Thursday, October 27, 2016

Di sản của nền Đệ Nhị Cộng Hòa.

Di sản của nền Đệ Nhị Cộng Hòa

Bù nhìn, tham nhũng, hèn nhát, thối nát, ngụy quân, ngụy quyền, độc tài, tàn ác, đánh thuê, phản dân, tư sản mại bản, phong kiến thân Mỹ



Cafe Luật Khoa
23-10-2016
Bù nhìn, tham nhũng, hèn nhát, thối nát, ngụy quân, ngụy quyền, độc tài, tàn ác, đánh thuê, phản dân, tư sản mại bản, phong kiến thân Mỹ, tay sai đế quốc,  bất hợp pháp, phi nhân tính, dối trá, xỏ lá, ba que,…
Chỉ là một số ít những ngôn từ vẫn hay được sử dụng để nói về chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, một chính quyền tồn tại 20 năm (1955-1975) tại miền Nam Việt Nam trước khi bị xóa sổ khi những binh đoàn quân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (hay còn gọi là Bắc Việt) tràn vào Sài Gòn mùa xuân năm 1975. Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa đánh dấu chấm hết cho một cuộc chiến đẫm máu mà kết cục của nó khiến cho “triệu người vui” và cũng làm cho “triệu người buồn”.
Có một câu ngạn ngữ Châu Phi nói “Chừng nào sư tử còn chưa biết viết, sử sách vẫn mãi ngợi ca những kẻ thợ săn“.
Phải chăng những cái nhìn phê phán cay độc, xem thường, và dè bỉu chính quyền Việt Nam Cộng Hòa vốn bấy lâu nay vẫn được tuyên truyền giảng dạy rộng rãi trong nước đã chỉ là những lời “ngợi ca những người thợ săn”?
Nhà sử học kỳ cựu người Mỹ Keith Weller Taylor, giáo sư sử học đại học Cornell, một trong những sử gia hàng đầu thế giới trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam, có lẽ đã có một mối hoài nghi gần giống như thế khi ông tiến hành làm cuốn sách “Những Tiếng Nói Từ nền Đệ Nhị Cộng Hòa Nam Việt Nam (1967-1975)” (Voices from the Second Republic of South Vietnam (1967–1975).
Trần Dạ Từ CD's LaunchNhà sử học Keith Weller Taylor (Ảnh: lrc.cornell.edu)
Cuốn sách không đầy 200 trang này tập hợp các bài viết từ 10 tác giả vốn là những công chức, quân nhân, và chính trị gia từng phục vụ cho nền Đệ Nhị Cộng Hòa của chính phủ Nam Việt Nam (kéo dài từ năm 1967 đến 1975).
Bằng cái nhìn của những người trong cuộc, những người đã trực tiếp góp mồ hôi công sức tham gia quản trị, bảo vệ, và xây dựng đất nước bằng kiến thức, khả năng, và bằng lòng yêu nước chân thành của chính họ (cho dù nhiều người sẽ tranh cãi rằng thứ họ yêu, Nam Việt Nam, chưa bao giờ là một đất nước hợp pháp thật sự), các tác giả trong cuốn sách này đã đóng góp được những tiếng nói chân thành và sát thực về thực trạng Nam Việt Nam trong giai đoạn đầy biến động của nền Đệ Nhị Cộng Hòa.
Những người đọc vốn đã quen với phiên bản lịch sử chính thống được tuyên truyền trong nước có lẽ sẽ ngạc nhiên khi biết rằng nền Đệ Nhị Cộng Hòa, bằng những cách không công bằng, đã luôn bị “gói chung một rọ” với nền Đệ Nhất Cộng Hòa (1955-1963) và giai đoạn giao thời giữa hai nền cộng hòa như thế nào. Và họ có lẽ cũng sẽ ngạc nhiên mà biết rằng khi khái niệm dân chủ còn là một thứ gì đó mơ hồ lẩn khuất trong làn khói chiến tranh, tại miền Nam, đã có một cuộc thử nghiệm xây dựng đất nước dân chủ vốn cuối cùng bị những dòng thác lũ của định mệnh nhấn chìm.
Câu chuyện thật của nền Đệ Nhị Cộng Hòa có vẻ không hẳn là câu chuyện của một chính quyền chuyên chế hủ bại.
Nó có vẻ là câu chuyện bi tráng của một thế hệ người Việt Nam đã cố gắng xây dựng một chính quyền quốc gia tại miền Nam Việt Nam độc lập, vững mạnh theo hướng dựa trên hiến pháp, công bằng, dân chủ, và thượng tôn pháp luật, giữa những điều kiện chiến tranh ngặt nghèo, thiếu thốn, khi mà một đồng minh lớn từ từ bỏ rơi họ một cách cay nghiệt.
Ai đó sẽ cười nhạt “trong lịch sử làm gì có chữ nếu”, nhưng có lẽ đã đến lúc tất cả chúng ta cùng tưởng tượng, rằng nếu loài sư tử biết viết…
oOo
Trích đoạn “Những Tiếng Nói Từ nền Đệ Nhị Cộng Hòa Nam Việt Nam (1967-1975)” 
Voices from the Second Republic of South Vietnam (1967–1975)
Chủ biên: Keith Weller Taylor (Nhà xuất bản đại học Cornell năm 2015)
“…Năm 1967, một hiến pháp mới được ban hành và thực thi, tạo ra nền Đệ Nhị Cộng Hòa (1967-1975). Dưới quyền tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, chính thể này ổn định tình hình chính trị, và càng lúc càng chịu trách nhiệm cho sự tồn tại của chính nó hơn khi quân đội Mỹ rút lui, và vào năm 1973 rút hẳn hoàn toàn.
Trong những năm này, các công dân bình thường, những nhà giáo dục, nhà báo, chính trị gia, doanh nhân, các nhà quản trị, luật sư, thẩm phán, lãnh đạo quân đội và các nhà ngoại giao cùng nhau nỗ lực xây dựng một chính phủ dựa trên hiến pháp (constitutional government) bằng việc tổ chức các cuộc bầu cử tương đối cởi mở cùng sự có mặt của một ngành hành pháp, một ngành lập pháp và một ngành tư pháp.
Vừa trỗi dậy từ một chính thể thực dân và từ những cuộc tranh đấu trong một quá trình phi thực dân hóa đầy náo động, không có sẵn truyền thống chủ nghĩa hiến pháp (constitutionalism) hay truyền thống dân chủ, và với một quốc gia láng giềng nung nấu ý định hủy diệt cuộc thử nghiệm chính trị của nó, lại thêm việc có một đồng minh đang trong thời kỳ muốn từ bỏ nỗ lực giúp đỡ của họ nhất, đất nước này tuy thế vẫn bền trí và đã giành được nhiều thành tựu.
Danh sách các thành tựu của nền Đệ Nhị Cộng Hòa đã luôn bị phớt lờ bởi gần như tất cả những ai đã từng viết về những năm cuối của cuộc chiến; danh sách đó là một nỗi xấu hổ cho người Mỹ bởi vì một trong những ý tưởng đã được phe theo quan điểm phản chiến truyền bá. Ý tưởng này cuối cùng đã thống trị hoàn toàn tư duy chính trị và học thuật Hoa Kỳ, nó cho rằng chính phủ tại Sài Gòn là một nền độc tài không thể cứu vãn được, không xứng đáng với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, hay là chính quyền đó thể nào cũng thất bại.
Ý tưởng này tạo ra một sự an ủi mang tính đạo đức cho người Mỹ vốn đã hoàn toàn có thể cảm thấy khổ sở với việc phải quay lưng với một đồng minh đang bị đe dọa trong thời khác họ cần giúp đỡ nhất; ý tưởng này phản ánh sự thất vọng của người Mỹ hơn là phản ánh những gì đang diễn ra lúc đó với người Việt.
Những tiếng nói trong cuốn sách này phản ánh những khát vọng và nỗ lực của những người đã từng cống hiến cho tương lai của nền Đệ Nhị Cộng Hòa.
Có ít nhất bốn thành tựu quan trọng đạt được trong thời Đệ Nhị Cộng Hòa.
Đầu tiên, từ quan điểm chiến trận, quân đội Việt Nam Cộng Hòa (Army of the Second Republic of Vietnam, viết tắt ARVN) gánh lấy tránh nhiệm chiến đấu. Cho dù cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 làm xoay chuyển ý kiến công luận Mỹ sang chống lại cuộc chiến, cuộc tấn công này đã có một ảnh hưởng rất khác đến Nam Việt Nam.
h1Tổn thất nặng nề của các lực lượng Cộng sản Tết Mậu Thân 1968 (Ảnh: pinterest.com/emmajchapman)
Những tổn thất của lực lượng Cộng sản giúp tạo điều kiện cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa giành lại quyền kiểm soát phần lớn các khu vực đồng quê và bắt đầu thực thi một số chính sách được dân chúng các miền nông thôn ủng hộ.
Thêm vào đó, bằng việc mang chiến tranh vào thành thị, lực lượng Cộng sản đã tập hợp quần chúng đô thị chống lại chính những người Cộng sản; một số lớn dân chúng đô thị đã nhận ra rằng họ có một thứ nào đó để chiến đấu vì nó: nền Đệ Nhị Cộng Hòa. Các lực lượng Hoa Kỳ càng rút lui bao nhiêu, các lực lượng Nam Việt Nam lại càng nhận thêm trách nhiệm bảo vệ đất nước của họ.
Vào hai năm 1970 và 1971, quân đội Việt Nam Cộng Hòa, thông qua phối hợp với quân đội Mỹ, hoặc được quân đội Mỹ trợ giúp hậu cần, đã tiến hành các chiến dịch xuyên biên giới lớn tại Campuchia và Lào trong nỗ lực làm suy giảm khả năng của quân đội Bắc Việt trong việc sử dụng các nước này làm bàn đạp cho các cuộc tấn công vào miền Nam.
Các chiến dịch này đã chịu nhiều tổn thất và gây ra tranh cãi, nhưng chúng giúp phát triển năng lực và kinh nghiệm của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, trong khi kiềm giữ được các lực lượng Bắc Việt. Trong Chiến Dịch Xuân – Hè 1972, khi gần như toàn bộ quân bộ binh Hoa Kỳ đã rời Việt Nam, quân đội Việt Nam Cộng Hòa, với trợ giúp hậu cần của Hoa Kỳ, đã đẩy lùi một cuộc xâm lăng đánh tận lực từ ba mặt của quân đội Bắc Việt. Tuy nhiên, ba năm sau đó, không có sự trợ giúp vật chất và tinh thần của phía đồng minh, nền Đệ Nhị Cộng Hòa đã bị áp đảo.
Thứ hai, sau chiến dịch Tết Mậu Thân, an ninh đã được tái phục hồi đầy đủ tại các miền thôn quê, tạo điều kiện cho một chương trình cải cách điền địa được tiến hành. Chương trình này cách mạng hóa kinh tế, xã hội và chính trị tại các khu vực đồng quê vùng sâu vùng xa nhất. Mặc dù phần lớn là bị các nhà quan sát ngoại quốc phớt lờ, chương trình này tạo điều kiện cho một mối quan hệ công bình hơn giữa miền thành thị và miền thôn quê, và cho một sự xây dựng tiềm năng nông nghiệp của đất nước vốn có thể làm nền tảng cho phát triển kinh tế trong tương lai.
Thêm vào đó, cuộc cải cách điền địa này được thực hiện một cách hòa bình và với sự giúp đỡ của quần chúng các miền thôn quê. Theo đó, nó cho thấy một hình ảnh tương phản với những cuộc cải cách ruộng đất đầy máu và nước mắt tại Trung Quốc và tại Bắc Việt Nam, tạo ra thêm một lý do rõ ràng cho sự tiếp diễn cuộc chiến.
Thứ ba, các thành quả lớn trong sản xuất và phân phối gạo, quản lý thị trường, thăm dò dầu khí, và chính sách thuế khóa đặt Nam Việt Nam vào vị trí sẵn sàng cho sự độc lập kinh tế sau cùng khi mà viện trợ Hoa Kỳ đang giảm dần.
Một thế hệ mới của các nhà quản trị, nhiều người trong số họ được đào tạo tại các trường đại học Mỹ và có các nguyện vọng ái quốc mạnh mẽ, mang lại những thái độ mang tính cải cách, thực tế, và hành động vào trong một nền hành chính quan liêu được thừa hưởng từ quá khứ thực dân. Đối mặt với những vấn đề khó khăn, cả tới mức tuyệt vọng, của đất nước, sự quản trị nền Đệ Nhị Cộng Hòa cho thấy một khả năng tiến hành các sáng kiến táo bạo, mặc cho việc các nguồn lực dần cạn kiệt đi khi mà đồng minh Hoa Kỳ khuất xa dần.
Thứ tư, đã có những bước tiến dài được thực hiện trong việc xây dựng một hệ thống chính quyền dựa trên hiến pháp với các cuộc bầu cử đa đảng phái cho một hệ thống lập pháp lưỡng viện (bicameral) và với một ngành tư pháp tương đối độc lập vốn đã giúp tăng cường các cơ chế pháp lý bảo vệ quyền cá nhân và các chuẩn mực dân chủ trong chính trị.
h1Bầu cử ở Sài Gòn năm 1967 (Ảnh: virtual-saigon.net/)
Các nhà phê bình người Mỹ thường đánh giá các tiến triển hiến pháp của người Việt Nam bằng cách so sánh với những gì họ cho là thành tựu của chính hệ thống chính phủ Mỹ của họ, vốn đã có tuổi đời đến hơn hai thế kỷ. Nhưng nếu so sánh với quá khứ ngay trước đó của đô hộ thực dân và chiến tranh, nền Đệ Nhị Cộng Hòa cho thấy nhiều điểm cấp tiến.
Các thành tựu này không có nghĩa là nền Đệ Nhị Cộng Hòa không có khiếm khuyết. Nhiều quốc gia hậu thuộc địa, bao gồm cả hai quốc gia Việt Nam, đã luôn phụ thuộc một cách thái quá vào các nguồn lực do các cường quốc lớn cung cấp.
Tương phản với trường hợp Bắc Việt Nam, khiếm khuyết lớn nhất của nền Đệ Nhị Cộng Hòa là sự phụ thuộc của nó vào một đồng minh không đáng tin cậy. Các lãnh đạo của nền Đệ Nhị Cộng Hòa đã có khuynh hướng xem đồng minh Mỹ là luôn sẵn có và những nhà lãnh đạo này đã không tìm ra cách để, hoặc là gìn giữ mối quan hệ với đồng minh này hoặc là thay thế nó khi chính sách của Mỹ đã xoay chiều.
Nền Đệ Nhị Cộng Hòa đã thất thủ trong một cuộc cạnh tranh tuyên truyền giữa người Mỹ với nhau. Trong cuộc cạnh tranh đó, chính thể này chịu tổn thất do nó bị gộp chung vào với những lỗi lầm của nền Đệ Nhất Cộng Hòa (1955-1963 – ND) và của giai đoạn Đứt Quãng (Interregnum period, 1963-1967 – ND).
Dĩ nhiên, như có thể được làm với bất kỳ quốc gia nào, và đặc biệt với một quốc gia non trẻ đang khốn khó với những kẻ thù ghê gớm, một con mắt phê phán luôn tìm ra thiếu sót. Nhưng những người Mỹ có cái nhìn phê phán, trong sự ngạo mạn bá quyền của họ, đã đi xa hơn thế và thách thức cả tính chính đáng (legitimacy) của nền Đệ Nhị Cộng Hòa trong vai trò một quốc gia độc lập (sovereign state).
Thêm nữa, hiệp định hòa bình mà chính phủ Hoa Kỳ đã thương lượng với Bắc Việt phản ánh thái độ ngạo mạn này bằng cách làm tổn thương hiến pháp và chủ quyền quốc gia của nền Đệ Nhị Cộng Hòa.
Giống như cách mà Pháp đã được xem là thương lượng thay mặt cho (và đồng thời làm phương hại đến) những người Việt Nam theo chủ nghĩa quốc gia trong Hiệp định Geneva 1954, Hoa Kỳ cũng đã làm vậy trong Hiệp định Paris 1973.
Ngô Đình Diệm đã xem Hiệp định Geneva là một thứ mà trong đó người Pháp qua mặt ông ta để thương lượng với kẻ thù của chính ông ta. Và Nguyễn Văn Thiệu cũng xem Hiệp định Paris là một thứ mà trong đó người Mỹ qua mặt Thiệu để thương lượng với kẻ thù của ông. Cả hai bản hiệp định này đều chứa những điều khoản hoặc là có khả năng hoặc là trong thực tế đã làm cản trở những người Việt Nam theo chủ nghĩa quốc gia.
Một lý do làm cho Hiệp định Geneva gây tranh cãi chính là Pháp đã tôn trọng triệt để một thỏa thuận quốc tế vốn có vẻ là thừa nhận yêu sách đòi quyền đại diện một quốc gia tự chủ của những người Cộng sản Việt Nam. Trong khi đó, Pháp lại bỏ bê việc thông qua một hiệp ước trao trả độc lập mà họ đã thương lượng với những người thuộc phe quốc gia do Bảo Đại làm đại diện.
Sự tự phụ này của người Pháp trong việc giữ lại chủ quyền tại Sài Gòn là nền tảng ban đầu cho các thiết kế của người Pháp nhằm để nắm giữ quyền điều hành chính quyền tại Sài Gòn cho đến khi có các cuộc “bầu cử” thống nhất, vốn được mong đợi là sẽ được tổ chức hai năm sau đó, như nêu trong nội dung Hiệp định Geneva.
h1Lịch sử có công tâm với Ngô Đình Diệm trong vai trò một nhà ái quốc? (Ảnh: biografiasyvidas.com)
Ngô Đình Diệm từ chối các thiết kế này. Ông cho rằng nó là sự nối tiếp của việc nền thực dân Pháp nắm quyền quyết định về tương lai của người Việt. Cuộc bầu cử tháng 10 năm 1955 mà Ngô Đình Diệm tổ chức để truất phế Bảo Đại và qua đó mở đường cho sự công bố nền Đệ Nhất Cộng Hòa, trong thực tế, chính là một hành động tuyên ngôn giành độc lập từ người Pháp của những người Việt Nam theo chủ nghĩa quốc gia. Việc này lúc đó khả dĩ bởi vì những người Việt quốc gia đã tìm được một đồng minh là Hoa Kỳ. Tuy nhiên, khi cuối cùng người Mỹ đạt được thỏa thuận với những người Cộng sản tạo điều kiện cho việc Hoa Kỳ từ bỏ các vấn đề Việt Nam, những người Việt quốc gia trở thành tứ cố vô thân.
Có lẽ là không có cách nào để có thể vượt qua chính cái khiếm khuyết chủ yếu này của việc không có một đồng minh đáng tin cậy trong khi những đồng minh của kẻ thù thì duy trì gắn bó cho đến cuối. Và có lẽ là không có cách nào để có thể vượt qua rào cản của việc bị liên kết, trong tâm trí của người Mỹ, với những thất bại cùa nền Đệ Nhất Cộng Hòa và của giai đoạn Đứt Quãng.
Nhưng có thể tranh luận, như một số các tác giả trong cuốn sách này sẽ làm, rằng nền Đệ Nhị Cộng Hòa đã hoàn toàn có thể nâng cao sự hiệu quả trong việc xoay xở với đồng minh Hoa Kỳ, bằng cách tham gia tích cực hơn vào không gian công luận Mỹ nhằm kéo dài và tối ứu hóa các cam kết của Hoa Kỳ vào sự tồn tại của Nam Việt Nam, bất kể sự gian khó khi mà người Mỹ đang bị hút vào những xung đột nội địa của chính họ…”
h1Bìa sách “Những Tiếng Nói Từ nền Đệ Nhị Cộng Hòa Nam Việt Nam (1967-1975)” (Ảnh: amazon.com)
Tìm đọc thêm:

Tuesday, October 25, 2016

Nguyễn Thị Từ Huy - Bộ phận nào trong xã hội có thể đẩy nhanh quá trình dân chủ hóa ?(IV)

Nguyễn Thị Từ Huy - Bộ phận nào trong xã hội có thể đẩy nhanh quá trình dân chủ hóa ?(IV)

Đầu năm 2016, ngay trước đại hội XII của đảng cộng sản Việt Nam, tôi có viết một loạt bài đặt vấn đề về khả năng cải cách hệ thống chính trị ở Việt Nam.


Kết quả hình ảnh cho Bộ phận nào trong xã hội có thể đẩy nhanh quá trình dân chủ hóa ?


Đầu năm 2016, ngay trước đại hội XII của đảng cộng sản Việt Nam, tôi có viết một loạt bài đặt vấn đề về khả năng cải cách hệ thống chính trị ở Việt Nam. Lúc đó, phải thừa nhận rằng tôi có đôi chút hy vọng khi diễn giải kết quả của đại hội như là sự thắng thế của những lãnh đạo muốn giữ một sự độc lập nhất định với Trung Quốc và muốn chống tham nhũng, mà dẫn đầu là ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư tái cử. Nhưng gần một năm đã trôi qua, trong khoảng thời gian đó bao nhiêu thảm hoạ môi trường, thảm hoạ xã hội, đã xảy ra, mà không một dấu hiệu nào cho thấy hệ thống lãnh đạo có mong muốn và có đủ khả năng cải cách. Trái lại, người ta chỉ thấy sự gia tăng bắt bớ và đàn áp nhân quyền, đàn áp báo chí, và gần đây nhất, mới ngày hôm qua, chính quyền còn đàn áp cả những người dân khốn khổ, những người dân đã bị dồn vào chỗ không còn phương tiện sống.

Đến lúc này đã có thể nói rằng, vì không có năng lực cải cách, hệ thống chính trị Việt Nam (vốn đã là nguyên nhân của mọi sự suy thoái trong xã hội và là nguyên nhân của sự kìm hãm phát triển, kìm hãm mọi phương diện) đã bước vào giai đoạn trầm kha với với vô số khối u đã đến hồi di căn vô phương cứu chữa. Nhìn đâu trong xã hội cũng thấy vấn đề : giao thông ư ? y tế ư ? môi trường ư ? kinh tế ư ? khoa học ư ? sản xuất ư ? giáo dục ư ? Có lĩnh vực nào là không có lời oán thán vang lên dậy đất ? Biển chết, đồng bằng khô cạn, trong khi thành phố lại ngập lụt, bão lũ tàn phá, nhà máy thuỷ điện xả lũ khiến dân phải chết, cá không chỉ chết vì nhà máy thép xả chất độc xuống biển miền trung, hàng tấn cá còn chết trắng cả thủ đô, và nhiều nơi khác trên đất nước. Cá chết vì độc tố, và người chết vì ung thư do hàng ngày đưa chất độc vào người thông qua thực phẩm.

Một hệ thống chính trị bất lực và thất bại. Uy tín của đảng cầm quyền đã sa sút tận đáy. Chỉ cần phân tích một ví dụ, trong vô vàn ví dụ, để làm dẫn chứng cho sự bất lực của hệ thống: ví dụ về việc chống tham nhũng.

Thất bại trong việc chống tham nhũng không chỉ biểu hiện ở chỗ một tội phạm tham nhũng như Trịnh Xuân Thanh có thể trốn thoát một cách dễ dàng. Mà giả sử có bắt được Trịnh Xuân Thanh thì việc chống tham nhũng cũng vẫn sẽ thất bại như thường. Bởi vụ xử Trịnh Xuân Thanh, nếu có thể xảy ra, chỉ thành công khi chính quyền dám đưa ra toà tất cả những yếu tố liên quan, từ người lái xe cho ông Thanh, chủ sở hữu của cái xe hơi đắt tiền do ông Thanh sử dụng, đến người bố có cái công ty đã đứng tên căn biệt thự xa hoa do ông Thanh sử dụng, đến cấp trên của ông Thanh là ông Đinh La Thăng, đối tượng trong nhiều bài viết trên blog của nhà báo Huy Đức trong đó ông Huy Đức đã vạch ra cụ thể những gì ông Thăng đã làm. Và ông Đinh La Thăng là uỷ viên Bộ chính trị, cơ quan quyền lực cao nhất nước, nơi quyết định mọi vấn đề của quốc gia. Loạt bài của nhà báo Huy Đức đã chạm trực tiếp đến uy tín của Bộ chính trị. Để xử vụ Trịnh Xuân Thanh còn phải đụng đến tất cả các nhân vật quan trọng tại những nơi ông Thanh từng làm việc, không chỉ Dầu khí, Bộ Công thương, Tỉnh uỷ tỉnh Hậu giang, mà còn phải đụng đến cả các nhân vật đã ký duyệt thuyên chuyển công tác cho ông Thanh, sau tất cả những sai phạm mà ông đã thực hiện, đó là Ban tổ chức Trung ương. Nếu luật pháp không xử được tất cả các đối tượng liên quan, thì Trịnh Xuân Thanh có quyền nói rằng ông ta bị oan, bởi ông ta không tham nhũng một mình. Còn người dân thì không nhìn vụ việc như là một vụ chống tham nhũng, mà như là một vụ thanh trừng phe cánh trong đảng. Vì thế, nếu không xử được đến tận mắt xích cuối cùng có liên quan đến vụ việc thì không thể coi đó là một thành công, dù có bắt và xử Trịnh Xuân Thanh. Vậy, ông Đinh La Thăng có bị đưa ra xử không ? Ban tổ chức Trung ương có bị đưa ra xử không ? Nếu ông Thăng bị xử và khai ra những người khác, cao hơn ông ta, thì những người đó có bị xử không ?

Tham nhũng là con đẻ của hệ thống chính trị độc tài độc đảng, trong đó luật pháp chỉ là công cụ của đảng cầm quyền. Và một khi pháp luật chỉ là công cụ cho một đảng phái thì nó đánh mất vai trò, đánh mất giá trị, và đánh mất hiệu lực của nó. Tham nhũng chỉ có thể bị hạn chế hoặc được giải quyết khi có một nền luật pháp công minh. Một nền luật pháp công minh lại không thể tồn tại trong chế độ độc tài độc đảng. Toàn bộ sự luẩn quẩn này cho thấy rằng hệ thống chính trị độc đảng hiện tại của Việt Nam là nguyên nhân đẻ ra tham nhũng và tự nó, bản thân hệ thống, không thể giải quyết vấn đề tham nhũng. Bằng chứng là đã xử Vinashin, Vinalines, nhưng, mượn cách nói của Huy Đức, các nhân vật như Trịnh Xuân Thanh và đồng chí của ông ta lại cho ra đời những Vinashin, Vinalines khác, trong khi mà các nhân vật hưởng lợi lớn nhất từ các vụ tham nhũng thì lại không thể đụng tới. Càng chống tham nhũng, càng thất bại, tham nhũng càng phát triển và mang những bộ mặt mới, những hình thái mới.

So sánh một chút để thấy rằng, nếu Thủ tướng Manuel Valls của Pháp mà ký quyết định thần tốc một cách mờ ám cho phép một công ty huỷ hoại môi trường cỡ Formosa hoạt động thì ông ta đã phải bị toà án sờ gáy từ lâu. Nicolas Sarkozy, sau khi rời khỏi ghế tổng thống liền bị gọi ra toà nhiều bận, dù rằng cho đến lúc này toà vẫn chưa có bằng chứng cho các nghi ngờ về sai phạm tiền bạc của ông ta, và vì thế ông ta vẫn ra tái tranh cử tổng thống. Nhưng giả sử các bằng chứng được thu thập thì ông ta nhất định vẫn sẽ phải hầu toà.

Đó là sự khác biệt căn bản giữa một nhà nước pháp quyền như Cộng hoà Pháp và một nhà nước đảng quyền như Việt Nam. Toà án Việt Nam bất lực, không thể sờ gáy các lãnh đạo cao cấp, vì họ được đảng độc quyền bảo trợ.

Tham nhũng sẽ tiếp tục là căn bệnh ung thư huỷ hoại dân tộc chừng nào quyền lực tuyệt đối còn nằm trong tay một đảng chính trị duy nhất, chừng nào còn chưa có tam quyền phân lập. Chừng nào mà cả ba nhánh quyền lực còn bị chi phối bởi sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng thì chừng đó mọi thứ vẫn còn tiếp tục suy thoái, tha hoá, và như những gì mà cựu Phó ban Tuyên giáo Trung ương Vũ Ngọc Hoàng đã nhìn thấy : nếu quyền lực tuyệt đối của đảng không bị kiểm soát thì đảng tất yếu sẽ suy thoái hơn nữa, và sự suy thoái của đảng sẽ dẫn tới sự sụp đổ chế độ.

Nói những điều trên để dẫn tới nhận định rằng thất bại trong việc quản lý, điều hành và giải quyết các vấn đề đất nước là điều không thể tránh khỏi khi mà Việt Nam vẫn duy trì mô hình chính trị độc tài độc đảng hiện tại. Đây là một tình thế đau xót mà chúng ta phải hình dung, bởi vì đó có thể là thực tế chờ đợi chúng ta : trước khi chế độ sụp đổ thì môi trường có thể đã bị huỷ hoại hết, dân có thể đã mất hết đường sống ; nghĩa là dân tộc có thể phải chịu nhiều hậu quả quá nặng nề trước khi chế độ sụp đổ.

Người Việt Nam, muốn tự cứu mình, không thể ngồi chờ chế độ sụp đổ.

Thất bại không thể tránh khỏi của chính quyền đương nhiệm, của đảng cầm quyền đương nhiệm, đòi hỏi ở Việt Nam phải hình thành những đảng phái chính trị khác, những đảng chính trị có khả năng giải quyết các vấn đề của quốc gia, có khả năng cứu nước, cứu môi trường, cứu dân tộc khỏi thảm hoạ diệt vong. Đòi hỏi này giờ đây đã là một đòi hỏi cấp bách, trước tình thế tuyệt vọng mà cả nước đang lâm vào hiện nay.

Nguyễn Thị Từ Huy
Paris, 19/10/2016

(Blog RFA)

Thần-kinh khốn nạn...

alt






             THẦN-KINH ỐN NẠN

Đó là hệ thống thần kinh mới, vừa được Giáo sư Ngô Bảo Châu, một nhà khoa học của Việt Nam tìm ra sau khi ông Vũ Đức Đam, trên cương vị Phó thủ tướng ký thế cho Thủ tướng chính phủ quyết định chấp thuận cho UBND thành phố Sơn La kinh phí 1.400 tỷ để xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh trong thành phố.

GS Ngô Bảo Châu viết trên Facebook của ông: “Trẻ con ăn không đủ no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang, mà bỏ ra 1400 tỷ để xây tượng đài thì hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh”.

Rõ ràng là GS Châu chơi chữ. Không thể nào một ông Phó Thủ tướng lại mắc bệnh thần kinh, có nghĩa là tâm thần không bình thường, ký những quyết định đi ngược lại với nhân văn, với đạo lý dân tộc. Ông chỉ có thể “khốn nạn” trong ý thức. Ông không xem trẻ em lê lết trong các mái trường không thua chuồng trại súc vật đầy dẫy tại các tỉnh biên giới mà Sơn La là một điển hình của sự nghèo túng cùng cực. Ông không hề nghĩ tới hàng chục ngàn hộ thiếu ăn quanh năm và đối với họ chỉ cần đủ ăn đã là hạnh phúc. Đối với họ Hồ Chí Minh chỉ là một cục đá được dẽo gọt chỉ để đứng nhìn sự thống khổ, kiệt quệ của họ, những người quanh năm không biết tới một mẩu thịt là gì.

                        alt

Họ túng đói và lê lết như những con thú hoang trong khi chính phủ của ông Vũ Đức Đam đang phải đối phó với nợ công, phải ăn xin tứ phương từ Mỹ với miếng bánh TPP, từ Trung Quốc với những khoản vay thắt cổ, từ Nhật với ODA dễ nuốt và ngay cả từ Việt kiều hải ngoại với câu chữ không biết hổ thẹn là gì, lại bỏ ra 1.400 tỷ xây một hình tượng đang mục nát trong trái tim quần chúng.

Với những sự thật không thể chối cãi ấy câu hỏi đặt ra tại sao chính phủ lại tiếp tục ký những quyết định trái với lòng dân, trái với lương tri của con người mà bất cứ một chính phủ, một nhà độc tài nào cũng đều tránh né?

Chỉ có thể xem đó là những thái độ khốn nạn. Sự khốn nạn lâu ngày thành nếp nghĩ, thành cách hành xử quen thuộc. Việc coi thường luân thường đạo lý trong huyết quản đã tạo nên một loại gene mới trong cơ chế cộng sản. Loại gene ấy biến thành hệ thần kinh chủ đạo, từ tư duy cho tới phản ứng, nó nằm song song với các hệ thần kinh khác như buồn, vui, giận, ghét. . . hệ thần kinh khốn nạn chỉ khác ở chỗ, nó tự đứng riêng và tự đánh bóng hay tôn tạo chính mình. Nó phản ứng với hệ thần kinh bình thường một cách bất bình thường. Khi nhân dân đói nó cho là nhân dân đủ ăn và GDP của họ ngày một cao hơn. Khi trẻ em thiếu trường, thiếu lớp nó cho đấy chỉ là một bộ phận rất nhỏ trong tổng thể phát triển của đất nước. Khi người dân phản ứng vì bị đẩy vào đường cùng nó cho là sự xúi giục của bọn phản động và phản ứng của nó không kém bất cứ cách hành xử côn đồ nào.

                        alt


Thần kinh khốn nạn tự nghĩ ra những kịch bản chỉ có trong giấc mơ của những kẻ sở hữu nó. Nhân dân vẫn yêu thương Hồ chủ tịch và họ có như cầu nhìn tượng của ông thay cơm. Nhân dân hãnh diện khẳng định ông là ánh sáng dẫn họ trên con đường….vạn dặm! Nhân dân sáng suốt tin rằng ông là ngôi sao không hể tắt và có ông thì người dân sẽ thấy đời đáng sống biết dường nào.

Một trong những người sở hữu thần kinh khốn nạn, Trần Bảo Quyến, Phó Giám đốc Sở VH-TT-DL tỉnh Sơn La cả quyết rằng: “Sau khi xây dựng tượng đài, Sơn La sẽ có cơ hội quảng bá về du lịch. Đây sẽ là điểm đến thú vị cho người dân đến tham quan và tìm hiểu về lịch sử Tây Bắc nói chung và Sơn La nói riêng. Hiện, Sở cũng đang nâng cấp nhà tù Sơn La và một số địa danh văn hóa khác”.

Nếu chú ý người dân sẽ lo sợ vô cùng khi tượng đài được xây dựng song song với việc nâng cấp nhà tù. Tham quan hay vào đó nằm nếu chống đối đề án thì có gì khác nhau?

Trần Bảo Quyến cho rằng: “Đã là tình cảm của nhân dân Tây Bắc không thể cân đong đo đếm được. Do đó, cá nhân nào nói lãng phí là chưa đúng”.

                           alt

Đúng, nó không hề là một đề án lãng phí. Nó không lãng phí mà là phá hoại. Phá hoại tới tận đáy cái nền của nhân bản. Tiêu diệt những gì ít ỏi còn lại trong lòng người dân đối với hình ảnh Hồ Chí Minh. Người miền núi vốn không được học hành tử tế họ chỉ biết ông Hồ là người cha già dân tộc theo tuyên truyền của bộ máy Đảng. Sau gần một thế kỷ người cha ấy chia cho đám con ruột là quan lại triều đình xây dựng những công trình để tư túi trên các đề án khốn nạn. Chỉ cần thông minh một chút là họ biết mình bị bóc lột, bị chà đạp tới xương khi con cái họ quần không có mà mặc, gia đình họ không có gạo đủ ăn phải lê lết trên những con ruộng bậc thang, đẹp thì có đẹp nhưng leo trèo trên ấy để kiếm từng hạt lúa thì người Kinh đã bỏ chạy từ xưa.

Chỉ tiếc một điều đồng bào miền Tây Bắc không mấy người có hệ thần kinh khốn nạn như quan đầu tỉnh Trần Bảo Quyến và do đó họ không thể tự bào chữa cho mình lý do họ quá yêu bác Hồ nên nhà nước cần phải dựng tượng của ông cho họ ngắm thay cơm.

Con cá gỗ còn tạm dùng để đánh lừa mình chứ tượng ông Hồ to quá mà lại làm bằng đá thì làm sao đem vào mâm cơm của họ để mà chấm, mà mút cho chén bắp trong bữa ăn thường nhật đậm đà hơn một chút?
 

Theo một số thông tin chúng tôi được các bạn bè trên thế giới chia sẻ về kinh phí xây dựng sau khi đã tính toán như sau: (*)

                         alt

(1) Quảng trường có sức chứa 20.000 người tính tối đa là 15ha (150.000 mét vuông), nếu tính đổ xi măng trọn gói với độ dày theo tiêu chuẩn quốc tế là 5 inch thì số lượng xi măng sẽ là 672,744.401 cubic feet = 24,916.459 cubic yards = 19,050 cubic meters.
Giá tiền công đổ xi măng hiện tại ở Mỹ là $80.00 per cubic yard. Tổng số tiền đổ xi măng cho 15ha (150 nghìn mét vuông) là $2,000.000 USD.

(2) Tượng đồng bronze loại tốt nhất, 1 tấn giá $8,000 USD, mỗi mét cao của một bức tượng trung bình là một tấn đồng. Tượng đồng cao 8 mét sẽ tốn $64,000 đô tiền đồng và công thiết kế nghệ thuật cho một tượng đồng tính tối đa là $500,000. Như vậy tượng đồng Bác Hồ ở Sơn La trị giá khoảng $564,000 USD.

(3) Đài tưởng niệm anh hùng liệt sỹ bằng xi măng giá $100,000 đô tiền xi măng, tiền công nghệ thuật (arts) là $300,000 đô, tổng cộng $400,000 đô

(4) Khu điều hành và đón tiếp; khuôn viên cây xanh giá tối đa là $300,000 đô để trồng cây xanh.

(5) Bảo tàng trưng bày hình ảnh HCM giống như ở Dalat giá khoảng $300,000 đô.

(6) Gắn bóng đèn chớp sáng với cả hệ thống cho cả khu vực trị giá tối đa là $200,000 đô tính luôn dây điện.

(7) Tiền qui hoạch đất và đền bù cho 85 hộ, mỗi hộ $15,000 đô (**), tổng cộng $1,275,000 đô.

Chúng ta cộng hết số tiền chi tiêu ước lượng là:
                             - $2,000,000
                             - $564,000
                             - $400,000
                             - $300,000
                             - $300,000
                             - $200,000
                             - $1,275,000
Tổng Cộng toàn bộ chi phí là $5,039,000 (110 tỷ)

Số tiền Lãnh Đạo Sơn La đòi hỏi là 1,400 tỷ, như vậy, (1,400 tỷ - 110 tỷ) = 1,290 tỷ.


Số tiền chênh lệch (tiền dư) là 1,290 tỷ, và đây là số tiền bỏ vào túi quan tham, đó là chưa kể giá vật liệu nêu trên là theo giá bên Mỹ, mắc gấp đôi giá ở Việt Nam. 



                                   http://haichantrieuam.com/ tinh-than-khon-nan.html




(*) Tất cả những khoản chi dụng này đều sẽ bị thất thoát và "bôi trơn" hết 1/3 hay hơn nữa. Và đã có "bôi trơn" thì tất nhiên phải có... "rút ruột".....

(**) Số tiền bồi thường quy hoạch này là số tiền "phong thần" chưa bao giờ có được ở VN, nhiếu lắm là 5, 7 ngàn đô và sau đó muốn lãnh được phải "bôi trơn" hoặc là... "vác lều bạt ra hè phố biểu tình hết năm này tháng khác...".