chạy hướng nào cũng không tránh được tai họa, và ký Hiệp Định thì tai họa nhỏ hơn. Sau khi Hương dứt lời, Thiệu nói đồng ý với sự miêu tả của Hương (CIA and The Generals, bản dịch của Trần Bình Nam).
Theo như đoạn tài liệu này của CIA thì Haig đến Sài Gòn ngày 14 rồi trở lại Hoa Kỳ, sau đó ngày 16 mới trở lại với thư cam kết của Tổng Thống Nixon. Nhưng thực ra theo hồi ký của Haig thì thay vì đem thư của Thiệu về Hoa Kỳ thì ông và Bunker đã mở thư (do lệnh của Nixon) và chuyển bằng điện về cho Nixon. Rồi Nixon gởi lại thư cam kết bằng điện cho Bunker để Bunker chuyển cho Thiệu.
Tài liệu của CIA ngày đó có hơi khác so với hồi ký của Tướng Haig, sự thực là Haig đã mở thư tại Sài Gòn và nhận điện thư của Nixon rồi đem đến cho Thiệu chứ không có về Hoa Kỳ. Haig và Bunker không cần phải cho CIA biết chuyện này. Do đó đoạn tài liệu này của CIA chỉ là nhờ thâu thập qua thông tin của Trần Thiện Khiêm, nhưng Khiêm không hề biết là Haig không có về Hoa Kỳ.
Đây mới chỉ là bức điện thư báo trước, coi như bản nháp của mật ước, còn mật ước có chữ ký của Nixon sẽ được Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Agnew đem đến Sài Gòn sau khi Hiệp Định ngưng bắn được ký kết.
Ký kết hòa ước
Năm 1973, ngày 23.1, lúc 10 giờ 45 sáng, bản Hiệp Định Paris 1973 được Kissigner và Lê đức Thọ ký tắt. Sau khi ký xong hai ông trao đổi cho nhau cây viết để làm kỷ niệm.
Năm 1973, ngày 27.1, buổi sáng, 4 bên tham chiến cùng ký kết Hiệp Định có liên quan đến 4 bên, gồm có Ngoại Trưởng Hoa Kỳ William Rogers, Ngoại Trưởng Hà Nội Nguyễn Duy Trinh, Ngoại Trưởng Việt Nam Cộng Hòa Trần Văn Lắm, và Đại diện mặt trận giải phóng miền Nam Nguyễn Thị Bình. Buổi chiều Hoa Kỳ và Hà Nội ký vào văn kiện thứ hai có liên quan tới sự kết ước giữa hai bên.
* Chú giải:
Dư luận Hoa Kỳ đối với Nixon: Báo Washington Post: ”Chúng ta biết ơn Nixon vì ông đã thực hiện lời hứa chấm dứt chiến tranh trong vòng 4 năm”.
Báo Boston Herald Traveler: “Nó tốt hơn nhiều so với một cuộc đầu hàng hèn nhát mà một số người Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận”.
Báo Walstreet Journal: ”Ông đã rút 550 ngàn quân ra khỏi Việt Nam và đem được tù binh trở về mà không mất chế độ Sài Gòn…Kẻ địch đã hiểu rằng xương sống của người ngồi trong Tòa Bạch Ốc được làm bằng thép…”
Báo Cleverlnad Plain Dealer: “Ván bài quốc tế của ông đã có kết quả trước mọi thứ áp lực ở trong cũng như ngoài nước. Đây là giờ phút oanh liệt nhất của vị Tổng Thống thứ 37 của chúng ta”.
Theo ghi chép của Hadleman thì sau khi xem các bài báo đó, Nixon có nhận xét rằng chưa có ai nói đúng về ông ta, đó là ”có bản lĩnh và kiên trì”.
Bí mật đằng sau Hiệp Định:
Hiệp Định gồm có 9 khoản, trong 9 khoản có 23 điều. Nội dung của 9 khoản, 23 điều cho thấy trong 4 năm đàm phán hai bên chỉ thương lượng với nhau về 3 mục là
(1) Mỹ rút quân
(2) Hà Nội trả tù binh
(3) Mỹ bồi thường chiến tranh.
Tuy nhiên chuyện Mỹ rút quân là do Nixon tự quyết định rút quân về để thay thế bằng quân Việt Nam Cộng Hòa chứ không phải là do kết quả điều đình. Như vậy chỉ còn 2 vấn đề mà người ta phải hẹn nhau đến Paris để thương lượng trong 4 năm là Hà Nội trả tù binh và đòi bồi thường chiến tranh.
Nhưng vấn đề trao trả tù binh Hoa Kỳ và tiền bồi thường chiến tranh chỉ được đưa ra sau khi cả Trung cộng và Liên Sô đều thông báo cho Hà Nội là họ muốn Hà Nội chấm dứt chiến tranh. Lúc đó Lê Duẩn có muốn đánh tiếp cũng không có gạo, không có đạn để đánh. Do đó chỉ cần 2 cuộc họp cách nhau 2 tháng thì Hà Nội đã đưa ra toàn bộ các điều kiện của họ: Tức là thả tù binh Hoa Kỳ vô điều kiện, không đòi thay thế chế độ Thiệu, không đòi thả 38 ngàn tù chính trị cọng sản miền Nam, không buộc Hoa Kỳ phải ghi điều khoản bồi thường chiến tranh vào trong Hiệp định đình chiến v.v…Dĩ nhiên là Nixon nợ Liên Sô và Trung cộngvề sự nhượng bộ này.
Nội dung 9 khoản ghi trong Hiệp Định cho thấy không cần phải tốn tới 4 năm mới có được văn bản của hiệp định:
Khoản 1: Các quyền cơ bản của dân tộc Việt Nam. Dĩ nhiên Kissinger và Lê đức Thọ không phải thương lượng với nhau về chương này, chỉ cần sao lại chương 1 của Hiệp Định Genève).
Khoản 2: Chấm dứt chiến sự, rút quân. Chương này dành cho chuyên viên kỹ thuật, ấn định ngày giờ ngưng bắn, thời hạn rút quân, dĩ nhiên hai ông cũng không thương lượng với nhau về mục này.
Khoản 3: Việc trao trả nhân viên quân sự bị bắt. Đây mới là mục chính yếu để thương lượng nhưng tránh không nói tới chữ “trao trả tù binh” mà nói là trao trả nhân viên quân sự bị bắt.
Khoản 4: Việc thực hiện quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam (Dĩ nhiên vấn đề này cũng không cần thương lượng, chỉ cần sao lại Hiệp Định Genève).
Khoản 5: Vấn đề thống nhất Việt Nam. Không cần thương lượng, chỉ cần nói rằng theo như Hiệp Định Genève 1954 là xong.
Khoản 6: Ủy ban kiểm soát đình chiến. Cũng không cần thương lượng, việc này cũng chỉ giao cho các chuyên viên quân sự.
Khoản 7: Đối với Cam Bốt và Lào. Cũng ghi theo như Hiệp Định Genève là xong.
Khoản 8: Quan hệ giữa Hoa Kỳ và cộng sản Bắc Việt.Đây mới là vấn đề chính, nghĩa là ai phải chung cho ai và chung bao nhiêu.
Khoản 9: Các quy định khác: Hiệp định có hiệu lực sau khi ký./.
Vậy thì chỉ cần xem lại khoản 3 và khoản 8 có 3 điều chính yếu:
- Điều 5 (Thuộc khoản 3): Trong thời hạn 60 ngày kể từ khi ký hiệp định này sẽ hoàn toàn rút ra khỏi miền Nam Việt Nam mọi quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự liên quan đến chương trình vũ khí, đạn dược và các dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và các nước ngoài khác…
- Điều 8 (Thuộc khoản 3): Việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành không chậm hơn ngày hoàn thành việc rút quân nói trong điều 5.
- Điều 21(Thuộc khoản 8): Hoa Kỳ mong rằng Hiệp Định này sẽ mang lại một thời kỳ hòa giải với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cũng như với các dân tộc Đông Dương. Theo chính sách truyền thống của mình, Hoa Kỳ sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công việc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và toàn Đông Dương.
Tóm tắt 9 khoản, 23 điều của Hiệp Định thì người ta thấy ngay sự phi lý: Ngưng bắn da beo, chính phủ Nguyễn Văn Thiệu vẫn còn tồn tại, 38.000 cán bộ dân sự cộng sản miền Nam vẫn bị giam trong các trại tù. Trong khi đó tù binh cộng sản Bắc Việt, tù binh Việt Nam Cộng Hòa và tù binh Hoa Kỳ được thả, Hoa Kỳ không phải trả tiền bồi thường chiến tranh nhưng: ”Hoa Kỳ sẽ đóng góp vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh và tái thiết sau chiến tranh”. Như vậy công lao chiến đấu của cộng sản Việt Nam từ 1959 tới 1973 coi như bỏ đi, họ không được một tí lợi nào cả ?
Nếu Hà Nội sáng suốt thì bắt phải ghi rõ con số 3,25 tỷ vào điều khoản 21 và ấn định lịch trình trao đổi, hễ đưa bao nhiêu thì thả bấy nhiêu, đưa tới đồng Dollar cuối cùng thì thả người cuối cùng. Dĩ nhiên một khi đã ghi con số và lịch trình trao đổi thì đến khi Quốc Hội Hoa Kỳ biểu quyết thông qua Hiệp Định sẽ phải ký thêm một đạo luật chuẩn chi ngân sách đính kèm. Phải chăng Lê đức Thọ đã bị lừa ?
Vì không tin là Lê đức Thọ bị lừa cho nên những nhà quan sát thời cuộc thừa hiểu rằng đằng sau Hiệp Định phải có một mật ước riêng giữa hai bên, trong đó sẽ quy định rõ con số bồi thường chiến tranh cũng như thể thức thanh toán.
Còn về phần Quốc Hội Hoa Kỳ thì họ không có lý do gì để từ chối một hiệp định công khai, hoàn toàn có lợi cho Hoa Kỳ, nghĩa là chấm dứt chiến tranh, đem được tù binh trở về mà không tốn một đồng nào cả