Wednesday, July 10, 2019

Trò chuyện giữa một cựu mật vụ Hoa Kỳ với tác giả cuốn sách đưa ra sự thật về Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
Tác giảTom Glenn / George J. Veith
Trịnh Bình An
 chuyển ngữ
NguồnViễn ĐôngNgày đăng: 2019-07-10
Lời giới thiệu:

Tháng Tư 1975, khi ông Tom Glenn một cựu nhân viên mật vụ rời khỏi Việt Nam thì ông George J. Veith chỉ mới tốt nghiệp trung học Hoa Kỳ. Khi George "Jay" Veith rời quân ngũ với cấp bậc Đại Úy binh chủng Thiết Giáp đóng quân tại Đức thì ông Tom Glenn dành nhiều thì giờ với những bệnh nhân AIDS vì đó là cách giúp ông quên đi những ám ảnh đớn đau từ Việt Nam. Một người già, một người trẻ, cách nhau cả một thế hệ nhưng cả hai có cùng một điểm chung: Việt Nam.
Đối với Tom đó là mảnh đất ông đã để lại một phần thân thể - tai ông bị điếc vì tiếng bom nổ. Đối với Jay đó là mảnh đất chưa bao giờ đặt chân tới nhưng chất chứa quá nhiều thứ bị che giấu. Sau nhiều năm ròng rã tìm hiểu, Jay đã khám phá ra nhiều điều đáng kinh ngạc. Những sự thật lịch sử trong 2 năm cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa được ông trưng ra trong tác phẩm dày trên 600 trang: Black April: The Fall of South Vietnam, 1973-1975 – Tháng Tư Đen: Những Ngày Tháng Cuối Cùng Của Miền Nam Việt Nam, 1973-1975.
Dưới đây là cuộc phỏng vấn tác giả "Black April" - George J. Veith được thực hiện bởi tác giả "Last of The Annamese" - Tom Glenn, Trịnh Bình An lược dịch.
***
George J. Veith, tác giả hai cuốn sách trước đây về Việt Nam, đã hai lần ra điều trần trước Quốc Hội về vấn đề Tù Binh/Quân Nhân Mất Tích.
Ông George J. Veith
Tom Glenn: Anh đã có 3 cuốn sách viết về [chiến tranh] Việt Nam, thế nhưng anh lại lớn lên khi cuộc chiến đã tàn. Lý do gì anh đam mê đề tài này đến thế?
Jay Veith: Ngay khi tôi chỉ mới là đứa trẻ, tôi đã rất thích thú với hai điều trong lịch sử: những biến cố quân sự và những bí ẩn lịch sử. Do đó, tôi bị thu hút bởi vấn đề Tù Binh/Quân Nhân Mất Tích, một vấn đề đáp ứng cả hai sở thích của tôi từ lúc nhỏ. Khoảng 20 năm trước, một người bạn biết đến khả năng biên khảo của tôi đã nhờ tôi giúp ông truy tìm một số tài liệu trong căn cứ quân sự Carlisle Barracks tại tiểu bang Pennsylvania. Trong khi lục lạo các hồ sơ trong "Vietnam Room," tôi phát giác ra các bản sao những báo cáo gốc của cơ quan Joint Personnel Recovery Center, một đơn vị được thành lập tại Việt Nam có nhiệm vụ tìm kiếm và giải cứu tù binh Hoa Kỳ. Vậy mà hầu như chưa có tài liệu nào được công bố về đơn vị này, theo như tôi được biết. Và vì luôn bị thôi thúc phải viết, nên tôi đã nhận ra ngay là cuối cùng thì dịp may đã đến với tôi!
Tom Glenn: Những cuốn sách của anh được viết với cung cách của người có kinh nghiệm trực tiếp. Anh đã từng đến Việt Nam chưa? Anh có nói được tiếng Việt không?
Tác phẩm khác về Việt Nam của Jay Veith: Code-Name Bright Light: The Untold Story of U.S. POW Rescue Efforts during the Vietnam War – 1998.
Jay Veith: Tôi chưa bao giờ đến Việt Nam – mặc dù tôi luôn muốn đến thăm nơi ấy. Sau khi dành rất nhiều thì giờ nghiên cứu về chiến tranh [Việt Nam], tôi cảm thấy như đó là quê hương thứ hai của mình! Tôi không nói được tiếng Việt. Tuy nhiên, tôi có một người bạn tốt, ông Merle Pribbenow, là người đã dịch tất cả các tài liệu rất bao quát nầy. Ông Merle từng phục vụ tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn từ tháng Tư, 1970 cho đến ngày 29 Tháng Tư, 1975. Thật may mắn cho tôi vì Merle, cũng như tôi, có một mối quan tâm sâu sắc, trong việc đưa ra ánh sáng những gì đã thực sự xảy ra trong cuộc chiến. Đối với ông ấy, cũng giống như đối với ông, đó là chuyện cá nhân. Còn đối với tôi, đó là chỉ là một bí ẩn lịch sử lớn khác cần được điều tra.
Tom Glenn: Nếu anh không nói được tiếng Việt, vậy làm thế nào anh có thể phỏng vấn những người Việt đã trải qua cuộc biến động tại Việt Nam? Anh đã phỏng vấn bao nhiêu người Việt?
Leave No Man Behind: Bill Bell and the Search for American POW/MIAs from the Vietnam War – 2004 của của Jay Veith
Jay Veith: Phỏng vấn những người Việt Nam là một công việc đầy tế nhị, khác hẳn phỏng vấn những người Mỹ. Một khi đã xác định được một sĩ quan người Việt nào bạn muốn nói chuyện, cách tốt nhất là được sự giới thiệu chính thức từ một người hoặc là trong gia đình ruột thịt, hay thuộc "đại gia đình quân đội" (cùng khoá, cùng đơn vị, cùng binh chủng, v.v.) hoặc từ người đã từng là sếp trực tiếp hoặc từng có cấp bậc cao hơn. Nếu như họ đồng ý cho phỏng vấn, bạn phải đi theo trình tự: giải thích bạn là ai, bạn đang tìm kiếm thông tin gì, và bạn dự định làm gì với thông tin đó. Thường thì tôi bắt đầu bằng cách hỏi họ sinh ra ở đâu, họ vào quân đội như thế nào, v.v.. Sau khi chúng tôi cảm thấy khá thoải mái với nhau, và cũng còn tùy thuộc vào tính khí và khả năng nói tiếng Anh của người ấy, chúng tôi mới có thể đi vào các khía cạnh cụ thể của một trận chiến.
Nếu người được phỏng vấn có trở ngại về tiếng Anh, tôi sẽ yêu cầu họ viết những trải nghiệm của họ bằng tiếng Việt và sau đó tôi nhờ người dịch lại. Cách làm này đạt kết quả rất tốt. Tôi đã phỏng vấn khá nhiều, có lẽ khoảng 45 sĩ quan, từ Đại Tướng Cao Văn Viên – vị Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội miền Nam Việt Nam, xuống đến các tiểu đoàn trưởng. Nhiều người rất cởi mở, họ không chỉ ngạc nhiên khi thấy một người Mỹ quan tâm đến câu chuyện của họ mà còn vui mừng khi tôi muốn tìm hiểu về kinh nghiệm chiến tranh của họ. Tuy nhiên cũng có một số người rất đắn đo trong lời nói. Một số khác thì không thể thuật lại một cách chi tiết vì bị bệnh tật hoặc tinh thần chưa ổn định, hậu quả của nhiều năm tù đày. Còn một số ít, phần nhiều là các sĩ quan cao cấp, đã từ chối nói chuyện.
Ông Tom Glenn
Đối với tất cả những sĩ quan tôi có dịp tiếp xúc, cuộc phỏng vấn bắt họ phải trải qua những thời khắc vô cùng đau đớn. Tôi không thể nào thể hiện đầy đủ lòng biết ơn với những người ấy. Thật không dễ dàng [khi phải] chứng kiến những người đàn ông luống tuổi - những người từng dạn dày trong chiến đấu, từng khổ nhọc trong tù đày - đã bật khóc khi nói đến sự mất mát đồng đội hoặc sự kết thúc chiến tranh.
Tom Glenn: Tôi được biết có hai sĩ quan QLVNCH đã tự sát khi Miền Nam thất thủ. Trường hợp tuẫn tiết như thế có nhiều không?
Jay Veith: Tôi lại biết có tới năm vị tướng đã tự sát. Rất nhiều sĩ quan cấp thấp hơn cũng đã tuẫn tiết.
Một câu chuyện không được ghi lại trong sách (Black April) nhưng luôn ám ảnh tôi. Tôi đang phỏng vấn một tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn Nhảy Dù, lúc ấy là khoảng 1 giờ sáng, và chúng tôi đang ngồi trên bậc thềm trước nhà anh ta. Chúng tôi gần xong câu chuyện thì anh chợt bắt đầu kể về ngày cuối cùng [của cuộc chiến]. Anh cho biết vào đêm 29 tháng Tư, vị lữ đoàn trưởng của anh đã ra lệnh cho đơn vị anh phải yểm trợ để bảo vệ căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt. Vi lữ đoàn trưởng đã năn nỉ anh đừng bỏ rơi ông ấy. Vì vậy, khi anh tiểu đoàn trưởng này bắt đầu rời khỏi căn cứ để đảm nhiệm việc phòng thủ bên ngoài vành đai, anh đã hết sức phân vân giữa hai lựa chọn: Hoặc khi ra khỏi cổng căn cứ thì rẽ phải để đi đến các vị trí được chỉ định. Hoặc rẽ trái và đi về phía bến cảng, tại đó anh hy vọng gặp được một tàu Hải Quân đang thoát chạy ra khơi. Và người sĩ quan ấy đã chọn… rẽ phải, chọn ở lại với nhiệm vụ được giao phó.
Cuối ngày hôm sau, sau khi nghe lệnh đầu hàng, anh nhận được tin qua máy truyền tin từ một đồng đội cho biết họ đang rút lui đến một tòa nhà trong căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt. Do dự vài phút, nhưng rồi anh cũng lái xe jeep đến nơi tập họp. Nhưng đúng lúc anh vừa tới nơi thì nghe thấy một tiếng nổ khủng khiếp làm rung chuyển cả tòa nhà. Rất nhiều đồng đội của anh đã tự sát trong đó. Anh chấm dứt câu chuyện, mắt anh đẫm lệ. Còn tôi, lặng im mà xúc động đến run cả người.
Tiểu thuyết về Việt Nam của ông Tom Glenn
Nghe xong câu chuyện ấy chúng ta còn điều gì để nói nữa? Và điều tệ nhất ở đây là, do hậu quả của việc rẽ phải thay vì rẽ trái - để làm tròn nhiệm vụ và không bỏ rơi những người lính cũng như người chỉ huy - người sĩ quan ấy đã phải ngồi tù 10 năm!
Tom Glenn: "Tháng Tư Đen" đưa ra những câu trả lời thỏa đáng cho rất nhiều câu hỏi của tôi về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam. Vậy, còn có những câu hỏi nào anh cảm thấy vẫn cần có câu trả lời?
Jay Veith: Câu hỏi chính sẽ xoay quanh những gì Bộ Chính Trị [Bắc Việt] đã thực sự toan tính ngay trước và ngay sau khi ký kết Hiệp Định Hòa Bình Paris. Vẫn còn một lỗ hổng khá lớn trong sách vở Việt Nam về khoảng thời gian này. Đối với số câu hỏi khác, ông sẽ phải đợi cho đến khi tập thứ hai của tôi ra đời! Cuốn sách này sẽ đề cập đến các mưu đồ chính trị và ngoại giao.
Tom Glenn: Vì lý do nghề nghiệp, tôi chú ý tới vai trò của sự lừa bịp về mặt tình báo truyền tin và truyền thông trong trận chiến cuối cùng. Theo anh, tầm quan trọng của mỗi yếu tố như thế nào?
Jay Veith: Chiến lược của Cộng Sản cho mỗi chiến dịch bao gồm các kế hoạch lừa dối công phu. Hầu hết các kế hoạch này là nhằm đánh lừa tình báo truyền tin của Mỹ và QLVNCH mà trong chiến tranh có lẽ là nguồn tin tình báo tốt nhất của chúng ta. Tuy nhiên, có những ý kiến khác nhau về việc Cộng Sản có thành công hay không. Tại Ban Mê Thuột, chắc hẳn nó đã đóng một vai trò quan trọng, ít ra trong việc khiến cho Thiếu Tướng Phạm Văn Phú tin rằng quân đội Bắc Việt sẽ tấn công vào Pleiku chứ không phải vào Ban Mê Thuột. Với Quân Đoàn I, tôi nghĩ đó là một thất bại hoàn toàn. Câu hỏi lớn hơn, hy vọng một ngày nào đó Cơ Quan An Ninh Quốc Gia (National Security Agency - NSA) sẽ trả lời, là họ và tình báo tuyền tin của miền Nam thực sự đã biết tới mức nào. Tôi cho rằng điều đó phù hợp với câu hỏi của ông về những gì vẫn còn cần câu trả lời.
Tom Glenn: Trong số rất nhiều câu chuyện buồn về những người phải cam chịu thất bại, câu chuyện nào khiến anh xúc động nhất?
Jay Veith: Những chuyện xúc động thì quá nhiều. Câu chuyện người sĩ quan mà tôi vừa kể là buồn nhất. Sau đó, anh ấy nói với tôi là khi còn ở trong trại tù Cộng sản, anh đã phải ăn gián để sống. Một nguồn protein tốt, anh còn nói thế. Tôi hỏi anh đã ăn bao nhiêu con gián? Chắc cỡ 10 ngàn con, anh trả lời. Hãy thử tưởng tượng mình phải bỏ con gián vào miệng! Tôi còn nhớ tới một vị chỉ huy tiểu đoàn khác, lần này là một sĩ quan Biệt Động Quân, anh nói với tôi rằng cha mẹ anh đã phải trông chừng anh liên tục từ ngày có lệnh đầu hàng cho đến khi anh phải trình diện đi tù. Họ sợ anh sẽ tự tử vì quá tuyệt vọng.
Tom Glenn: Tôi thấy nhiều điểm tương đồng giữa Việt Nam và Iraq và đặc biệt là Afghanistan. Có đúng thế không?
Jay Veith: Không hẳn vậy. Kẻ thù hoàn toàn khác, trật tự chính trị thế giới đã được định hình lại hoàn toàn, và người ta không thấy thái độ chống chiến tranh gay gắt xảy ra trong chiến tranh [Iraq]. Nếu nhìn rộng hơn ra, tôi cho rằng người ta có thể rút ra sự tương đồng về một cuộc chiến bất khả chiến thắng, v.v., nhưng tôi không cho rằng các viễn kiến lịch sử là tương tự nhau.
Tom Glenn: Tháng Tư Đen là cuốn sách đầu tiên của một bộ hai tập. Vậy, chủ đề của cuốn sách thứ hai là gì? Bao giờ thì sách được xuất bản?
Jay Veith: Cuốn thứ hai sẽ đề cập tới các vấn đề chính trị, ngoại giao và kinh tế làm Nam Việt Nam sụp đổ. Cụ thể, sách sẽ thảo luận về các mưu mô ngoại giao trong những ngày cuối khi các quốc gia cố gắng dàn xếp một lệnh ngừng bắn. Ngoài ra, sách sẽ nói tới một câu chuyện có lẽ là bí mật lớn cuối cùng của Chiến Tranh Việt Nam. Còn khi nào nó sẽ được xuất bản thì xin để cho tôi thêm vài năm. Việc nghiên cứu coi như đã xong, tôi chỉ cần tìm thời gian để viết. (Ghi chú: Jay Veith quyết định nghỉ việc vào tháng Năm 2018 để dành toàn thời gian cho sách - TBA)
Tom Glenn: Trong tất cả các yếu tố dẫn đến sự sụp đổ của Nam Việt Nam, điều gì nghiêm trọng nhất? Chúng ta có thể tránh được điều ấy không?
Jay Veith: Đúng, chúng ta có thể tránh đươc. Nhưng nó đòi hỏi một nỗ lực bền bỉ về ý chí và sự tham gia của người Mỹ, là những yếu tố mà chúng ta sẽ rất khó khăn để duy trì.
Tom Glenn: Nếu tất cả hỏa lực, nhân lực và tài nguyên mà Hoa Kỳ mang đến không thể chiến thắng cuộc chiến chống lại Bắc Việt, tại sao chúng ta nghĩ rằng chỉ riêng Nam Việt Nam có thể làm nổi điều đó? Kế hoạch Việt Nam Hóa (đào tạo và trang bị cho Nam Việt Nam tiếp tục chiến đấu mà không có sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ trên chiến trường) có tác dụng gì không?
Jay Veith: "Việt Nam Hóa" đã có tác dụng. Tuy nhiên, không có tướng lãnh Hoa Kỳ hay Nam Việt Nam nào tin rằng đất nước này có thể đứng vững nếu không có đầy đủ sự yểm trợ của Không Quân Mỹ. Lý do đơn giản là vì địa hình Việt Nam, chứ không phải vì sự thiếu ý chí của Nam Việt Nam. Tôi sẽ trình bày chính xác hơn trong cuốn sách tiếp theo của tôi. Nhìn bên ngoài, tình hình tiếp tế của Bắc Quân có vẻ rất tốt. Nhưng có điều ít ai biết hay hiểu ra, đó không phải là do Trung Cộng và Nga Xô chi viện ào ạt mà là do Bắc Việt đã dốc tất cả kho vũ khí của họ ra. Nói một cách khác, họ đánh xả láng cú chót để giành chiến thắng. Thật không may, lần này họ đã đoán đúng. Tôi chỉ mới phát hiện ra điều này trong khi xem xét một số ấn phẩm mới của Cộng Sản. Cho ông biết trước một chút xíu thôi đấy nhé.
Tom Glenn: Một số người tin rằng nỗ lực chống cộng ở Việt Nam đã bất khả thi ngay từ đầu. Chiến thắng của Bắc Việt [có phải] là đương nhiên không?
Jay Veith: Không đúng. Nếu chúng ta quyết định cắt đường mòn Hồ Chí Minh bằng quân đội Hoa Kỳ, tôi tin rằng chúng ra đã có thể thắng cuộc chiến. Sau khi Hải Quân cắt đứt nguồn tiếp tế trên biển, và nếu chúng ta phong tỏa cảng Sihanoukville (Cambodia), thì "cách mạng" tại Nam Việt Nam không còn nguồn cung cấp nữa, do đó, về căn bản, sẽ thoái hóa thành một cuộc chiến tranh du kích lẻ tẻ, một cuộc chiến mà người miền Nam có thể cáng đáng được.
Tom Glenn: Vậy thì với những điều bây giờ chúng ta đã biết, liệu Hoa Kỳ khi đó có nên nhúng tay vào Việt Nam không? Một câu hỏi cực kỳ tế nhị cho anh trả lời đấy.
Jay Veith: Tôi sẽ phải tránh né câu hỏi nầy bằng cách yêu cầu ông suy nghĩ như sau. Một trăm năm nữa, khi các học giả viết lịch sử của nước Mỹ và thế giới trong thế kỷ 20, chẳng biết họ sẽ định nghĩa cuộc sống Mỹ vào thời kỳ này như thế nào? Họ sẽ nhập chung thời kỳ hậu Đệ Nhị Thế Chiến với một khoảng thời gian dài hơn sau đó, và mô tả thời kỳ đó là một cuộc chiến dài chống lại chủ nghĩa Cộng Sản chăng? Nếu vậy, ai đã thắng cuộc chiến đó? Nếu nhìn từ góc độ lịch sử lâu dài hơn, tôi nghĩ mọi người cuối cùng sẽ đánh giá Việt Nam một cách không thiên vị hơn.
*
Ghi chú về tác giả Tom Glenn:
Tiểu thuyết về Việt Nam của ông có tên "Last of the Annamese." Tác phẩm kể câu chuyện của một sĩ quan Quân Lực VNCH và người vợ tận tụy. Cả hai đã cùng tuẫn tiết tháng Tư 1975. Xoay quanh họ là hình ảnh đau thương của một Nam Việt Nam bị bức tử.

Thursday, June 27, 2019

MỸ RÚT KHỎI HIỆP ƯỚC AN NINH MỸ - NHỰT, TÀU CỘNG LẠNH SỐNG LƯNG, VIỆT CỘNG CÓ THẤY HỔ THẸN, CÓ TỘI VỚI NON SÔNG KHÔNG ?
Tác giảTrần HùngNguồnNgười Việt Giữ Nước ViệtNgày đăng: 2019-06-26
Hôm trước tui có nói vui chuyện "THIẾT BẢN ĐỒ VÀ QUÀ SANH NHỰT PUTIN TẶNG TẬP" xoay quanh câu chuyện "Con chim lông trắng" với kết luận 4 con chim lông đen ép chết con chim lông trắng là việc 4 khối cường quốc lần lượt là Mỹ, Liên Âu, Nhựt Bổn, Nga ép chết Tàu cộng. Nay có tin ông Trump muốn rút Mỹ ra khỏi HIỆP ƯỚC AN NINH MỸ - NHỰT vì ông cho rằng đây là một Hiệp ước "bất công". Bất công hay ủ mưu thì chúng ta cùng lan man thế sự để hình dung ra mục đích cuối cùng của những cái đầu vĩ đại là Donald Trump và Shinzo Abe.
Khi lãnh 2 trái bom hạch tâm của Mỹ, Đế quốc Nhựt Bổn đã đầu hàng và chấp nhận bị chiếm đóng, bị áp đặt bởi phe thắng cuộc. Phải đương đầu với những khó khăn to lớn đã và sẽ diễn ra trước mắt, Nhựt Bổn không còn con đường nào khác ngoài việc phải tìm cách dựa vào Mỹ, nước đồng minh thắng trận đang kiểm soát mình.
Việc Nhựt Bổn chọn kẻ thù Mỹ để làm chỗ dựa là một quyết định đúng đắn và sáng suốt bởi vì một sự thật hiển nhiên là sau Đệ nhị thế chiến, Mỹ đã trở thành một siêu cường về mọi mặt. Dựa vào Mỹ vì chỉ có Mỹ mới giúp Nhựt Bổn khắc phục những hậu quả do chiến tranh để lại và tập trung phát triển kinh tế. Hơn nữa, cả Mỹ và Nhựt đều phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa nên sẽ dễ dàng tìm ra những điểm tương đồng hơn là dựa vào Liên Sô, một nước mà từ lâu đã có nhiều mâu thuẫn với Nhựt Bổn và lại gặp nhiều khó khăn cho chiến tranh gây ra.
Đặc biệt, trong quá trình xâm lược của Nhựt Bổn trong Đệ nhị thế chiến đã gây ra rất nhiều "thâm cừu đại hận" mà sát nách là Sô cộng, Tàu cộng và Hàn cộng. Vì vậy nếu Nhựt Bổn không tranh thủ cái ô của Mỹ thì chắc chắn một điều nước Nhựt sẽ bị các thế lực này xua quân "phỏng..bi " như cộng sản Bắc Việt đã "giỏng phái" Miền Nam, liệu Tokyo có tránh khỏi số phận của Hòn ngọc Viễn đông Sài Gòn hay không? Chắc chắn sẽ tệ lậu hơn vạn lần bởi vì "khác máu tanh lòng, bởi vì thâm cừu đại hận".
Vì vậy ngay sau kết thúc Đệ nhị thế chiến, Thủ tướng Nhựt Bổn lúc bấy giờ là ông Shigeru Yoshida (nhiệm kì 1946 - 1954) đã đề ra một chánh sách mà sau này được gọi là "học thuyết Yoshida" nội dung của học thuyết này bao gồm ba vấn đề trong đó nội dung quyết định dựa vào Mỹ về mặt an ninh. Năm 1951, tại San Francisco của Mỹ, bản văn Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhựt đã được kí kết. Theo đó, Mỹ sẽ chịu trách nhiệm bảo đảm an ninh cho Nhựt Bổn, đổi lại Nhựt Bổn sẽ cung cấp một phần kinh phí tương đương 1% GDP của Nhựt.
Theo Hiệp ước trên thì Mỹ sẽ phải bảo vệ nước Nhựt khi bị tấn công còn ngược lại khi Mỹ bị tấn công thì Nhựt ngồi uống trà đào xem trò nóng ruột mà không giúp được gì cho Mỹ cả. Rõ ràng đây là một Hiệp ước vừa "bất công" cho Mỹ vừa gây tiếng xấu cho Mỹ bởi các thế lực thù địch của Mỹ mỉa mai rằng "Mỹ là gã bảo vệ cho Nhựt để ăn lương", bản thân người Nhựt sau này cũng không vui vẻ gì khi họ đã là một cường quốc nhưng về an ninh quốc gia thì vẫn là một cậu ấm được Mỹ ẵm bồng trên tay.
Sự mất cân bằng trên đã khiến liên minh quân sự Mỹ - Nhựt mang đậm chất phòng thủ, nó hoàn toàn vô dụng nếu có nguy chiến tranh toàn diện ở qui mô cao như cuộc Chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Liên Sô trước đây. Ngay như đến hôm nay, nước Nhựt không thiếu bất kỳ thứ gì ngoài 2 thứ là vũ khí hạch tâm và hỏa tiễn đạn đạo. Vì thiếu 2 món đồ chơi thời thượng này mà Nhựt Bổn luôn bị Bắc Hàn, Tàu cộng ức hiếp.
Sự ấm ức của Nhựt Bổn đã lên đỉnh điểm và được bộc lộ tại Hội nghị Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạch tâm tổ chức ngày 25/4/2013 tại Geneva, Thụy Sĩ với Tuyên bố chung có nội dung “nhấn mạnh tính phi nhân đạo của vũ khí hạch tâm, không sử dụng vũ khí hạch tâm trong bất cứ trường hợp nào”, nhưng Nhựt Bổn, quốc gia duy nhứt bị hại bởi vũ khí hạch tâm đã không kí vào Tuyên bố chung này. Lý giải cho việc không kí, đại diện Chánh phủ Nhựt là Đại sứ Mari Amano nói “Tuy bày tỏ tán thành với tính chất phi nhân đạo của việc sử dụng vũ khí hạch tâm, nhưng việc không sử dụng vũ khí hạch tâm trong bất cứ trường hợp nào không phù hợp với chánh sách bảo đảm an ninh của Nhựt Bổn".
Không có vũ khí hạch tâm và hỏa tiễn đạn đạo, nước Nhựt như con cừu non trước họng sói đói là Tàu cộng. Với tham vọng bá chủ thế giới, với bản chất trả thù "mười năm chưa muộn", với sự trỗi dậy mạnh mẽ của Tàu cộng thì sự bảo kê của Mỹ với chỉ 1% GDP của Nhựt sao có đủ khả năng kháng cự lại hỏa tiễn tầm xa mang vũ khí hạch tâm của Tàu cộng ?
Còn nhớ vào tháng 4/2013, tướng của Tàu cộng là La Viện đã nói về "sách trắng quốc phòng" mới của Tàu cộng với tờ Văn Hối xuất bản tại Hong Kong rằng "Tàu cộng không sử dụng vũ khí hạch tâm trước nhưng một khi an ninh, LỢI ÍCH CỐT LÕI của Tàu cộng bị uy hiếp thì vũ khí hạch tâm sẽ là một trong những lựa chọn của Tàu cộng". Với Tàu cộng thì chỗ đách nào nó cũng nói là LỢI ÍCH CỐT LÕI tuốt. Với Nhựt Bổn thì lợi ích đó là Senkaku, với rìa Tây Thái Bình Dương thì Đài Loan, Biển Đông,...
Hết lan man để quay về cốt lõi của vấn đề, nếu ta làm phép kết nối thì sẽ thấy tại sao ông Trump vừa tuyên bố xóa sổ cnxh quái thai nhưng lại liên tục công kích các đồng minh, đối tác truyền thống của Mỹ, liên tục hủy bỏ các Hiệp ước, Hiệp định thâm căn cố đế có từ lâu do các tiền nhiệm sáng lập, kí kết. Có phải ông Trump là người muốn đảo lộn trật tự thế giới không ? Câu trả lời của cá nhơn là "CÓ nhưng KHÔNG - KHÔNG nhưng CÓ", bởi vì:
Kẻ thù mà ông Trump đang đối mặt và đòi xóa sổ nó không phải là phát xít Đức, Hồng quân Liên Sô mà là Tàu cộng, anh cả của cnxh quái thai. Với bản chất tiểu nhơn, thâm độc và tàn ác của Tàu cộng thì một khi nó bị ông Trump đánh cho xiểng liểng, khả năng nó không chấp nhận đầu hàng mà sẽ cưa bom hạch tâm để chết chùm. Nhắm vào nước Mỹ thì Tàu cộng không đủ đẳng nhưng nhắm vào đồng minh của Mỹ quanh nó như Nhựt Bổn, Đài Loan, Nam Hàn và kể cả Việt Nam khi Việt cộng dám lật lọng nó ở Biển Đông thì rất khả dĩ.
Là người nhìn xa trông rộng, đọc trước suy nghĩ của kẻ tiểu nhơn, độc ác, ông Trump cùng với các đồng minh chiến lược như ông Shinzo Abe, bà Thái Anh Văn đã tính tới việc Tàu cộng bí túng làm liều là xách vũ khí hạch tâm ra nện vào họ. Vì vậy họ đã cùng nhau bàn thảo để đi những nước cờ độc đáo là "muốn buộc, phải tháo". Buộc là buộc cổ Tàu cộng, Tháo là tháo khỏi các Hiệp ước đã kí kết với Nga Sô, Liên Âu, Nhựt Bổn,... trước đây để sau đó buộc lại bằng cách "thả cho họ tự thân vận động", dĩ nhiên khi ông Trump rút khỏi Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhựt chẳng hạn thì nước Nhựt sẽ tự bảo vệ mình.
Với tiềm lực tài chánh và trí tuệ, người Nhựt sẽ không khó cho ra lò hàng đống hỏa tiễn tầm xa, hàng lố bom hạch tâm bởi vì thực ra những thứ này đang được Nhựt Bổn giấu kín trong kho từ lâu. Tuy nhiên vì cái Hiệp ước San Francisco 1951 kia đã không cho phép Nhựt Bổn chưng diện sang chảnh mà thôi.
Trông Nhựt Bổn mà xấu hổ cho Việt cộng, chúng nghe lời Sô cộng, Tàu cộng để "giải phóng" Miền Nam, "giải phóng" Cambodia để rồi… cương thổ, biển đảo của tổ tiên lại để cho Tàu cộng nó "giải phóng". Ngu đến mức cứ coi Mỹ, coi hậu duệ Việt Nam Cộng Hòa là thù địch, phản động để rồi mai đây khi Tàu cộng bị ông Trump đập cho bại xụi, muốn bám mông Tàu cộng hoặc lật lọng lại Tàu cộng đều đã muộn màng. Bởi theo Tàu cộng thì bị dân giết mà phản Tàu cộng thì bị nó giết cùng dân bởi nó điên lên nhấn nút vũ khí hạch tâm thì chữ S sẽ thành chữ SÁT./.
Tran Hung.

Wednesday, June 26, 2019

TRUNG CỌNG, SẼ LÀ CON CỜ THỨ 2 CỦA CỘNG ĐỒNG MỸ GỐC DO THÁI
Tác giảNhất Hướng Nguyễn Kim AnhNguồnTHNTNgày đăng: 2019-06-26


TT Donald Trump đánh giá cao sự hợp tác của Do Thái
1.- Cộng Đồng Giàu Nhất Thế giới
Cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái có khoảng từ 5,3 đến 8,4 triệu người gồm 3 nhóm, lớn nhất là nhóm Ashkenazi, chiếm đến 90% dân số cộng đồng, hai nhóm khác là Sephardic và Mizrahi.
Người Do Thái xem quan trọng 3 thứ : Do Thái Giáo (Judaism), trí thức và tài sản. Do Thái Giáo đã giúp cho người Do Thái bị phiêu bạt mấy ngàn năm mà không mất gốc. Trí thức giúp cho người Do Thái vươn lên đứng đầu mọi lãnh vực của nền văn minh nhân loại (30% giải Nobel được trao cho người Do Thái). Tài sản đã làm cho người Do Thái giàu có mà đặc biệt là cộng đồng Do Thái tại Mỹ đang quản lý một số tài sản có thể ngang với từ 15 % đến 20% tài sản của nhân loại. Người Do Thái rất đoàn kết, có tổ chức và không giữ bí mật để làm lợi riêng nên khi họ quây quần thành tập thể thì họ có cơ chiếm hết mọi quyền lợi chung quanh và trở thành mối họa cho những cộng đồng bản xứ nơi họ định cư.
Thế chiến thứ II, người Đức đã thấy được mối họa Do Thái nên đã diệt chủng hơn 2 triệu người Do Thái. Thảm cảnh Holocaust đã làm động tâm cả nhân loại nên các cường quốc mới dành một mảnh đất nhỏ bên bán đảo Sinai của Ai Cập để cho người Do Thái có chổ đi về, nước Israel.
Cộng đồng Do Thái ở Mỹ thoát được sự tàn phá của hai trận thế chiến và không bị họa Holocaust nên họ vươn lên giàu có rất nhanh và chiếm lấy nước Mỹ và dùng nước Mỹ như một con cờ điều khiển cả thế giới. ( Helen Thomas, một phóng viên nổi tiếng và là một thành viên của cơ quan báo chí Tòa Bạch Ốc hơn 50 năm, đã bị sa thải. Về sau, bà đã đọc một diễn văn tại một hội nghị ở Detroit trong đó bà trình bày quan điểm cho rằng “Quốc Hội, Tòa Bạch Ốc, Hollywood, và Wall Street đều bị Do Thái làm chủ. Dứt khoát là thế.” (Congress, the White House, Hollywood, and Wall Street are owned by Zionists. No question in my opinion.)
2.- Mục tiêu tối hậu : Tiền
Nhóm Sephardic là nhóm người Do Thái đầu tiên từ Tây Ban nha và Bồ Đào Nha di cư sang Mỹ, Đến năm 1749 đế quốc Anh làm luật cho ưu tiên người Do Thái di cư sang thuộc địa cùa Anh tại Hoa Kỳ. Năm 1880 Châu Âu đi vào khủng hoảng kinh tế nên cộng đồng Do Thái nói tiếng Yiddish thuộc nhóm Arkenazi ở các nước nghèo đói Trung Âu và Đông Âu tuôn sang Hoa Kỳ khoảng 2 triệu người. Họ làm đủ nghề thấp kém nhất để kiếm sống và nhanh chóng biến thành ông chủ trong mọi ngành. Nay điều hơi khó khăn là tìm cho ra một người Mỹ gốc Do Thái không phải là triệu phú, họ tập trung đông nhất ở mạn dưới Manhattan của New York, từ đó bàn tay Do Thái vươn ra quậy khắp thế giới với một mục đích tối hậu là để kiếm …. TIỀN.
Khi phân tích tình hình thế giới đi về đâu, cái gì đang xảy ra, cái g ì sẽ xảy ra mà muốn điều phân tìch ấy sâu sắc và chính xác thì chúng ta nên nhìn vào khối tài sản của cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái hướng vào đâu để đầu tư, như thế là nên nhìn cho ra địa điểm đầu tư, hướng giải quyết sản phẩm đầu tư hay nhìn vào hướng cung và hướng cầu có thề làm cho số tiền đầu tư ấy được sinh lợi thì mới biết được mục đích của các diễn biến trên trường quốc tế.
3.- Các địa điểm đầu tư trước đây.
Một số chuyên gia về đầu tư cho rằng có 3 yếu tố cần phải nghĩ đến khi bắt tay vào việc đầu tư :
Yếu tố thứ nhất : Địa điểm đầu tư (Location)
Yếu tố thứ hai : Cũng là địa điểm đầu tư Yếu tố thứ ba : và cũng là địa điểm đầu tư
Địa điểm đầu tư của tập đoàn tư bản Do Thái tại Hoa Kỳ lẽ dĩ nhiên là nước Hoa Kỳ, là một vùng an toàn nằm ngoài nhiều xung đột của thế giới, khi đầu tư thành công thì lợi nhuận làm cho số tài chánh ngày càng tăng thì phải nghĩ đến một địa điểm đầu tư khác nằm ngoài Hoa Kỳ, để cho số tài chánh thặng dư sinh thêm lợi nhuận.
Sau thế chiến thứ II địa điểm đầu tư ngoài nước Hoa Kỳ mà tập đoàn tư bản Mỹ gốc Do Thái chọn là 2 nước Đức và Nhật, bởi hai nước này là hai nước hoang tàn đổ nát, các cơ sở sản xuất vẫn có mà công nhân thì đang chết đói đang cần những bị bạc của những nhà tư bản Do Thái vực dậy để sản xuất ra những sản phẩm rẽ mạt bán khắp năm châu.
Sau hơn 20 năm thâu lợi nhuận hã hê, một người Nhật hay người Đức làm ra một đồng thì phải chia cho người Do thái ở Mỹ một ít, tập đoàn tư bản Do Thái rút tiền đầu tư từ hai nước này về vì họ nhìn ra một địa điểm đầu tư khác hấp dẫn hơn, nước Trung Quốc.
Nước này đang bị đại loạn của Hồng Vệ Binh, anh Mao Xếng Xáng giết các đồng chí của anh ta nên gây ra thảm cảnh 36 triệu người chết… vì đói. Các cơ sở sản xuất tiêu điều mà công nhân hơn 1 tỷ người đang thất nghiệp. Tập đoàn tư bản Do Thái ở Mỹ rót tiền vào đâu tư làm ra những sản phẩm rẽ mạt ” Made in China” bán ra toàn thế giới.
4.- Khủng hoảng địa điểm đầu tư :
Để giải quyết những sản phẩm quân sự làm ra tại địa điểm đầu tư ở Hoa Kỳ, tập đoàn tư bản Mỹ gốc Do Thái đã đem quân Mỹ gây bất ổn khắp Trung Đông khiến cho các ông vua dầu lửa phải chạy đua vũ trang hay nói cách khác đem tiền bán dầu đưa cho tập đoàn tư bản Do Thái để đổi lấy những đoàn tàu bay tàu bò giết nhau cho bỏ ghét.
Chính sách này gây cho nước Mỹ bị thù ghét khắp Trung Đông. Vụ đánh sập Tòa Tháp Đôi năm 2001 ở New York đã làm cho những tập đoàn tư bản Do Thái giật mình hoảng sợ và điều đầu tiên mà bất cứ anh nhà giàu nào khi lo sợ cũng phải làm là lo giữ của.
Sau một thời gian dài hơn 20 năm thâu lợi nhuận nhờ đầu tư vào đúng địa điểm, một nước Trung Cọng nghèo đói tan hoang. Tập đoàn tư bản Mỹ gốc Do Thái tính toán không thể kiếm thêm lợi nhuận hơn nửa vì chi phí đầu tư quá cao và sẳn dịp Tòa Tháp Đôi bị đánh sụp nên họ đồng loạt rút tiền về nước rồi đem cho vay dễ dàng, tắt trách mới sinh ra cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Hoa Kỳ vào năm 2008.
Hiện nay số tài sản kết sù này đang đưa nền kinh tế Hoa Kỳ qua cơn suy thoái, đang chê Châu Âu già cổi nên khó kiếm ra tiền, Châu Phi hoảng loạn không an toàn để đầu tư, Trung Đông nguy hiểm lắm kẻ thủ vừa mất tiền đầu tư vừa mất mạng.
Khối tài sản kết sù này đang nhắm nhé hướng về Châu Á Thái Bình Dương, một vùng năng động chưa khai phá hết, để đầu tư nên nước Mỹ mới lập nên có hiệp định TPP làm nòng cốt, và chính quyền Hoa Kỳ xoay trục sang Châu Á để bảo vệ vùng đầu tư. Nhưng các quỉ đầu tư của các tập đoàn tư bản Do Thái chưa chuyển động, phải chăng họ đang mưu tạo ra một địa điểm đầu tư lý tưởng ở Châu Á như Đức và Nhật sau thế chiến thứ II ?
5. Mưu tạo địa điểm đầu tư mới
Nay chúng ta thấy tình hình Châu Á có những biến chuyển như sau : Trung Cọng gây bất ổn ở Biển Hoa Đông và Biển Đông. Siêu quyền lực Bilderberg club họp ngày 6/6/2014 tại Watford ở Anh Quốc lên kế hoạch chia Trung Cọng thành 5 nước nhỏ. Trung Cọng bồi đắp các đảo nhân tạo để núng ra ở Biển Đông. Các nước Đông Nam Á lo sợ chạy đua vũ trang. Hoa Kỳ đè dặt tuần tra Biển Đông v.v…
Mấy hôm nay người viết bài này đọc được bản tin như sau :
Ông Obama đã cảnh cáo quan chức Trung Quốc: Nếu quý quốc dám gây chiến tranh với Philippines, Việt Nam, Nhật Bản, tôi chỉ cần nói ra 6 điều là Trung Quốc tan vỡ, không phải sử dụng đến dù chỉ một người lính.
1. Công bố tài khoản nước ngoài của quan chức Trung Quốc và cho đóng băng.
2. Công bố danh sách quan chức Trung Quốc có hộ chiếu Mỹ.
3. Công bố danh sách người nhà các quan chức cấp cao Trung Quốc định cư tại Mỹ.
4. Ra lệnh thanh tra biệt thự và tình nhân của quan chức Trung Quốc ở Los Angeles.
5. Đưa người nhà quan chức Trung Quốc đang sống tại Mỹ đến nhà tù nổi tiếng của Mỹ ở Guantanamo (Cuba). (!)**
6. Tiếp tế vũ khí cho công nhân thất nghiệp ở Trung Quốc (có lẽ chỉ cần áp dụng điều thứ 6 này là đủ).
Người viết nghĩ :
Đây là lời đe dọa thứ hai nhắm vào Trung Cọng sau khi đe dọa lên kế hoạch chia Trung Cọng thành 5 nước nhỏ. Đe dọa có nghĩa là anh phải thực hiện những thỏa thuận đã đề ra. Nếu anh không thực hiện những thỏa thuận đã đề ra thì tôi sẽ thực hiện những thứ sau đây …. làm anh thiệt hại.
Vậy những thỏa thuận đã đề ra là những thỏa thuận gì ?
Những thỏa thuận đã đề ra thường thuộc loại TOP SECRET nên không ai biết được. Giống như thỏa thuận bán đứng MNVN giữa tên Do Thái Henry Kissinger và thủ tướng Chu Ân Lai của Trung Cọng phải 30 năm sau mới lòi ra.
Người viết xin đoán mò :
Thỏa thuận 1 : Làm bất ổn để Châu Á chạy đua vũ trang cho tập đoàn tư bản Do Thái ở Mỹ bán vũ khí kiếm tiền (đã và đang thi hành)
Thỏa thuận 2 : Gây chiến tranh phá nát vùng Đông Nam Á để tạo một địa điểm đầu tư lý tưởng cho tập đoàn tư bản Do Thái ở Mỹ bỏ tiền vào đầu tư ( chưa thực hiện ).
Người viết xin bình luận thỏa thuận 2 : Tập đoàn tư bản Mỹ gốc Do Thái và chính quyền Hoa Kỳ tuy hai mà một tuy một mà hai. Trung Cọng muốn độc hiếm Biển Đông thì phải đánh chiếm trọn Đông Nam Á mới thành công. Đánh chiếm Đông Nam Á lại là cơ hội cho các cường quốc xâu xé nước Trung Hoa thêm một lần nửa. Tiến thoái lưỡng nan đang làm cho anh Đại Hán tham ăn ngồi trên đống lửa.
Nostradamus tiên tri thế chiến thứ III xảy ra do AntiChrist điều khiển. Các thầy bàn Phương Tây đang đi tìm AntiChrist là ai. Họ quên rằng Nostradamus không nói AntiChrist là cá nhân hay tập đoàn. Nếu là tập đoàn thì chuyện tìm ra AntiChrist thì cũng dễ thôi.

Nhất Hướng Nguyễn Kim Anh

Monday, May 27, 2019

CUỘC CHIẾN THƯƠNG MẠI MỸ-TRUNG.

HIỆP 3.
Phần 1: “Sụp Đổ Toàn Cầu” - “Ác Mộng” của “Giấc Mơ” Tàu !
“Cái bẫy” Thucydides: Cuộc Chiến Mỹ - Tàu ... tới thời điểm này - theo “nhãn quan chém gió” của Lương hải, thì nó đã chính thức bước sang Hiệp 3 - “hiệp đấu” mà các Đồng Minh sẽ “tham chiến” cùng Mỹ để tung ra những “đòn đánh” Knock out “thẳng mặt” Tàu ... những đòn TRIỆT HẠ và KẾT LIỄU “không cần phải che dấu nữa”!
Qua 2 Hiệp Đấu ... chúng ta đã “nhìn thấy” quá rõ “các thế cờ” mà người Mỹ đã “chủ động tấn công liên tục” cùng sự thảm bại của Tàu luôn phải “bị động Loay hoay chống đỡ” ... !
Và sau một thời gian “thăm dò”, cũng như “cân đo đong đếm” thì các Đồng Minh của Mỹ cũng đã “đạt đủ sự ủng hộ của dân chúng” để bắt đầu “tham chiến” cùng “đàn anh” ... theo “đúng qui trình” trong “kịch bản soạn sẵn” của Hoa Kỳ !
Trước khi bước vào “Hiệp 3” ... có lẽ chúng ta cũng nên vẽ lại một chút về “tổng thể bức tranh” của “hai hiệp đấu” đã qua !
Đầu tiên, để mở màn cho “Hiệp 1”- có thể nói “Hiệp 1” chính là hiệp khởi đầu Cực Kỳ Quan Trọng của Mỹ, nên thời gian mà người Mỹ dành cho “Hiệp 1” cũng khá là nhiều ... bởi sự Thành Công hay Thất Bại của “Hiệp 1” này sẽ có tính Quyết Định tới tất cả các “hiệp đấu” kế tiếp ... !
Và trong “Hiệp 1”, người Mỹ đã thực hiện song song 2 “nước cờ” rất nhịp nhàng đó là PHONG TOẢ TỪ XA và LỘT MẶT NẠ Tàu !
PHONG TOẢ: Suốt hơn một năm đầu khi mới bước vào Nhà Trắng, Trump đã “không hề đả động gì đến Tàu” ... mà suốt thời gian đó Điện CAPITOL chỉ YÊU CẦU Trump dành thời gian để “làm việc liên tục” với cả Nga, Iran , Triều Tiên ... đến nỗi, lúc đó “nhiều gã khờ” đã tin “sái cả cổ” rằng Trump đã “được Nga can thiệp để thắng cử” (Lương hải đã “chém gió” ngay từ đầu rằng đây là một “đòn gió” cực hay của Mỹ - nó đã khiến cho tất cả đều “bị lạc đường”, Nga thì “sướng” đến nỗi “rơi vào vòng tay” của Mỹ lúc nào không hay, còn Tàu thì “mê mẩn” đến nỗi quên cả phòng thủ !), hay Trump “chỉ biết làm kinh tế”, hoặc coi chừng” Trump lại “sợ Tàu” như Obama ... mà thiên hạ hoàn toàn không hề biết rằng đó chính là lúc Trump đang thực thi một chiến thuật soạn sẵn của Mỹ là: DỌN ĐƯỜNG để PHONG TOẢ TÀU TỪ XA !
Và “kết quả mỹ mãn” thì chúng ta đều đã thấy rõ - khi người Mỹ chính thức kích hoạt cuộc tấn công tàu tới tấp như vậy ... thì “các bạn” của Tàu từ Nga ngố, Iran , Triều Tiên ... đã đều “tắt tiếng”.
LỘT MẶT NẠ: Hoa Kỳ đã vận dụng quá hoàn hảo Sức Mạnh Truyền Thông để “tung hê”, phơi bày trước “bàn dân thiên hạ” về tất tật mọi ÂM MƯU và DÃ TÂM ĐEN TỐI của Tàu ... từ “âm mưu thôn tính lãnh thổ” trong chiêu bài “Vành Đai - Con Đường” đến Tham Vọng Bành Trướng đòi “liếm trọn” Biển Đông ... từ “Âm Mưu Thuần Hoá Nhân Loại” trong “ván bài” “Viện Khổng Tử” đến “Âm Mưu đầu độc nhân loại” qua “cơn lốc” hàng hoá nhiễm độc ... từ “chiêu trò” “Ăn Cắp Công Nghệ” đến “Âm Mưu Gián Điệp” ... còn rất rất nhiều các chiêu trò của Tàu khác mà Hoa Kỳ đã “lật tẩy” ... !
Và khi Hoa Kỳ kết thúc một “Hiệp 1” một cách HOÀN HẢO ... nó đã khiến cho thiên hạ bàng hoàng và hoảng loạn Tột Độ ... khi mà trước đó họ còn “sợ Tàu còn hơn sợ Cọp” !
Mặc cho truyền thông Tàu lúc đó đã liên tục hô hào “cho em đính chính” nhưng thiên hạ có ai thèm nghe đâu (!!) ... theo các bạn thì TRUYỀN THÔNG CỦA AI MỚI ĐÁNG TIN hả các bạn !? ... đây lại chính là một cú “gậy ông đập lưng ông”, đã khiến Tàu thua Mỹ về Truyền Thông Ngay Từ Đầu ... thậm chí, về truyền thông Tàu còn thua Mỹ NGAY TRÊN SÂN NHÀ của Tàu ... khiến Tàu chỉ biết “ngậm cục tức” ... “đau như bò đá” !
Tiếp theo, người Mỹ đã dùng “đòn đánh” THƯƠNG MẠI - với “ngòi nổ” là “Thặng Dư Thương Mại” để TĂNG THUẾ tấn công Tàu, mở màn “Hiệp 2” ... và nó đã ngay lập tức tạo ra một sự Hưởng Ứng Dây Chuyền toàn cầu - một “cơn bão” tẩy chay hàng hoá Tàu trên toàn thế giới đã kéo theo “cơn bão” thứ hai là sự THÁO CHẠY HÀNG LOẠT của các tập đoàn nước ngoài khỏi lãnh thổ Tàu ... bỏ lại cho Tàu một “rừng” công xưởng bỏ hoang cùng một “biển” người THẤT NGHIỆP và ĐÓI NGHÈO ... khiến nền Kinh Tế Tàu Sụp Đổ Tan Hoang, Không Lối Thoát ...!
Giờ đây, người Mỹ sẽ chính thức “mở màn” Hiệp 3 ... bằng “các đòn Tấn Công” thẳng vào những THẾ MẠNH nhất còn lại của Tàu - những Tập Đoàn Công Nghệ hàng đầu của Tàu ... Hoa Kỳ sẽ TRIỆT HẠ và KẾT LIỄU những “con gà đẻ trứng vàng” - vừa để nuôi chính thể Tàu, vừa được dùng như những “mũi tên xâm nhập” trong mưu đồ bành trướng thiên hạ.
Người Mỹ đã chính thức “chụp vòng kim cô” lên đầu Tàu ... bằng việc CẤM tất cả các Tập Đoàn Công Nghệ của cả Mỹ lẫn Đồng Minh không được cung cấp các linh kiện cốt lõi cho những tập đoàn công nghệ lớn nhất của Tàu, như Huawei ... và ngay lập tức, hàng loạt các tập đoàn của Mỹ và Phương Tây đã chính thức ngừng “làm ăn” với Huawei ...!
Suốt mấy ngày nay, tên tuổi hàng loạt các Tập Đoàn khổng lồ của cả Mỹ lẫn Phương Tây đã liên tiếp “nghỉ chơi” với Huawei và các tập đoàn khác của Tàu đã bị Mỹ liệt vào “danh sách đen”... cũng như HẬU QUẢ RẤT LỚN MÀ TÀU PHẢI CHỊU từ “đòn đánh” của Mỹ này ... cũng đều đã được giới Truyền Thông quốc nội và quốc tế liên tục “giật tít” rầm rộ (tuy chưa sâu sát và đầy đủ lắm) ... và chắc các bạn cũng đều đã biết, nên tôi sẽ không nhắc lại chuyện này !
Lương Hải cũng đã “chém gió” rất nhiều trong cả “hiệp 1” lẫn “hiệp 2” rằng: tất cả mọi sản phẩm công nghệ của các tập đoàn hàng đầu của Tàu sẽ THÀNH PHẾ LIỆU ngay lập tức ... nếu nó không được gắn các LINH KIỆN CỐT LÕI của Mỹ hay Phương Tây ... bởi đơn giản là những TINH HOA CÔNG NGHỆ như CHIP, BỘ Vi XỬ LÝ, HỆ ĐIỀU HÀNH ... Tàu vẫn CHƯA ĐỦ TRÌNH ĐỘ ĐỂ CÓ THỂ TỰ SẢN XUẤT ĐƯỢC!
Tàu đã từng THẲNG TAY NGĂN CHẶN Faceboook, YouTube, Google ... KHÔNG CHO VÀO LÃNH THỔ Tàu ... chẳng lẽ giờ đây lại đi “năn nỉ bọn nó” cũng cấp linh kiện cốt lõi cho Tàu ... khác nào lặp lại “phiên bản” KÊU GỌI CẢ CHÂU Á ĐOÀN KẾT ĐỂ ... CHỐNG MỸ !!!
Người Mỹ sẽ dựng sát biên giới Tàu một “bức tường khổng lồ” ... Tàu sẽ trở về thời “Đồ Đá” - một “ốc đảo” mới sẽ xuất hiện trên bản đồ thế giới!
Và Tàu SẼ KHÔNG KỊP TRỞ TAY ... SẼ GỤC NGÃ HOÀN TOÀN TRƯỚC ĐÒN ĐÁNH KNOCK OUT MỚI NHẤT NÀY của Mỹ !
Ngay đầu “Hiệp 3”, Mỹ và Đồng Minh đã tung ra “một đòn sấm sét” ... phải chăng Điện CAPITOL muốn KẾT THÚC chuyện này ngay trong nhiệm kỳ 2 của “sói già” D.Trump ... !!!
Đâu phải tự nhiên mà “Gấu Nga” của anh Putin đã “ngoan ngoãn” từ bỏ “miếng mồi” Venezuela ... nếu “Chú Sam” của anh Trump không Ok cho “một vai đóng thế” ... Sau khi “Gấu trúc” của bạn Tập đã ... lên thớt !!!
Lương Hải.

Monday, May 6, 2019

NHÌN VỀ NỘI CHIẾN & HÒA GIẢI DÂN TỘC Ở MỸ RỒI TRÔNG VỀ CỐ QUỐC MÀ CHỈ MUỐN XẺ THỊT, LỘT DA BỌN ĐỘC TÀI CHUYÊN CHẾ VIỆT CỘNG
Tác giảTrần HùngNguồnNgười Việt Giữ Nước ViệtNgày đăng: 2019-04-29
Năm 1860, Abraham Lincoln đắc cử trong cuộc bầu Tổng thống Mỹ thứ 16. Ngay lập tức, 11 tiểu bang ở miền Nam còn giữ chế độ nô lệ tuyên bố ly khai và lập lên “Liên minh các tiểu bang Mỹ - Confederate States of America" và cử Jefferson Davis làm Tổng thống của miền Nam.
Ở miền Bắc, 25 tiểu bang còn lại ủng hộ chính phủ Liên bang - Union do Tổng thống Abraham Lincoln lãnh đạo. Cuộc nội chiến Nam Bắc bắt đầu nổ ra vào ngày 12/4/1861 khi quân miền Nam tấn công vào đồn Sumter ở Nam Carolina do quân miền Bắc trấn giữ. Năm 1862, ông Abraham Lincoln ra bản “Tuyên Ngôn Giải phóng Nô Lệ” để xác định xóa bỏ chế độ nô lệ là một mục tiêu chiến đấu của quân đội miền Bắc.
Năm 1863, quân miền Nam bị đại bại ở Gettysburg, trận đánh này là một trận đánh khốc liệt nhất trong lịch sử nội chiến nước Mỹ, tổng cộng thương vong của hai bên khoảng gần 50.000 binh sĩ, dẫn đến việc chấm dứt chiến tranh và sau này đưa đến sự đầu hàng của quân miền Nam.
Tại Gettysburg, Tổng thống Abraham Lincoln đã đọc một bài diễn văn chỉ gồm có 272 chữ và kéo dài chưa quá 3 phút. Trong diễn văn ông Lincoln có nhắc đến những nguyên tắc về bình đẳng trong bản Tuyên ngôn Độc Lập Hoa Kỳ và khẳng định rằng cuộc nội chiến này là cuộc đấu tranh để giành tự do, dân chủ và nó sẽ mang đến cho mọi công dân sự bình đẳng thật sự. Đặc biệt, trong diễn văn Ông đã không nhắc đến những danh từ Nam - Bắc, Nô Lệ, Giải phóng, Ta và Địch. Ông không phân loại người chết mà Ông vinh danh tất cả những người lính đã hiến dâng mạng sống của mình để Tổ quốc được sống.
Năm 1864, ông Lincoln được bầu lại làm Tổng thống nhiệm kỳ thứ hai. Đầu năm 1865, quân miền Nam đã bị đánh bại ở Petersburg. Ngày 04/4/1865, ông Lincoln đến thị sát Richmond, thủ phủ của miền Nam mới bị quân miền Bắc chiếm được. Ngày 09/4/1865, tướng của miền Nam là ông Robert E. Lee bị vây chặt không còn đường lui, đã phải kí giấy đầu hàng tướng miền Bắc là ông Ulysses Simpson Grant tại làng Appomattox. Cuộc nội chiến Nam - Bắc kéo dài 4 năm đã chấm dứt với kết cục bi thương là gần một triệu người đã chết trong đó có khoảng 620.000 binh sĩ.
Có thêm một tình tiết đặc biệt vào năm 1865, đó là trong lúc binh sĩ của miền Nam đang bị vây khốn ở làng Appomattox, nhiều người đã khuyên tướng Robert E. Lee nên chia quân ra để tiếp tục tử thủ bằng lối đánh du kích thay vì đầu hàng. Nhưng tướng Robert E. Lee đã từ chối, Ông không muốn cuộc chiến này kéo dài một cách vô ích và chỉ đưa đến thêm đổ máu, chết chóc và hận thù. Ông quyết định chấm dứt chiến tranh và ra đầu hàng tướng Grand của quân đội miền Bắc. Trong buổi lễ ký giấy đầu hàng tại Appomattox Court House, tướng Ulysses Simpson Grant đã ra nghiêm lịnh cấm binh sĩ miền Bắc không được reo hò vui mừng chiến thắng và phải lập một hàng quân danh dự đứng nghiêm chào tướng Robert E. Lee và đoàn tùy tùng đi tới.
Tướng Grant giải thích rằng “Chiến tranh đã kết thúc, bây giờ họ là đồng bào của chúng ta. Điều cả nước đáng ăn mừng không phải chúng ta chiến thắng họ, mà là họ đã trở về lại với chúng ta, Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ”.
Tướng Grant chấp nhận 3 điều kiện mà tướng Lee đưa ra:
1. Binh sĩ miền Nam được ra về tự do không bị trả thù hay bắt bớ, để họ được yên ổn xây dựng lại đất nước;
2. Được mang lừa và ngựa theo để phục vụ sản xuất nông nghiệp;
3. Được mang theo vũ khí ngắn cá nhân để tự bảo vệ mình.
Ngoài ra tướng Grant còn cung cấp lương thực cho một số binh đoàn miền Nam để họ đủ sức trở về lại quê quán.
Thực ra những đối xử tử tế trên của tướng Grant đều tuân theo chỉ thị của Tổng thống Lincoln. Với tấm lòng khoan dung độ lượng vốn có, với kinh nghiệm của cuộc sống cho ông biết là "lòng nhân ái sẽ mang lại nhiều kết quả hơn là cách hành xử quá cứng rắn". Nên khi tướng Grant hỏi Tổng Thống Lincoln làm gì với binh sĩ miền Nam đầu hàng thì ông không do dự trả lời “Hãy để họ được tự do ra về”.
Từ đó đến nay, nước Mỹ luôn là một cường quốc về mọi mặt mà công lớn là nhờ vào chủ trương hòa hợp hòa giải dân tộc sau nội chiến của Tổng Thống Abraham Lincoln. Từ chủ trương hòa hợp hòa giải dân tộc trên đã làm cho nước Mỹ trở thành một nước cư xử rất nhân văn ngay sau nội chiến đẫm máu vừa kết thúc. Họ quên đi hận thù để chung tay xây dựng một nước Mỹ cường thịnh.
Dân Mỹ không phân biệt đâu là bên thua cuộc, bên thắng cuộc mà thắng - thua đều là anh hùng, bằng chứng là tướng Robert E. Lee là tướng đầu hàng nhưng dân Mỹ lại coi Ông như một vị anh hùng. Họ dựng tượng Ông, đặt tên Ông cho những con đường ở Mỹ. Trong chiến tranh ông chiến đấu rất anh dũng, sau chiến tranh ông đã đóng góp rất nhiều vào công cuộc hòa giải giữa Nam - Bắc, kêu gọi mọi người buông súng và ủng hộ chính sách xây dựng lại nước Mỹ của chính phủ Liên Bang.
Thử hỏi, nếu giả sử như tướng Ulysses Simpson Grant đối sử với tướng Robert E. Lee và binh sĩ của Ông như Việt cộng đối xử với VNCH thì nước Mỹ ngày nay sẽ ra sao ? Nước Mỹ đã trải qua một cuộc nội chiến đẫm máu nhưng ông Lincoln không nhắc đến từ miền Bắc miền Nam, không có từ "giải phóng" trong diễn văn, không có cái gọi là "ngụy quân ngụy quyền", tay sai, bán nước. Đặt biệt như giải thích của tướng Ulysses Simpson Grant rằng:
"Chiến tranh đã kết thúc, bây giờ họ là đồng bào của chúng ta. Điều cả nước đáng ăn mừng không phải chúng ta chiến thắng họ, mà là họ đã trở về lại với chúng ta, Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ”.
Có như vậy nước Mỹ mới có ngày hôm nay. Còn Việt cộng thì sao ? Chúng cướp đoạt Miền Nam rồi cho rằng giải phóng, chúng bức tử, trả thù hèn hạ những binh sỹ, cán chính của VNCH tại các nhà tù gọi là học tập cải tạo. Chúng đầy đọa vợ con của cán chính VNCH vào rừng thiêng nước độc gọi là đi kinh tế mới. Chúng cướp sạch nhà cửa, tiền của, công xưởng, trâu bò, ruộng vườn,... gọi là đánh tư sản - mại bản - địa chủ.
Hòa bình không bao giờ có từ việc dùng vũ lực cướp đoạt, quốc gia không bao giờ hưng thịnh khi nó xây trên lòng hận thù, đường vinh quang mà xây trên xác quân thù, đồng bào mình mà gọi là thù địch, phản động thì đừng bao giờ nghĩ đến việc dân tộc này tha thứ cho những tội ác mà Việt cộng đã gây ra. Việt cộng đừng bao giờ hy vọng sẽ có được hòa hợp hòa giải với dân tộc Việt Nam. Hòa hợp hòa giải với dân tộc Việt Nam chứ không bao giờ có chuyện bắt tay, giải hòa với lũ Việt cộng bất nhơn, cuồng bạo. Lưu manh đến mức trả thù hèn hạ vào những danh tướng VNCH đã khuất và những Thương phế binh VNCH. Với Việt cộng chỉ có 2 chữ TIÊU DIỆT, chỉ khoan dung độ lượng với những ai lầm đường lạc lối vì ép buộc, vì tình thế mưu sinh ./.

" Đảng CS man rợ, không thể nào sữa chữa. Mà chỉ cần phải đào thải nó. " Cố Tổng Thống Nga Boris Yeltsin
Tran Hung. 

Wednesday, April 3, 2019

Bức điện tín đầu hàng vô điều kiện của Bắc Việt

LTS: Thật là éo le và chua xót biết bao cho chúng ta, những Người Việt sống lưu vong trên đất Mỹ đã phải xin nhận: "Nơi này làm quê hương". Đọc bài dưới đây của Đỉnh Sóng mà thấy buồn cho miền Nam Việt Nam. Ngày 30/4 lại sắp đến rồi.

Tác giảĐỉnh Sóng (chuyển dịch)NguồnTiếng DânNgày đăng: 2019-04-02

CS Bac Viet du dinh dau hang vo dieu kien vao nam 1973

1. Vài nét về Ted Gunderson, chủ tài liệu liên quan đến bức điện tín
- Cựu Đặc vụ hành sự FBI và cựu Giám đốc FBI Los Angeles,
- Từng điều tra vụ Marilyn Monroe và John F. Kennedy,
- Từng phanh phui những tội các của FBI và những thế lực Do Thái đứng phía sau như Bilderberg và Illuminati,
- Từng bị tin tặc tấn công vào các máy tính cá nhân, từng bị sách nhiễu, đe dọa, bức hại và toan tính sát hại,
- Cuối cùng bị hạ độc bằng Arsenic và qua đời ngày July 31, 2011
Dưới đây là nguyên văn Tiếng Anh mà Đỉnh Sóng ghi ra từ YouTube liên quan cùng với phần chuyển ngữ, tất cả dựa theo khả năng hạn chế.
"I also received some information recently in my tours and lectures, and what have you. I did a TV show in Long Beach, California. One of the gentlemen involved in the show was in the U.S. army at one time. He told me that in the spring of 1973 we had bombed all the North Vietnamese supply lines, we had mined their harbors, they were cut off; and one of his associates was in the communication room in Saigon, and this is, of course, a classified job. And when he was in this room he received this message from the North Vietnamese, “We surrender unconditionally.” He passed it on to his superiors; and all army personnel were immediately ushered out and replaced by state department personnel. It's shortly thereafter that Kissinger met with the north Vietnamese officials in Paris, France. Why do these things happen?"
(Tôi cũng đã nhận được một số thông tin gần đây trong những chuyến đi và thuyết trình, v.v.. của tôi. Tôi đã thực hiện một chương trình truyền hình ở Long Beach, California. Một trong những người liên quan trong chương tình có thời đã phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ. Ông ta nói với tôi rằng chúng ta đã dội bom tất cả những đường tiếp tế của cộng sản Bắc Việt, chúng ta đã gài mìn những bến cảng của họ, chúng đã bị cắt đứt; và một trong những cộng sự viên của ông lúc bấy giờ đang làm việc tại trung tâm truyền tin ở Sài gòn, và đương nhiên đó là một công tác tối mật. Khi đang ở trong phòng, ông ta nhận được điện tín nầy của Bắc Việt, "Chúng tôi đầu hàng vô điều kiện." Ông ta chuyển điện tín đó lên cho thượng cấp; và tất cả nhân viên quân sự lập tức bị thuyên chuyển hết và được thay thế bởi nhân viên của Bộ Ngoại Giao.
Chẳng bao lâu sau Kissinger đã họp với các viên chức Bắc Việt ở Paris. Tại sao lại xảy ra những chuyện như thế?)
2. Sự thật về Chiến Tranh VN
Đánh nhưng không được thắng – Bruce Herschensohn, Prager University
Dưới đây là nguyên văn Tiếng Anh do Đỉnh Sóng chép ra từ YouTube cùng với phần chuyển ngữ, tất cả dựa theo khả năng hạn chế:
"Decades back, in late 1972, South Vietnam and the United States were winning the Vietnam War decisively by every conceivable measure. That’s not just my view. That was the view of our enemy, the North Vietnamese government officials. Victory was apparent when President Nixon ordered the U.S. Air Force to bomb industrial and military targets in Hanoi, North Viet Nam’s capital city, and in Haiphong, its major port city, and we would stop the bombing if the North Vietnamese would attend the Paris Peace Talks that they had left earlier. The North Vietnamese did go back to the Paris Peace talks, and we did stop the bombing as promised.
On January the 23rd, 1973, President Nixon gave a speech to the nation on primetime television announcing that the Paris Peace Accords had been initialed by the United States, South Vietnam, North Vietnam, the Viet Cong, and the Accords would be signed on the 27th. What the United States and South Vietnam received in those accords was victory. At the White House, it was called "VV Day," "Victory in Vietnam Day."
The U.S. backed up that victory with a simple pledge within the Paris Peace Accords saying: should the South require any military hardware to defend itself against any North Vietnam aggression we would provide replacement aid to the South on a piece-by-piece, one-to-one replacement, meaning a bullet for a bullet; a helicopter for a helicopter, for all things lost – replacement. The advance of communist tyranny had been halted by those accords.
Then it all came apart. And It happened this way: In August of the following year, 1974, President Nixon resigned his office as a result of what became known as "Watergate." Three months after his resignation came the November congressional elections and within them the Democrats won a landslide victory for the new Congress and many of the members used their new majority to de-fund the military aid the U.S. had promised, piece for piece, breaking the commitment that we made to the South Vietnamese in Paris to provide whatever military hardware the South Vietnamese needed in case of aggression from the North. Put simply and accurately, a majority of Democrats of the 94th Congress did not keep the word of the United States.
On April the 10th of 1975, President Gerald Ford appealed directly to those members of the congress in an evening Joint Session, televised to the nation. In that speech he literally begged the Congress to keep the word of the United States. But as President Ford delivered his speech, many of the members of the Congress walked out of the chamber. Many of them had an investment in America’s failure in Vietnam. They had participated in demonstrations against the war for many years. They wouldn’t give the aid.
On April the 30th South Vietnam surrendered and Re-education Camps were constructed, and the phenomenon of the Boat People began. If the South Vietnamese had received the arms that the United States promised them would the result have been different? It already had been different. The North Vietnamese leaders admitted that they were testing the new President, Gerald Ford, and they took one village after another, then cities, then provinces and our only response was to go back on our word. The U.S. did not re-supply the South Vietnamese as we had promised. It was then that the North Vietnamese knew they were on the road to South Vietnam’s capital city, Saigon, that would soon be renamed Ho Chi Minh City.
Former Arkansas Senator William Fulbright, who had been the Chairman of the Senate Foreign Relations Committee made a public statement about the surrender of South Vietnam. He said this, "I am no more distressed than I would be about Arkansas losing a football game to Texas." The U.S. knew that North Vietnam would violate the accords and so we planned for it. What we did not know was that our own Congress would violate the accords. And violate them, of all things, on behalf of the North Vietnamese. That’s what happened.
I’m Bruce Herschensohn."
Phần chuyển ngữ: Sự thật về Chiến Tranh VN
Nhìn lại những thập niên trước, vào cuối năm 1972, Miền Nam VN và Hoa Kỳ rõ ràng đang thắng Chiến Tranh VN, hiển nhiên là thế. Đó không chỉ là quan điểm của riêng tôi. Đó là quan điểm của kẻ thù của chúng ta, những viên chức của chính phủ Bắc Việt. Chiến thắng rõ ràng khi Tổng Thống Nixon ra lệnh cho không lực Hoa Kỳ dội bom những mục tiêu kỹ nghệ và quân sự ở Hà Nội, thủ đô Bắc Việt và ở Hải Phòng, hải cảng chính của họ, và chúng ta sẽ ngưng dội bom nếu Bắc Việt tham dự Hội Đàm Paris mà họ đã rời trước đó. Bắc Việt không trở lại bàn hội nghị, và chúng ta không ngưng dội bom như đã hứa.
Vào ngày 23 tháng Giêng năm 1973, Tổng Thống Nixon đọc một bài diễn văn toàn quốc trên truyền hình vào giờ cao điểm, cho biết Hội Đàm Paris đã được ký tắt bởi Hoa Kỳ, Nam VN, Bắc Việt, Việt Cộng, và Hiệp Định sẽ được chính thức ký vào ngày 27. Những gì mà Hoa Kỳ và Nam VN nhận được trong hiệp định đó là một thắng lợi. Tại Tòa Bạch Ốc, người ta đã gọi đó là ngày “VV Day - Victory in Vietnam Day.”
Hoa Kỳ đã hậu thuẫn chiến thắng đó với một bảo đảm đơn giản bên trong Hiệp Định Paris, theo đó: nếu Miền Nam yêu cầu chiến cụ để tự vệ chống lại bất kỳ cuộc xâm lăng nào của Bắc Việt thì chúng tôi sẽ cung cấp viện trợ thay thế (replacement aid) cho Miền Nam trên căn bản từng cái một và một đổi một (piece-by-piece, one-to-one replacement), nghĩa là, một viên đạn đổi một viên đạn, một trực thăng đổi một trực thăng, đối với tất cả những thứ bị mất. Bước tiến của chế độ độc tài cộng sản đã bị chặn đứng bởi hiệp định đó.
Thế rồi tất cả đều tan vỡ. Và sự thể như thế nầy: Vào tháng Tám của năm tiếp theo, 1974, Tổng Thống Nixon từ chức do hậu quả của vụ Watergate. Ba tháng sau khi ông từ chức là những cuộc bầu cử quốc hội tháng mười một và trong đó những thành viên của Đảng Dân Chủ thắng lợi vẻ vang trong Quốc Hội mới và nhiều thành viên đã lợi dụng đa số mới của họ để chấm dứt tài trợ cho chương trình viện trợ quân sự mà Hoa Kỳ đã hứa, một đổi một, bội ước lời cam kết của chúng ta đối với Miền Nam VN ở Paris là sẽ cung cấp bất kỳ chiến cụ nào mà Miền nam cần trong trường hợp bị Bắc Việt xâm lăng. Nói một cách đơn giản và chính xác, đa số những đảng viên Đảng Dân Chủ của Quốc Hội khóa 94 không giữ lời hứa của Hoa Kỳ.
Vào ngày 10 tháng Tư, 1975, Tổng Thống Gerald Ford đã trực tiếp nói chuyện với những thành viên Quốc Hội đó trong một buổi họp hỗn hợp buổi tối, được truyền hình trên toàn quốc. Trong bài diễn văn đó, ông tha thiết kêu gọi Quốc Hội hãy giữ lời hứa của Hoa Kỳ. Nhưng trong khi Tổng Thống Ford đọc diễn văn, nhiều thành viên Quốc Hội bước ra khỏi phòng họp. Nhiều người trong số họ đã đầu tư vào sự thất bại của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Họ đã tham gia các cuộc biểu tình phản chiến trong nhiều năm. Họ sẽ không cho viện trợ. Vào ngày 30 tháng Tư, Miền Nam đã đầu hàng và những trại cải tạo được dựng lên, và hiện tượng người vượt biển bắt đầu. Nếu Miền Nam nhận được vũ khí mà Hoa Kỳ đã hứa với họ thì kết quả đã khác đi? Sự khác biệt đó đã được chứng minh. Giới lãnh đạo Bắc Việt đã thú nhận rằng lúc bấy giờ họ đang trắc nghiệm Tổng Thống mới Gerald Ford, và họ đã chiếm từ làng nầy đến làng khác, rồi đến những thành phố, tỉnh lỵ; và phản ứng duy nhất của chúng ta là bội ước. Hoa Kỳ không tái viện trợ Miền Nam như chúng ta đã hứa. Chính lúc đó Bắc Việt nhận thức được rằng họ đang trên đường tiến đến Saigon, thủ đô của Miền Nam, sau đó được đổi tên thành TP Hồ Chí Minh.
Cựu TNS William Fulbright, nguyên Chủ Tịch Ủy Ban Đối Ngoại Thương Viện, đã đưa ra một công bố chính thức về sự đầu hàng của Miền Nam. Ông nói,
“I am no more distressed than I would be about Arkansas losing a football game to Texas.”
(Tôi không thấy đau khổ gì mấy, chẳng khác nào khi thấy Arkansas thua Texas một trận đá bóng.)
Hoa Kỳ biết rằng Bắc Việt sẽ vi phạm hiệp định Paris và chúng ta đã chuẩn bị cho chuyện đó. Điều mà chúng ta không biết là chính Quốc Hội của chúng ta sẽ vi phạm hiệp định đó. Và vi phạm, về mọi mặt, thay cho Bắc Việt. Đó là những gì đã xảy ra. Tôi là Bruce Herschensohn.
**
Sau khi Saigon thất thủ, hơn một triệu người Miền nam bị đưa vào các trại cải tạo ở miền quê. 250 ngàn người đã chết ở đó, do bị hành quyết không xét xử, tra tấn, bệnh tật, và suy dinh dưỡng. Giữa năm 1975 và 1995, hai triệu người Việt đã trốn chạy khỏi nước, vượt Biển Đông bằng những chiếc thuyền thiếu trang bị để đi tìm tự do. Ước tính có khoảng 200 ngàn người vượt biển nầy đã chết – do bị chết chìm và bị hải tặc giết. Ngày nay Việt Nam vẫn có một chính phủ cộng sản, nhưng họ đã bỏ hết những lý thuyết kinh tế cộng sản, những lý thuyết mà họ đã hy sinh bao nhiêu sinh mạng của đồng bào của họ để theo đuổi.
3. Nhận định bên lề
Trong khi hơn 96% hệ thống truyền thông nằm trong tay Tập đoàn Do Thái quốc tế và Mỹ Cộng thì công việc truy tìm thông tin, tài liệu, nhận định, và phán xét trung thực về Chiến Tranh VN chẳng khác nào mò kim đáy biển, vì hầu hết các hảng thông tấn, các trang mạng, đài truyền thanh truyền hình, những tờ báo hàng đầu đều nói một thứ tiếng của Do Thái được chuyển ngữ sang tiếng Anh, cùng phục vụ một chủ nghĩa độc tài mềm, cùng bị kiểm soát bởi một chính sách ngân hàng trị và Do Thái trị, cùng gián tiếp hay trực tiếp cỗ xúy một loại trật tự được mệnh danh New World Order hay One-government World - thực chất là một loại thế giới đại đồng hoang tưởng do tập đoàn Do Thái thống trị.
Hiện cảnh đen tối của một chính quyền Mỹ thân cộng Do Thái trị ngày nay là nhìn đâu cũng thấy Do Thái và sờ đâu cũng chạm phải bàn tay lông lá của Do Thái từ CIA, FBI, truyền thông, Internet, đại học, Hollywood đến hành pháp, tư pháp, lập pháp, v.v...; và đâu có Do Thái ở đó có Mỹ Cộng.
Những kẻ đi tìm sự thực như Ted Gunderson luôn bị chúng khủng bố và truy sát bằng mọi cách; những kẻ khác thì co đầu rụt cổ vì sợ bị ghép tội bài Do Thái, cùng lắm chỉ vòng vo đập quanh bụi rậm. Hậu quả là Do Thái và Mỹ cộng xem phần còn lại của thế giới như một bầy trẻ con, ngây thơ về chính trị và nhút nhát như bầy gấu trúc.
Hầu hết các bài viết, nhất là những bài của những tay viết blog cho VOA, BBC, RFA, RFI, v.v..., đều viết theo đơn đặt hàng của Do Thái, Mỹ Cộng, và Việt Cộng, dưới môt hình thức nào đó và theo một kênh tuyên vận nào đó. Chín mươi phần trăm của những bài viết nầy là vỏ bọc đường nghe rất bùi tai và nhìn rất mát mắt, nhưng chỉ để phục vụ 10 phần trăm còn lại dùng chứa thuốc độc nhằm đánh bóng Mỹ Cộng hay Việt Cộng hay cả hai.
Tuy nhiên, nếu nhìn vào toàn cục vấn đề và căn cứ trên những tài liệu, dù là hiếm hoi, được chính phủ Hoa Kỳ bạch hóa về những cuộc đi đêm mà Washington đã tiến hành với Bắc Kinh nhằm bán đứng Miền Nam hay thậm chí cả Việt Nam cho Trung Quốc dưới sức ép và đồng lõa của tập đoàn Do Thái và cộng sản quốc tế để đổi lấy quan hệ ngoại giao và thương mại với Trung Quốc, về chủ trương đánh Cộng Sản nhưng không được thắng, v.v... thì bức điện tín đầu hàng vô điều kiện nói trên không hẳn là bịa đặt.
Nhưng tại sao Bắc Việt đầu hàng mà Mỹ vẫn tiếp tục đánh? Theo thiển ý của chúng tôi, đầu hàng với Mỹ không thành vấn đề; đầu hàng với Trung Quốc mới là mục tiêu tối hậu của cả Mỹ lẫn Tàu. Ở điểm nầy, vì muốn có được những quyền lợi với Trung Cộng, Mỹ ra sức phục vụ quyền lợi của Bắc Kinh trước đã, nghĩa là giúp Bắc kinh thôn tính Việt Nam thông qua Đảng Cộng Sản VN và trên xương máu dân tộc VN ở cả hai miền.
Cũng ở điểm nầy người ta mới thấy Chiến Tranh VN là cơ hội bằng vàng để đế quốc Tàu tiếp tục giấc mộng thôn tính Việt Nam sau hơn ngàn năm không thực hiện được. Cả Mỹ lẫn Tàu đã đạt được mục tiêu chung sau những cuộc không tập B52 kéo dài; và sau đó, vì muốn bảo vệ đảng, Bắc Việt đã quỳ gối đầu hàng Bắc Kinh và ký những mật ước nhượng đất nhượng biển và nhượng cả chủ quyền cho Trung Cộng.
Việc Mỹ làm ngơ cho Trung Cộng chiếm Quần Đảo Hoàng Sa của Việt Nam có lẽ cũng nằm trong khuôn khổ những mật ước như thế nhưng đã có trước khi chiến tranh chấm dứt. Như thế kẻ thắng chiến tranh VN là Trung Cộng chứ không phải Bắc Việt; Bắc Việt chỉ là một thây ma được Mỹ, Tàu, Do Thái vớt lên từ địa ngục để thi hành sứ mạng Thái Thú cho Thiên Triều.
Những người sinh ra và lớn lên trong hệ thống tuyên truyền và giáo dục nhồi sọ của cộng sản và ngay cả những người cộng sản được xem là "mở mắt" như Bùi Tín, Phạm Chí Dũng, Điếu Cày, Cù Huy Hà Vũ, Dương Thu Hương, chẳng hạn, có lẽ không bao giờ chấp nhận sự thực đó, vì, đối với những người nầy, làm thế chẳng khác nào chối bỏ “ảo ảnh đời mình,” chối bỏ một huyền thoại giúp họ tiếp tục ngẩng mặt lên tiếng với đời. Những đám người nầy có thể “trái dạ” với đảng cộng sản nhưng dứt khoát không tự phản bội chính mình. Nếu không có huyền thoại đó thì cách nay bốn mươi năm họ chỉ là nhưng kẻ mù quáng đi trong doàn quân ma được Mỹ, Tàu và Do Thái tha chết và vớt xác lên từ địa ngục đồng thời trao cho chiếc bánh vẻ “đại thắng mùa xuân” để sau đó đạo quân ma nầy tràn vào Miền Nam cướp của giết người.
Nếu không tin các ông các bà cứ hỏi Trần Đăng Thanh, một đại tá VC thuộc Học Viện Quốc Phòng của chế độ Hà Nội thì biết ngay. Cũng có thể các ông các bà đều biết sự thực nhưng không dám công khai thú nhận; các ông các bà vờ mở mắt nhưng chỉ mở một mắt để khỏi thẹn với lương tâm và tiếp tục đi trong mộng du. Ngày nay các ông các bà được giải quyết sang Mỹ chẳng khác nào lá rơi về cội, gặp lại ân nhân ngày trước, thế thôi.
Một số người cộng sản vẫn thường bóng gió so sánh cộng sản VN với giới lãnh đạo Tây Đức, Bỉ, với Bắc Quân Hoa Kỳ trong cuộc Nội Chiến, thậm chí với cả chính quyền Hoa Kỳ trong Đệ Nhi Thế Chiến đã thắng Nhật. Làm như thế là hiếp dâm lịch sử vì cố tình đặt một thây ma được vớt lên từ địa ngục ngang hàng với những kẻ chiến thắng đích thực, đặt đạo quân đồ tể ngang hàng với loài người có lương tri, liêm sỉ, và trí tuệ, đặt một đám gia nô thái thú ngang hàng với những con người thực sự làm chủ đời mình và giúp dân tộc làm chủ vận mệnh của đất nước. Hãy nhìn kỹ những gì đám đồ tể đã làm trong suốt bốn mươi năm qua trên đất nước Việt Nam để đặt tên đám thái thú thời đại nầy cho đúng. .

Đỉnh Sóng