Thursday, August 13, 2015

Một tài liệu giá trị về lịch sử Việt Nam:
"Hòa bình của nấm mồ"


Xin đến bài phỏng-vấn cố Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu của tuần báo Đức Der Spiegel (Tấm Gương, Tấm Kiếng), số 50 năm 1979, do nhà văn Phạm Thị Hoài ở Đức dịch sang tiếng Việt. Bản chánh, tiếng Đức, đọc được ở link :http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-39685817.html

Tuần báo Der Spiegel là tờ báo có uy-tín và có số đọc giả lớn nhất ở Đức, mỗi tuần phát-hành trên một triệu bản.

Lời người chuyển bài: Đọc để hiểu được mặt trái một giai-đoạn lịch-sử của quê-hương mình ; hầu thương-cảm cho cuộc sống lầm-than và tủi-nhục của đồng-bào mình kéo dài cho đến ngày nay. Nhất là thấy rõ tư-cách của những tên hoạt-đầu chánh-trị : Sau khi gây tội ác, còn viết sách đặt chuyện để đổ-thừa, vu-oan và mạ-lị người đồng-minh nhỏ bé, nghèo-nàn, yếu-kém hơn mình. Tư-cách gì những hạng người như vậy.

Minh-Hồng

----------------------------------------------------------------

Hòa bình của nấm mồ




Cuối năm 1979, Cựu Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu, người ít khi lên tiếng từ khi sống lưu vong sau tháng Tư 1975, đã dành cho tạp chí Spiegel của Đức một cuộc phỏng vấn dài về kết cục của Chiến tranh Việt Nam.

alt

Nguyễn Văn Thiệu và Henry Kissinger

Cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trả lời phỏng vấn của Spiegel 1979
Phạm Thị Hoài (dịch)


Spiegel: Thưa ông Thiệu, từ 1968 đến 1973 Hoa Kỳ đã nỗ lực thương lượng hòa bình cho Việt Nam. Trong cuốn hồi ký của mình, ông Henry Kissinger, trưởng phái đoàn đàm phán Hoa Kỳ đã dùng nhiều trang để miêu tả việc ông, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, đã chống lại những nỗ lực nhằm đem lại hòa bình cho một cuộc chiến đã kéo dài nhiều năm, với hàng triệu nạn nhân và dường như là một cuộc chiến để "bóp nát trái tim Hoa Kỳ". Vì sao ông lại cản trở như vậy?

Nguyễn Văn Thiệu: Nói thế là tuyệt đối vô nghĩa. Nếu tôi cản trở thì đã không có Hiệp định Hòa bình năm 1973 – mặc dù, như ai cũng biết, đó không phải là một nền hòa bình tốt đẹp; hậu quả của nó ở Việt Nam là chứng chỉ rõ ràng nhất. Kissinger đại diện cho chính sách và lợi ích của chính phủ Mỹ. Là Tổng thống Nam Việt Nam, bổn phận của tôi là bảo vệ những lợi ích sống còn của đất nước tôi.

Tôi đã nhiều lần chỉ ra cho Tổng thống Nixon và TS Kissinger rằng, đối với một cường quốc như Hoa Kỳ thì việc từ bỏ một số vị trí không mấy quan trọng ở một quốc gia bé nhỏ như Nam Việt Nam không có gì đáng kể. Nhưng với chúng tôi, đó là vấn đề sinh tử của cả một dân tộc.

Spiegel: Kissinger không phủ nhận rằng cuối cùng ông cũng đồng ý. Nhưng ông ấy cũng nói rằng phải đàm phán lâu như vậy vì ông cản trở nhiều, rằng ông đồng ý với các đề xuất của Mỹ chỉ vì ông chắc mẩm rằng đằng nào thì Hà Nội cũng sẽ bác bỏ.

Nguyễn Văn Thiệu: Không đúng như vậy. Để chấm dứt một cuộc chiến tranh đã kéo dài gần 30 năm, người ta cần nhiều thời gian hơn là hai, ba ngày hay hai, ba tháng. Tôi hiểu rõ rằng đối với người Mỹ đã đến giúp chúng tôi, đây là cuộc chiến dài nhất trong lịch sử của họ. Có lẽ vì thế mà họ vội vã như vậy. Nhưng điều chúng tôi cần là một nền hòa bình lâu dài.

Spiegel: Kissinger có ý cho rằng ông không thực sự muốn ký kết một thỏa thuận về hòa bình, đúng ra ông ngầm mong phía miền Bắc cũng sẽ cứng đầu như ông. Kissinger viết rằng ông đồng ý với nhiều đề xuất từ phía Mỹ - trong tinh thần sẵn sàng không tuân thủ, chỉ vì trong thâm tâm ông không tin rằng hòa bình sẽ được ký kết. Có phải là trong khi đàm phán, ông đã bịp, với hy vọng là sẽ không bao giờ phải ngửa bài lên?

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Sao lại có thể nói là một dân tộc đã chịu đựng bao nhiêu đau khổ suốt 30 năm lại muốn kéo dài cuộc chiến? Kissinger muốn xúc tiến thật nhanh mọi việc để Mỹ có thể rút quân và tù binh Mỹ được thả. Mà có lẽ mục đích của chính phủ Mỹ cũng là cao chạy xa bay. Họ thì có thể bỏ chạy. Nhưng chúng tôi thì phải ở lại Nam Việt Nam.

Chúng tôi có quyền chính đáng để đòi hỏi một hiệp định hòa bình toàn diện. Không phải là vài ba năm hòa bình, rồi sau đó lại 30 năm chiến tranh.

alt

Nguyễn Văn Thiệu và Richard Nixon tại cuộc họp ở Midway 1969

Spiegel: Vậy tại sao ông lại đi trước cả người Mỹ và tự đề nghị Hoa Kỳ rút quân trong cuộc họp tại đảo Midway ở Thái Bình Dương tháng Sáu 1969, theo tường thuật của Kissinger?

Nguyễn Văn Thiệu: Trước khi họp ở Midway, việc chính phủ Mỹ dự định rút quân đã không còn là điều bí mật. Cho phép tôi nhắc để các ông nhớ lại, tin tức về việc Mỹ sẽ rút một số quân đã loan khắp thế giới, trước cuộc họp ở Midway. Vì sao? Theo tôi, chính phủ Mỹ muốn thả bóng thăm dò, tiết lộ thông tin trước cho báo chí và đẩy chúng tôi vào sự đã rồi.

Spiegel: Tức là ông đã nắm được tình hình?

Nguyễn Văn Thiệu: Đúng thế. Cuộc họp ở Midway nhằm hai mục đích. Thứ nhất, cho hai vị tân tổng thống cơ hội làm quen và bàn về đề tài Việt Nam. Điểm thứ hai đã vạch rất rõ là bàn về việc rút những toán quân Mỹ đầu tiên. Tôi đã không hình dung sai điều gì và đã làm chủ tình thế. Không có gì phải lo lắng, và tôi đã rất vững tâm.

Spiegel: Khi đề xuất Mỹ rút quân, ông có thật sự tin rằng Nam Việt Nam có thể chiến đấu một mình và cuối cùng sẽ chiến thắng trong một cuộc chiến mà hơn 540.000 lính Mỹ cùng toàn bộ guồng máy quân sự khổng lồ của Hoa Kỳ không thắng nổi không? Chuyện đó khó tin lắm.

Nguyễn Văn Thiệu: Không, đề xuất đó không phải của tôi. Tôi chỉ chấp thuận. Tôi chấp thuận đợt rút quân đầu tiên của Mỹ, vì Tổng thống Nixon bảo tôi là ông ấy gặp khó khăn trong đối nội và việc rút quân chỉ mang tính tượng trưng. Ông ấy cần sự ủng hộ của dư luận và của Quốc hội. Nhưng tôi cũng bảo ông ấy rằng: Ông phải chắc chắn rằng Hà Nội không coi việc bắt đầu rút quân đó là dấu hiệu suy yếu của Hoa Kỳ.

Spiegel: Và ông không nghĩ đó là khởi đầu của việc rút quân toàn bộ?

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi đã hình dung được rằng, đó là bước đầu tiên để cắt giảm quân số. Nhưng không bao giờ tôi có thể nghĩ Mỹ sẽ rút hẳn và bỏ rơi Nam Việt Nam. Tôi đã trình bày với Tổng thống Nixon rằng việc cắt giảm quân số sẽ phải tiến hành từng bước, như khả năng chiến đấu và việc tiếp tục củng cố Quân lực Việt Nam Cộng hòa cho phép – tương ứng với những viện trợ quân sự và kinh tế có thể giúp Nam Việt Nam tự đứng trên đôi chân của mình.

Quan trọng hơn, tôi đã bảo ông ấy phải yêu cầu Hà Nội có một hành động tương ứng đáp lại. Phía Mỹ đồng ý với tôi ở mọi điểm; về một sự rút quân từng bước và của cả hai phía...

Spiegel: ... và mang tính tượng trưng?

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi hiểu rõ rằng cuộc chiến ở Việt Nam cũng là một vấn đề đối nội của Hoa Kỳ. Và Tổng thống Nixon giải thích rằng ông ấy cần một cử chỉ tượng trưng để giải quyết vấn đề đó. Trước đó một tuần tôi đến Seoul và Đài Loan, tôi đã nói với Tổng thống Park Chung Hee và Tổng thống Tưởng Giới Thạch rằng tôi hy vọng việc rút quân sắp bàn với Tổng thống Nixon ở Midway chỉ là một sự cắt giảm quân số mang tính tượng trưng. Song tôi cũng lưu ý rằng nếu Hoa Kỳ muốn rút hẳn thì chúng tôi cũng không thể ngăn cản. Vậy thì đề nghị họ rút quân từng bước, đồng thời viện trợ để củng cố một quân đội Nam Việt Nam hùng mạnh và hiện đại, có thể thay thế người Mỹ, sẽ là hợp lý hơn. Không bao giờ tôi đặt giả thiết là lính Mỹ sẽ ở lại Việt Nam vĩnh viễn.

Spiegel: Mỹ vẫn đóng quân ở Hàn Quốc và Tây Đức mà.

Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng chúng tôi là một dân tộc rất kiêu hãnh. Chúng tôi bảo họ rằng, chúng tôi cần vũ khí và viện trợ, nhưng nhiệt huyết và tính mạng thì chúng tôi không thiếu.

Spiegel: Ông đánh giá thế nào về tình thế của ông khi ấy? Vài tháng trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Melvin Laird vừa đưa ra một khái niệm mới: "Việt Nam hóa chiến tranh". Trước đây người Mỹ chỉ nói đến việc "phi Mỹ hóa" cuộc chiến. Cái khái niệm mới ấy đã thể hiện rõ dự định rút khá nhanh của người Mỹ rồi, đúng không?

Nguyễn Văn Thiệu: Khi đến Sài Gòn vào tháng Bảy 1969, ông Nixon đã nhắc lại rằng ông ấy cần được sự hậu thuẫn của dư luận trong nước Mỹ. Tôi hiểu ông ấy. Nhưng ông ấy không hề tuyên bố rằng việc rút quân là một lịch trình mang tính hệ thống do sáng kiến của Mỹ. Ông ấy chỉ nói với tôi về những khó khăn trong nước, ở Mỹ, và đề nghị tôi giúp. Ông ấy bảo: "Hãy giúp chúng tôi giúp ông." Tôi đáp: "Tôi giúp ông giúp chúng tôi." Trong lần họp mặt đó, chúng tôi lại tiếp tục bàn về việc rút quân từng bước.

Spiegel: Nhưng không đưa ra một lịch trình cụ thể?

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Và ông Nixon lại hứa rằng việc rút quân của Mỹ sẽ phải đi đôi với những hành động tương ứng của Bắc Việt và phải phù hợp với khả năng phòng thủ của Nam Việt Nam cũng như phải phù hợp với việc Mỹ tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho Nam Việt Nam.

Spiegel: Ở thời điểm đó ông có nhận ra rằng nếu thấy cần thì Mỹ cũng sẽ sẵn sàng đơn phương rút quân không?

Nguyễn Văn Thiệu: Có, tôi đã ngờ. Nhưng lúc đó tôi vẫn rất vững tâm và tin tưởng vào đồng minh lớn của chúng tôi.

Spiegel: Có lẽ ông tin thế là phải. Cuốn hồi ký của Kissinger cho thấy khá rõ rằng chính phủ Nixon không thể dễ dàng "đình chỉ một dự án liên quan đến hai chính phủ, năm quốc gia đồng minh và đã khiến 31,000 người Mỹ phải bỏ mạng, như thể ta đơn giản chuyển sang một kênh TV khác."
Rõ ràng là người Mỹ muốn thoát khỏi Việt Nam bằng con đường đàm phán. Chỉ trong trường hợp cần thiết họ mới muốn đơn phương rút quân. Ông có đưa ra yêu sách nào liên quan đến những cuộc thương lượng giữa Washington và Hà Nội không?

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đã chán ngấy chiến tranh và quyết tâm chấm dứt nó qua đàm phán. Chúng tôi yêu cầu những kẻ xâm lăng đã tràn vào đất nước của chúng tôi phải rút đi. Tất cả chỉ có vậy.

Spiegel: Ông đã oán trách rằng sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam năm 1975 chủ yếu là do sau Hiệp định Paris, miền Bắc vẫn được phép đóng quân tại miền Nam. Ông khẳng định rằng mình chỉ chấp nhận sự hiện diện đó của miền Bắc trong quá trình đàm phán, còn sau khi ký kết thì Hà Nội phải rút quân. Nhưng Kissinger lại khẳng định trong hồi ký rằng ông thừa biết việc Hà Nội sẽ tiếp tục trụ lại ở miền Nam, và cho đến tận tháng Mười 1972 ông cũng không hề phản đối những đề xuất của phía Mỹ liên quan đến điểm này.

Nguyễn Văn Thiệu: Đó là một lời nói dối hết sức vô giáo dục của Kissinger, rằng tôi chấp thuận cho quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam. Nếu ngay từ đầu tôi đã chấp thuận như Kissinger nói thì lúc ông ấy cho tôi xem bản dự thảo, trong đó không có điều khoản nào về việc rút quân của Bắc Việt, tôi đã chẳng phản đối quyết liệt như thế.

Điểm then chốt nhất mà tôi dốc sức bảo vệ, từ đầu cho đến khi kết thúc đàm phán, chính là yêu cầu Hà Nội phải rút quân. Tôi đã tuyên bố rõ với Kissinger là nếu không đạt được điều đó thì không có ký kết.

Sau nhiều ngày tranh luận gay gắt, cuối cùng ông ta bảo: "Thưa Tổng thống, điều đó là không thể được. Nếu được thì tôi đã làm rồi. Vấn đề này đã đặt ra ba năm trước, nhưng phía Liên Xô không chấp nhận." Tôi hiểu ra rằng chính phủ Mỹ đã nhượng bộ trước yêu sách của Liên Xô, và đó là nỗi thất vọng lớn nhất của tôi.

Spiegel: Có lẽ Liên Xô không thể làm khác, vì Hà Nội không chấp nhận coi Nam Việt Nam là một quốc gia khác, và một thời gian dài họ còn phủ nhận việc họ đã đưa quân đội chính quy vào miền Nam.

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đã chiến đấu hơn 20 năm và học được rằng, đừng bao giờ tin lời Nga Xô và Hà Nội. Bắc Việt đóng quân ở cả Lào, Campuchia và Nam Việt Nam, tôi tin rằng một người mù cũng nhìn ra điều đó. Muốn chấm dứt chiến tranh thì chúng ta phải nhìn vào hiện thực chứ không thể chỉ nghe lời kẻ địch.

Spiegel: Ông có lập luận như thế với Kissinger không?

Nguyễn Văn Thiệu: Tất nhiên, và với cả Tướng Haig nữa. Tôi bảo ông ấy thế này: "Ông Haig, ông là tướng, tôi là tướng. Ông có biết một hiệp định hòa bình nào trong lịch sử lại cho phép kẻ xâm lăng tiếp tục đóng quân tại lãnh thổ mà nó xâm lược không? Ông có cho phép Liên Xô vào Hoa Kỳ đóng quân rồi tuyên bố rằng ông đã ký kết thành công một hiệp định hòa bình với Liên Xô không?"

Spiegel: Ông ấy trả lời sao?

Nguyễn Văn Thiệu: Ông ấy không trả lời được. Mà trả lời thế nào cơ chứ, chuyện đó hoàn toàn vô lý. Còn gì mà nói nữa.

Spiegel: Nhưng Kissinger thì có câu trả lời trong hồi ký. Ông ấy viết rằng khó mà bắt Hà Nội rút quân, vì họ hoàn toàn không sẵn sàng từ bỏ trên bàn đàm phán những thứ mà họ không mất trên chiến trường. Nhưng ông ấy cũng nói rằng trong Hiệp định Paris có một điều khoản không cho phép xâm lấn. Ông ấy đi đến kết luận rằng "lực lượng miền Bắc sẽ tự nhiên tiêu hao sinh lực và dần dần biến mất."

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi thấy chính phủ Mỹ và đặc biệt là TS Kissinger không hề rút ra được bài học nào khi phải đàm phán với cộng sản, sau những kinh nghiệm đau thương năm 1954 giữa Pháp và cộng sản Việt Nam và từ Chiến tranh Triều Tiên. Họ cũng không học được gì từ những cuộc đàm phán về Lào và Campuchia và cũng không nắm bắt được là nên xử sự thế nào với cộng sản và cần phải hiểu chiến lược và chiến thuật của cộng sản ra sao.

Tức là ta lại phải trở về với vấn đề rằng, vì sao TS Kissinger, người đại diện cho một quốc gia lớn và tự cho mình là nhà thương thuyết giỏi giang nhất, lại có thể tin rằng quân Bắc Việt đóng tại miền Nam sẽ không xâm lấn. Sao ông ấy có thể tin như vậy cơ chứ?

Ông ấy đủ sức kiểm soát từng tấc đất trên biên giới của Campuchia, và của Lào, và của Nam Việt Nam à? Dù có cả triệu nhân viên quốc tế giám sát, chúng tôi cũng không bao giờ có thể khẳng định là đã có đủ bằng chứng rằng không có xâm lấn. Sao ông ấy lại có thể tin những gì Bắc Việt nói. Ông ấy có thể tin lời cộng sản, nhưng chúng tôi thì không. Vì thế mà tôi đã cương quyết đòi Bắc Việt phải rút quân. Nếu họ thực sự muốn hòa bình thì họ ở lại miền Nam làm gì?

Spiegel: Vậy Kissinger nói sao?

Nguyễn Văn Thiệu: Còn nói gì được nữa? Ông ấy và chính phủ Mỹ chỉ muốn chính xác có một điều: rút khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt và đảm bảo việc trao trả tù binh Mỹ. Họ bảo chúng tôi là họ mong muốn một giải pháp trong danh dự, nhưng sự thực thì họ chỉ muốn bỏ của chạy lấy người. Nhưng họ lại không muốn bị người Việt và cả thế giới kết tội là đã bỏ rơi chúng tôi. Đó là thế kẹt của họ.

Spiegel: Kissinger viết rằng, ngay sau Chiến dịch Xuân-Hè 1972 của Hà Nội, các bên dường như đã đổi vai. Hà Nội đột nhiên muốn đàm phán trở lại, còn Sài Gòn thì muốn đánh cho đến khi giành toàn thắng.

Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn vô nghĩa! Ông TS Kissinger hiểu thế nào là chiến thắng? Bắc Việt đã đem chiến tranh vào miền Nam. Chúng tôi yêu cầu họ phải rút quân. Thế là chiến thắng hay sao? Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt tự coi mình là tù binh của miền Nam. Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt bồi thường cho tổn thất chiến tranh. Tôi chưa bao giờ đòi hỏi Bắc Việt giao nộp lãnh thổ. Tôi chưa bao giờ đòi có chân trong chính phủ ở Hà Nội. Vậy ông Kissinger hiểu thế nào về chiến thắng và toàn thắng?

Spiegel: Về vấn đề rút quân của miền Bắc, 31 tháng Năm 1971 là một ngày quan trọng. Kissinger cho biết là khi đó, trong các cuộc họp kín, Mỹ đã đưa ra yêu cầu hai bên cùng rút quân. Trong hồi ký, ít nhất ba lần TS Kissinger viết rằng không những ông được thông báo trước, mà ông còn chấp thuận.

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không bao giờ chấp thuận việc rút quân đơn phương. Từ cuộc họp ở Midway, tôi luôn luôn yêu cầu rút quân từng bước và cả hai bên cùng rút. Hoa Kỳ đã thay đổi lập trường và tìm cách ép chúng tôi, với những chiến thuật mà họ thường sử dụng, bằng cách huơ thanh gươm Damocles trên đầu tôi, chẳng hạn họ đem công luận Mỹ ra đe tôi, họ bảo: "Hình ảnh của ông tại Hoa Kỳ hiện nay rất tồi tệ!" Hoặc: "Quốc hội muốn cắt giảm viện trợ." Vân vân. Họ áp dụng đúng những chiến thuật đã biết, tiết lộ thông tin cho báo giới và đặt tôi trước sự đã rồi.

Nếu tôi từ chối, công luận sẽ quay ra chống tôi: "Ông ta đòi quá nhiều, ông ta sẽ không bao giờ cho Mỹ được rút, ông ta sẽ không bao giờ cho tù binh Mỹ được trở về." Thế là tôi luôn phải chấp thuận. Không phải tự nguyện, mà miễn cưỡng. Tôi phản đối làm sao được, khi lần nào họ cũng bảo rằng: "Ông mà chống thì sẽ bị cắt viện trợ."

Spiegel: Kissinger viết rằng trước bất kỳ một quyết định dù dưới hình thức nào, phía Mỹ cũng hỏi ý kiến ông trước.

Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, họ hỏi ý kiến tôi, nhưng chắc chắn không phải là để nghe tôi nói "Không", nếu đó là những quyết định phục vụ cho lợi ích của Hoa Kỳ. Họ ưa gây sức ép hơn, và đạt được gần như mọi thứ bằng cách đó.

Spiegel: Bây giờ Kissinger cay đắng chỉ trích về Chiến dịch Hạ Lào năm 1971. Ông ấy viết rằng, ông đã đồng ý rằng chiến dịch này nhất định phải thực hiện trong mùa khô. Vậy ý tưởng đó ban đầu là của ai?

Nguyễn Văn Thiệu: Của người Mỹ. Trước đó khá lâu, chúng tôi từng có ý định thực hiện, nhưng không đủ khả năng tiến hành một mình. Đến khi phía Mỹ đề xuất thì chúng tôi sẵn sàng đồng ý, để sớm chấm dứt chiến tranh. Chiến dịch đó do liên quân Việt-Mỹ thực hiện và được vạch ra rất rõ ràng: Chúng tôi tác chiến tại Lào, còn phía Mỹ thì hỗ trợ tiếp vận từ Việt Nam và từ biên giới.

Spiegel: Vì sao? Vì Quốc hội Mỹ có luật cấm quân đội Mỹ xâm nhập lãnh thổ Lào?

Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, tôi tin là vậy. Nhưng cũng vì chúng tôi không có đủ phương tiện để tiếp tế cho binh lính, và nhất là để cứu thương binh ra ngoài. Việc đó chỉ có thề thực hiện bằng trực thăng, và chỉ phía Mỹ mới có đủ trực thăng. Không có họ thì không đời nào chúng tôi đồng ý thực hiện chiến dịch tại Lào.

Spiegel: Kissinger viết rằng quân của ông gặp khó khăn khi yêu cầu không quân hỗ trợ, vì gần như không có báo vụ viên nói được tiếng Anh.

Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn không có vấn đề gì với việc hỗ trợ của không quân. Đôi khi không có thì chúng tôi cũng không lo lắng; chúng tôi có thể dùng pháo binh. Vấn đề là: trong ba ngày mở đầu chiến dịch, phía Mỹ đã mất rất nhiều phi công trực thăng. Vì thế mà họ chần chừ, không bay đúng thời điểm và ở quy mô cần thiết. Điều đó thành ra một vấn đề lớn với quân lực Nam Việt Nam.

Spiegel: Tinh thần binh lính bị suy sụp?

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi không đem được binh lính tử trận và thương binh ra ngoài. Không phải chỉ tinh thần binh lính, mà cả tiến độ của chiến dịch cũng bị ảnh hưởng.

Spiegel: Kissinger nêu ra một lý do khác. Rằng ông đã lệnh cho các sĩ quan chỉ huy phải thận trọng khi tiến về hướng Tây và ngừng chiến dịch nếu quân số tổn thất lên tới 3000. Kissinger viết rằng nếu phía Mỹ biết trước điều đó thì không đời nào họ đồng ý tham gia chiến dịch này.

Nguyễn Văn Thiệu: Đối với một quân nhân, định trước một tổn thất về quân số là điều phi lý. Nếu TS Kissinger nói thế thì ông ấy thật giàu trí tưởng tượng. Chúng tôi chỉ có thể tiến về phía Tây trong giới hạn mà trực thăng cứu viện có thể bay đến. Kissinger bảo là chúng tôi đã rút quân mà không báo cho phía Mỹ. Làm sao chúng tôi có thể triệt thoái trên 10,000 quân mà họ không hay biết gì?

Spiegel: Tức là ông đã thông báo cho họ?

Nguyễn Văn Thiệu: Ồ, tất nhiên. Để tôi kể cho ông nghe một câu chuyện. Hồi đó tờ Time hay tờ Newsweek có đăng bức hình một người lính Nam Việt Nam đang bám vào càng một chiếc trực thăng cứu viện. Bên dưới đề: "Nhát như cáy". Tôi chỉ cười. Tôi thấy nó tệ. Không thể ngăn một người lính lẻ loi hành động như vậy được. Nhưng báo chí lại kết tội lính Nam Việt Nam là hèn nhát và đồng thời giấu biến sự thật về tinh thần chiến đấu sút kém của phi công trực thăng Mỹ trong chiến dịch này.

Spiegel: Một điểm gây rất nhiều tranh cãi giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam là vấn đề ngưng bắn. Theo cuốn hồi ký của Kissinger thì ngay từ mùa Hè 1970 chính phủ Mỹ đã thống nhất về việc sẽ đề xuất một thỏa thuận ngưng bắn tại các chiến tuyến hiện có. Kissinger khẳng định rằng ông không chỉ chấp thuận mà còn ủng hộ đề xuất này.

Nguyễn Văn Thiệu: Đúng như vậy, tôi cũng cho rằng ngưng bắn phải là bước đầu tiên để đáp ứng một hiệp định hòa bình. Nhưng ngưng bắn ngay lập tức – và tôi xin nhắc lại: ngay lập tức – thì tôi không bao giờ đồng ý với Kissinger. Tôi bảo, chúng ta phải cân nhắc hết sức kỹ lưỡng việc này. Không thể thực hiện ngưng bắn trước khi tính kỹ việc ai sẽ giám sát việc ngưng bắn, nếu ai vi phạm thì hậu quả sẽ thế nào, hai bên sẽ đóng quân ở đâu, vân vân.

Spiegel: Kissinger viết: "Khi đó chúng tôi vẫn tưởng rằng chúng tôi và Thiệu cùng đồng hành hợp tác." Phía Mỹ đã không hiểu rằng ông đem những "chiến thuật né tránh" mà "người Việt thường áp dụng với người ngoại quốc" ra dùng.

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi là một nước nhỏ, gần như mọi thứ đều nhờ ở một đồng minh lớn và vẫn tiếp tục phải xin viện trợ dài hạn của đồng minh đó, không bao giờ chúng tôi lại cho phép mình dùng những thủ đoạn nào đó.

Spiegel: Khi Mỹ đã rút, còn Hà Nội thì được phép tiếp tục đóng quân ở miền Nam, chắc ông phải thấy là ông đã thua trong cuộc chiến này?

Nguyễn Văn Thiệu: Không hẳn, nếu chúng tôi tiếp tục được sự trợ giúp cần thiết từ phía Mỹ, như chính phủ Mỹ đã hứa khi chúng tôi đặt bút ký hiệp định. Ngay cả khi ký, tôi đã coi đó là một nền hòa bình tráo trở.

Nhưng chúng tôi vẫn tin rằng có thể chống lại bất kỳ sự xâm lăng nào của Bắc Việt. Vì hai lý do: Chúng tôi có lời hứa chắc chắn bằng văn bản của Tổng thống Nixon rằng Hoa Kỳ sẽ phản ứng quyết liệt, nếu Bắc Việt vi phạm hiệp định.

Spiegel: Mặc dù ông ấy không hề cho biết sẽ phản ứng bằng cách nào.

Nguyễn Văn Thiệu: Thứ hai, chúng tôi được đảm bảo là sẽ có đủ viện trợ quân sự và kinh tế cần thiết để chống Bắc Việt xâm lược. Nếu chính phủ Mỹ thực lòng giữ lời hứa thì chiến tranh có thể kéo dài, nhưng miền Nam sẽ không bị Bắc Việt thôn tính.

Spiegel: Về điều này thì ông và Kissinger ít nhiều đồng quan điểm. Ông ấy viết rằng chiến lược toàn cục có thể sẽ thành công, nếu Mỹ đủ khả năng hành động trước bất kỳ một vi phạm nào của Hà Nội và tiếp tục viện trợ đầy đủ cho miền Nam. Nhưng chuyện gì đã xảy ra? Kissinger quy lỗi cho vụ Watergate, vì sau đó Tổng thống Mỹ không còn đủ uy tín. Ông có nghĩ rằng vụ Watergate thực sự chịu trách nhiệm, khiến tất cả sụp đổ không?

Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không phải là người Mỹ. Tôi không muốn quét rác trước cửa nhà người Mỹ. Nhưng nếu người Mỹ giữ lời hứa thì đó là sự cảnh báo tốt nhất, khiến Bắc Việt không tiếp tục xâm lăng, và chiến tranh có thể sẽ dần chấm dứt.

Spiegel: Nếu Hoa Kỳ giữ lời thì theo ông, hiệp định hoàn toàn có thể thành công?

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi cho là như vậy.

Spiegel: Như vậy về tổng thể, Hiệp định Paris không đến nỗi tồi?

Nguyễn Văn Thiệu: Đó chắc chắn không phải là một hiệp định có lợi cho chúng tôi. Nó tráo trở. Nhưng đó là lối thoát cuối cùng. Ông phải hiểu rằng chúng tôi đã ký kết, vì chúng tôi không chỉ có lời hứa của chính phủ Mỹ như tôi đã nói, mà hiệp định đó còn được mười hai quốc gia và Liên Hiệp Quốc đảm bảo.

Spiegel: Trong cuốn hồi ký, TS Kissinger có những bình luận rát mặt về khá nhiều chính khách đầu đàn. Nhưng riêng ông thì bị ông ấy dành cho những lời hạ nhục nhất. Tuy đánh giá cao "trí tuệ", "sự can đảm", "nền tảng văn hóa" của ông, nhưng ông ấy vẫn chú tâm vào "thái độ vô liêm sỉ", "xấc xược", "tính vị kỷ chà đạp" và "chiến thuật khủng khiếp, gần như bị ám ảnh điên cuồng" trong cách ứng xử với người Mỹ của ông. Vì thế, cuối cùng Kissinger nhận ra "sự phẫn nộ bất lực mà người Việt thường dùng để hành hạ những đối thủ mạnh hơn về thể lực". Ý kiến của ông về những khắc họa đó thế nào?

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không muốn đáp lại ông ấy. Tôi không muốn nhận xét gì về ông ấy. Ông ấy có thể đánh giá tôi, tốt hay xấu, thế nào cũng được. Tôi muốn nói về những điều đã xảy ra giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam hơn.

Spiegel: Hay ông đã làm gì khiến ông ấy có cái cớ để viết về ông với giọng coi thường như thế?

Nguyễn Văn Thiệu: Có thể ông ấy đã ngạc nhiên vì gặp những người quá thông minh và mẫn cán. Có thể cũng do cái phức cảm tự tôn của một người đàn ông hết sức huênh hoang. Có thể ông ấy không tin nổi là người Việt đối thoại với ông ta lại địch được một người tự coi mình là vô cùng quan trọng.

Để tôi kể thêm một câu chuyện nữa: Ở đảo Midway tôi thấy buồn cười, vì thật chẳng bao giờ tôi có thể hình dung là những người như vậy lại tệ đến thế. Chúng tôi, gồm ông Nixon, ông Kissinger, phụ tá của tôi và tôi, gặp nhau ở nhà một sĩ quan chỉ huy hải quân ở Midway. Ở đó có ba chiếc ghế thấp và một chiếc ghế cao. Ông Nixon ngồi trên chiếc ghế cao.

Spiegel: Như trong phim Nhà độc tài vĩ đại của Chaplin? Hitler cũng ngồi trên một chiếc ghế cao để có thể nhìn xuống Mussolini, ngồi trên một chiếc ghế thấp hơn.

Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng tôi vào góc phòng lấy một chiếc ghế cao khác, nên tôi ngồi ngang tầm với Nixon. Sau buổi gặp đó ở Midway, tôi nghe bạn bè người Mỹ kể lại rằng Kissinger đã rất bất ngờ vì Tổng thống Thiệu là một người như vốn dĩ vẫn vậy.

Spiegel: Trong hồi ký, Kissinger phàn nàn là đã bị cá nhân ông đối xử rất tệ; ông bỏ hẹn để đi chơi trượt nước. Nixon còn quá lời hơn. Theo Kissinger thì Nixon đã gọi ông là "đồ chó đẻ" (son of a bitch) mà Nixon sẽ dạy cho biết "thế nào là tàn bạo".

Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không thể cho phép mình đáp lại những lời khiếm nhã, thô tục đó của Nixon, vì tôi xuất thân từ một gia đình có nề nếp.

Nếu tôi không tiếp TS Kissinger và Đại sứ Bunker thì đơn giản chỉ vì chúng tôi chưa chuẩn bị xong để tiếp tục đàm thoại. Họ đã cần đến 4 năm, vậy vì sao lại bắt tôi trả lời ngay lập tức trong vòng một tiếng đồng hồ? Có lẽ họ sẽ hài lòng, nếu chúng tôi chỉ biết vâng dạ. Nhưng tôi không phải là một người chỉ biết vâng dạ, và nhân dân Nam Việt Nam không phải là một dân tộc chỉ biết vâng dạ, và Quốc hội của chúng tôi không phải là một Quốc hội chỉ biết vâng dạ. Mà tôi phải hỏi ý kiến Quốc hội.

Spiegel: TS Kissinger viết rằng thái độ của ông với ông ấy chủ yếu xuất phát từ "lòng oán hận độc địa".

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi chỉ bảo vệ lợi ích của đất nước tôi. Dĩ nhiên là đã có những cuộc tranh luận nảy lửa, nhưng thái độ của tôi xuất phát từ tinh thần yêu nước của tôi.

Spiegel: Kissinger viết rằng ông ấy hoàn toàn "thông cảm với hoàn cảnh bất khả kháng" của ông. Ông có thấy dấu hiệu nào của sự thông cảm đó không?

Nguyễn Văn Thiệu: Không, tôi không thấy. Tôi chỉ thấy duy nhất một điều, đó là áp lực từ phía chính phủ Mỹ.

Spiegel: Kissinger viết rằng ông không bao giờ tham gia vào các buổi thảo luận về chủ trương chung. Ông ấy bảo rằng ông chiến đấu "theo kiểu Việt Nam: gián tiếp, đi đường vòng và dùng những phương pháp khiến người ta mệt mỏi hơn là làm sáng tỏ vấn đề", rằng ông "chê bai mọi thứ, nhưng không bao giờ nói đúng vào trọng tâm câu chuyện".

Nguyễn Văn Thiệu: Hãy thử đặt mình vào tình thế của tôi: Ngay từ đầu tôi đã chấp nhận để chính phủ Mỹ họp kín với Hà Nội. Kissinger bảo là đã thường xuyên thông báo cho tôi. Vâng, tôi được thông báo thật – nhưng chỉ về những gì mà ông ấy muốn thông báo. Nhưng tôi đã tin tưởng rằng đồng minh của mình sẽ không bao giờ lừa mình, không bao giờ qua mặt tôi để đàm phán và bí mật bán đứng đất nước tôi.

Các ông có hình dung được không: vỏn vẹn bốn ngày trước khi lên đường đến Hà Nội vào tháng Mười 1972, ông ấy mới trao cho tôi bản dự thảo mà sau này sẽ được chuyển thành văn bản hiệp định ở Paris, bằng tiếng Anh? Chúng tôi phải làm việc với bản dự thảo tiếng Anh này, từng điểm một.

Và bản dự thảo đó không phải do Nam Việt Nam cùng Hoa Kỳ soạn ra, mà do Hà Nội cùng Hoa Kỳ soạn ra. Các ông có thể tưởng tượng được điều đó không? Lẽ ra, trước hết phía Mỹ nên cùng chúng tôi thống nhất quan điểm về những điều kiện đặt ra cho hiệp định, và sau đó, nếu Bắc Việt có đề nghị gì khác thì Kissinger phải trở lại hội ý với chúng tôi. Nhưng ông ấy không hề làm như vậy.

Thay vào đó, ông ấy cùng Bắc Việt soạn ra các thỏa thuận rồi trình ra cho tôi bằng tiếng Anh. Các ông có thể hiểu cảm giác của tôi khi cầm văn bản của hiệp định hòa bình sẽ quyết định số phận của dân tộc tôi mà thậm chí không buồn được viết bằng ngôn ngữ của chúng tôi không?

Spiegel: Nhưng cuối cùng ông cũng có bản tiếng Việt?

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi cương quyết đòi bản tiếng Việt, đòi bằng được. Mãi đến phút cuối cùng ông ấy mới miễn cưỡng chấp nhận. Sau đó chúng tôi phát hiện ra rất nhiều cái bẫy. Tôi hỏi Đại sứ Bunker và Kissinger, ai đã soạn bản tiếng Việt. Họ bảo: một người Mỹ rất có năng lực thuộc International Linguistics College tại Hoa Kỳ cùng với phía Hà Nội. Nhưng làm sao một người Mỹ có thể hiểu và viết tiếng Việt thành thạo hơn người Việt. Và làm sao một người Mỹ có thể ứng đối bằng tiếng Việt với cộng sản Bắc Việt giỏi hơn chính chúng tôi? Đồng minh mà như thế thì có chân thành và trung thực không?

Spiegel: Một số quan chức cao cấp ở Hoa Kỳ từng nhận định rằng thực ra Kissinger chỉ cố gắng đạt được một khoảng thời gian khả dĩ giữa việc Mỹ rút quân và sự sụp đổ tất yếu của Nam Việt Nam. Trong cuốn sách của mình, Kissinger bác bỏ quan niệm đó. Ý kiến của ông thì thế nào?

Nguyễn Văn Thiệu: Bất kể người Mỹ nói gì, tôi tin rằng mục đích cuối cùng của chính phủ Mỹ là một chính phủ liên hiệp tại Nam Việt Nam.

Spiegel: Nhưng Kissinger đưa ra cả một loạt điểm để chứng minh rằng không phải như vậy.

Nguyễn Văn Thiệu: Chính phủ Mỹ tìm cách ép chúng tôi phải đồng ý. Để họ có thể hãnh diện là đã thoát ra được bằng một "thỏa thuận danh dự". Để họ có thề tuyên bố ở Hoa Kỳ rằng: "Chúng ta rút quân về nước, chúng ta đảm bảo việc phóng thích tù binh Mỹ." Và ở ngoài nước Mỹ thì họ nói rằng: "Chúng tôi đã đạt được hòa bình cho Nam Việt Nam. Bây giờ mọi chuyện do người dân Nam Việt Nam định đoạt. Nếu chính phủ liên hiệp biến thành một chính phủ do cộng sản chi phối thì đó là vấn đề của họ. Chúng tôi đã đạt được một giải pháp danh dự."

Spiegel: Kissinger viết như sau: "Nguyên tắc mà chúng tôi tuân thủ trong các cuộc đàm phán là: Hoa Kỳ không phản bội đồng minh."

Nguyễn Văn Thiệu: Ông cứ nhìn miền Nam Việt Nam, Campuchia và toàn bộ Đông Dương hiện nay thì biết. Khi tranh luận với các đại diện chính phủ Mỹ về hiệp định hòa bình, chúng tôi thường có ấn tượng rằng họ không chỉ đóng vai, mà thực tế là đã biện hộ cho ác quỷ.

Spiegel: Có bao giờ ông thấy một chút gì như là biết ơn đối với những điều mà người Mỹ đã làm để giúp nước ông không? Trong cuốn sách của mình, Kissinger viết rằng: "Biết công nhận những cống hiến của người khác không phải là đặc tính của người Việt."

Nguyễn Văn Thiệu (cười): Về những điều mà Kissinger viết trong cuốn sách của ông ấy thì tôi cho rằng chỉ một người có đầu óc lộn bậy, chỉ một người có tính khí tởm lợm mới nghĩ ra được những thứ như vậy. Trong cuốn sách đó ông ấy còn tỏ ý sợ người Việt sẽ đem những người Mỹ còn sót lại ra trả thù, sau khi Washington bỏ rơi chúng tôi. Không bao giờ chúng tôi làm những điều như thế, không bây giờ và không bao giờ.

Spiegel: Cá nhân ông có cảm thấy một chút hàm ơn nào với họ không?

Nguyễn Văn Thiệu: Hết sức thực lòng: Nếu chính phủ Mỹ không phản bội, không đâm dao sau lưng chúng tôi thì nhân dân Việt Nam mãi mãi biết ơn họ. Có lần, sau khi chúng tôi tranh luận rất kịch liệt về một văn bản trong hiệp định, một số thành viên trong chính phủ của tôi bảo rằng, nếu Kissinger lập công với miền Nam như ông ta đã lập công với miền Bắc thì may mắn biết bao. Tôi bảo họ: nếu ông ấy thương lượng được một nền hòa bình thực sự với Hà Nội thì miền Nam sẽ dựng tượng ông ấy, như MacAthur ở Nam Hàn. Nhưng đáng tiếc là đã không như vậy. Nhìn vào những hậu quả của nền hòa bình ấy: trại tập trung cải tạo, nạn đói, nhục hình tra tấn, hàng ngàn thuyền nhân bỏ mạng trên biển, và một cuộc diệt chủng tàn bạo hơn, hệ thống hơn và hoạch định hơn cả ở Campuchia, tôi nghĩ tốt nhất là người Mỹ nên tự đánh giá những điều mà ông Nixon và ông Kissinger đã gây ra cho miền Nam Việt Nam. Kissinger không có gì để tự hào về nền hòa bình mà ông ấy đã đạt được. Đó là hòa bình của nấm mồ.
Spiegel: Xin cảm ơn ông Thiệu đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.
__._,_.___

Friday, July 24, 2015



Trung Cộng muốn "Thoát-Mỹ" - Mà không dễ Vũ Hoàng & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA

Tình trạng "Mỹ thuộc" của nền kinh tế Trung Quốc là một nghịch lý mà chúng ta nên nhìn ra. Diễn đàn Kinh tế giải thích điều ấy hầu quý độc giả qua phần trao đổi sau đây của Vũ Hoàng cùng chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa...

2014-07-24

000_Hkg3450821.jpg-305.jpg
Nhân viên một ngân hàng tỉnh Tứ Xuyên - Trung Quốc 
đang xếp đôla Mỹ bên cạnh đồng nhân dân tệ
AFP PHOTO

Tình trạng "Mỹ thuộc" của nền kinh tế Trung Quốc là một nghịch lý mà chúng ta nên nhìn ra. Diễn đàn Kinh tế giải thích điều ấy hầu quý độc giả qua phần trao đổi sau đây của Vũ Hoàng cùng chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa...

Vấn đề sinh tử của Bắc Kinh

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, thống kê từ bộ Ngân khố Hoa Kỳ ngày Thứ Tư 16 tuần qua cho thấy Trung Quốc mua Công khố phiếu Mỹ tới mức dồn dập chưa từng thấy kể từ năm 1977 là khi Hoa Kỳ bắt đầu bút ghi loại nghiệp vụ này. Theo dõi thị trường tín dụng Mỹ, ông giải thích thế nào về hiện tượng ấy khi người ta cứ cho rằng Bắc Kinh nắm dao đằng chuôi và có thể gây khó cho Hoa Kỳ khi giảm dần số lượng Công khố phiếu họ vẫn mua của Mỹ?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi thiển nghĩ đây là cơ hội cho chúng ta nhìn ra quan hệ kinh tế giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc để thấy là ngược với nhận thức của nhiều người, kể cả các chính trị gia Mỹ, kinh tế Trung Quốc quá lệ thuộc vào nước Mỹ! Và đây là vấn đề sinh tử của Bắc Kinh.

Trước hết, xin nói về bối cảnh thì từ vụ khủng hoảng rồi Tổng suy trầm năm 2008, Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ có biện pháp kích thích kinh tế bất thường là hạ lãi suất tới sàn rồi mua vào trái phiếu và trả bằng tiền được tá ghi trong sổ sách kế toán của ngân hàng để các ngân hàng có thêm thanh khoản nên cho vay ra dễ dàng. Từ Tháng Năm của năm ngoái, khi kinh tế Mỹ có chiều hướng khả quan hơn thì Ngân hàng Trung ương Mỹ làm thế giới chấn động qua dự tính "vuốt nhọn" chính sách tiền tệ, tức là giảm dần mức độ bơm tiền và còn có thể nâng lãi suất.

Khi thu vào Mỹ kim thì họ làm gì để tiền đó đó khỏi mất giá? Họ mua tài sản tại Mỹ, mà loại tài sản có mức an toàn nhất vì coi như được Chính quyền Mỹ đảm bảo chính là Công khố phiếu. 
-Nguyễn-Xuân Nghĩa

Khi đó, các thị trường dự đoán là phân lời trái phiếu cùng lãi suất tại Mỹ sẽ tăng. Điều ấy chưa xảy ra, phân lời trái phiếu Mỹ lại giảm và giá công khố phiếu lại tăng. Tức là có chủ nợ sẵn sàng cho Mỹ vay tiền bằng cách mua vào Công khố phiếu vì thế giá mới tăng và phân lời mới hạ. Lúc đó, người ta mới thấy vai trò của Trung Quốc là năm nay họ mua thêm Công khố phiếu Mỹ với mức chưa từng thấy và tính đến cuối Tháng Năm vừa qua thì làm chủ một khoản nợ gồm Công khố phiếu và cả trái phiếu ngắn hạn lên tới một ngàn 271 tỷ Mỹ kim, bằng 10,6% tổng số Công khố phiếu Mỹ.

Vũ Hoàng: Ông vừa cho biết Trung Quốc làm chủ hơn 10% tổng số nợ dưới dạng Công khố phiếu của Mỹ mà lại nói rằng kinh tế Trung Quốc lệ thuộc vào Hoa Kỳ thì nhiều thính giả của chúng ta tất nhiên là không hiểu. Vì vậy, để khởi đầu, xin ông giải thích cho nghịch lý đó.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trong chuyện này, ta tìm hiểu hai lĩnh vực là tài chính và thương mại, hay ngoại hối và ngoại thương, thì may ra sẽ thấy được nghịch lý ấy.

Trước hết, ta bay qua bên kia đại dương để xem giới hữu trách kinh tế tại Bắc Kinh suy tính gì. Từ Đại hội 18, họ cứ nói đến tái cân bằng cơ chế kinh tế, cụ thể là nâng sức tiêu thụ nội địa và giảm dần sự lệ thuộc vào đầu tư và xuất khẩu. Họ chưa làm được chuyện ấy mà vẫn cố bán hàng nhiều hơn với giá rẻ hơn. Một cách kích thích xuất khẩu là can thiệp vào thị trường ngoại hối, là mua vào Mỹ kim và bán ra đồng nội tệ, tức là đồng Nguyên mà họ cứ gọi là "Nhân dân tệ" trong tinh thần mị dân. Khi thu vào Mỹ kim thì họ làm gì để tiền đó đó khỏi mất giá? Họ mua tài sản tại Mỹ, mà loại tài sản có mức an toàn nhất vì coi như được Chính quyền Mỹ đảm bảo chính là Công khố phiếu. Nôm na là Bắc Kinh bóp cổ người dân để bán hàng rẻ, và thu về một dự trữ ngoại tệ cứ được ca tụng là kỷ lục của thế giới, vì lên tới gần bốn ngàn tỷ đô la, rồi suy đi tính lại thì vẫn lại cho Mỹ vay tới hơn một phân tư chỉ vì đấy là nơi chọn mặt gửi vàng an toàn nhất!
“Bụt chùa nhà không thiêng”

Một nông dân Trung Quốc tận dụng những mảnh đất để trồng rau, phía sau là dự án nhà cao từng ở An Huy, Trung quốc. AFP
Một nông dân Trung Quốc tận dụng những mảnh đất để trồng rau, 
phía sau là dự án nhà cao từng ở An Huy, Trung quốc. AFP

Vũ Hoàng: Ông trình bày từ giác độ của Trung Quốc, nhưng nhiều người ở tại Hoa Kỳ lại cứ lo Trung Quốc có thể tẩy chay thị trường trái phiếu Mỹ tức là không cho Hoa Kỳ vay tiền nữa. Ông giải thích thế nào về chuyện đó?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ rằng nhiều khi báo chí và các chính trị gia không hiểu hoặc muốn tác động vào dư luận theo chủ ý riêng của họ nên cứ hăm dọa chuyện khôi hài đó.

Trên diễn đàn này, cách đây mấy năm chúng ta có nhắc đến lời than của một viên chức cao cấp tại Bắc Kinh, rằng "ghét Mỹ lắm mà vẫn phải mua Công khố phiếu của Mỹ"! Thật ra, trị trường trái phiếu Mỹ có hai ưu điểm là sâu rộng và an toàn hơn hẳn mọi thị trường khác trên thế giới. Sâu vì lớn hơn tổng số thị trường của năm nước lớn nhất sau Mỹ và an toàn vì có thanh khoản cao, tức là khi cần rút ra để lấy về tiền mặt thì rất nhanh và dễ. Nhìn cách khác, nếu có tài sản mà muốn lưu giữ dưới dạng ngoại tệ, ta có thể chọn đồng Euro, đồng Yen Nhật, đồng Anh kim hay Phật lăng Thụy Sĩ, v.v.... Trong số này, nhiều đồng bạc có khi vững giá hơn Mỹ kim, nhưng thị trường lại quá nông và hẹp, thí dụ như nếu rút ra 100 tỷ là gây chấn động và có khi bị lỗ nặng.

Sau cùng cũng cần nói thêm chuyện "bụt chùa nhà không thiêng". Người ta cứ ca tụng kinh tế Trung Quốc, nhưng nếu đầu tư vào thị trường ấy mà an toàn và có lời thì tại sao Bắc Kinh phải gửi tiền qua biển cho Mỹ vay?

Vũ Hoàng: Từ lĩnh vực tài chính ta bước qua lĩnh vực ngoại thương. Thưa ông, nếu kinh tế của Trung Quốc lệ thuộc vào Hoa Kỳ thì tại sao nước Mỹ cứ bị nhập siêu, tức là nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, khi mua bán với Trung Quốc?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Quả thật là nước Mỹ có gặp vấn đề ấy, nhưng nó được khuếch đại và gây ấn tượng sai lạc, có khi là với chủ đích chính trị mà truyền thông không hiểu rõ. Một lối nhìn khác là ta nên thấy ra mối lo của Bắc Kinh khi kinh tế mắc bệnh nghiện xuất khẩu!

Hoa Kỳ có một nhược điểm kinh tế mà lại là ưu điểm xã hội là có mức tiêu thụ quá cao, tới 70% Tổng sản lượng GDP. Tôi nói là ưu điểm xã hội vì cho thấy tư thế và khả năng chọn lựa của người dân, là điều Trung Quốc không có vì tiêu thụ bị đè nén và giảm dần từ nhiều năm qua.

Thế dân Mỹ tiêu thụ những gì? Họ chủ yếu mua hàng hóa và dịch vụ của Mỹ, xin tính tròn cho dễ nhớ là tới 88% tổng số tiêu thụ là của nội địa, chỉ có 12% là nhập từ ngoài, trong số này nhiều sản phẩm lại do doanh nghiệp Mỹ góp phần làm ra và xuất ngược về Mỹ. Nghĩa là chỉ có 12% thị trường tiêu thụ của Mỹ mà lại là nguồn sống cho rất nhiều quốc gia trên thế giới.

Vũ Hoàng: Ông vừa nói trong số hàng nhập vào Mỹ lại có nhiều sản phẩm do doanh nghiệp Mỹ chế tạo từ bên ngoài, thí dụ như tại Trung Quốc, nên có thể kiếm lời ngay từ gốc. Phải chăng, con số gọi là nhập siêu của Mỹ với Trung Quốc thật ra lại không nặng như vậy.

Người ta cứ ca tụng kinh tế Trung Quốc, nhưng nếu đầu tư vào thị trường ấy mà an toàn và có lời thì tại sao Bắc Kinh phải gửi tiền qua biển cho Mỹ vay? 
-Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Cho dễ nhớ thì tôi xin nêu vài thí dụ.
Thứ nhất là trong số hàng tiêu thụ nhập vào Mỹ, chỉ có gần 3% là đến từ Trung Quốc, bên trong thì hơn phân nửa là do công ty Mỹ nắm lấy từ khi hàng cập bến bên Tầu, chở qua đây bán cho nhà tiêu thụ cuối cùng ở Mỹ. Nói nôm na thì khi mua một đô là hàng "Made in China", dân Mỹ chi 55 xu cho người Mỹ tại Mỹ đã. Mà 45 xu kia cũng chẳng lọt hết vào tay Trung Quốc. Thí dụ kia từ một kinh tế gia của Ngân hàng Dự trữ Mỹ tại Dallas sẽ làm rõ ra điều ấy.

Giả dụ như tôi bỏ ra 500 đô la để mua tại Cali một cái iPhone ráp chế bên Tầu. Về nhà tìm hiểu thêm mới biết là để có món hàng loại sang gọi là "Made in China" thì Trung Quốc phải mua bộ nhớ và âm thanh của Mỹ mất 11 đồng, mua linh kiện xử lý và thu hình từ các xứ khác mất 162 đô la, tổng cộng là mất 173 đô la. Rồi tốn thêm bảy đồng ráp chế trước khi bán qua Mỹ được 180 đồng. Các doanh nghiệp Mỹ tốn 180 đồng để mua một sản phẩm ráp chế bên Tầu rồi tính thêm chi phí này nọ trước khi bán cho tôi lấy 500 đồng.

Từ nghiệp vụ ấy, bà nhân viên Bộ Thương Mại Hoa Kỳ thì bấm máy ghi rằng Mỹ bán hàng vặt cho Tầu được có 11 đồng mà mua của Tầu 180 đồng nên bị nhập siêu mất 169 đồng! Đó là 162 đồng do Trung Quốc bỏ ra để mua linh kiện từ xứ khác, cộng thêm bảy đồng ráp chế. Trong khi ấy, cô bí thư tại Bắc Kinh lè lưỡi ghi bằng bút chì phần đóng góp của Trung Quốc cho dự án iPhone đó là vỏn vẹn có bảy đồng!

Vũ Hoàng: Qua mấy con số rất vui đó thì có lẽ ta thấy sức nặng ngoại thương của Trung Quốc với Mỹ thật ra không nặng như người ta thường nghĩ! Thưa ông, có phải vậy không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi tin là lãnh đạo Bắc Kinh ý thức được nhược điểm bên trong mà chưa thể cải sửa hay cải tiến được. Họ tự khoe là công xưởng toàn cầu, thực ra thì bán hai chục triệu cái áo hay chục triệu đôi giầy mới đủ tiền mua một máy bay Boeing. Mà loại sản phẩm ráp chế như giày dép áo quần, hay cả máy điện thoại loại khôn thì doanh nghiệp Mỹ có thể làm hoặc mua của xứ khác, chứ Trung Quốc không có nhiều chọn lựa khi phải mua máy bay.

Ta thấy ra sự khác biệt của nền kinh tế khi Hoa Kỳ, hay Âu Châu, Nhật Bản và cả Nam Hàn đã tiến tới hình tháí hậu công nghiệp với trị giá gia tăng rất cao của dịch vụ và trí tuệ mà Trung Quốc mới chỉ đi vào lĩnh vực chế biến ở ngọn chứ không có gốc. Cũng vì vậy nên Bắc Kinh cố đi tắt bằng thủ đoạn ăn cắp sản phẩm trí tuệ và bí mật kỹ thuật của xứ khác, mà vẫn không xong.

Vũ Hoàng: Bây giờ thì có lẽ thính giả của chúng ta hiểu ra nghịch lý mà ông nói là kinh tế Trung Quốc ở vào tình trạng "Mỹ thuộc". Kết luận của ông là gì?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Kinh tế Hoa Kỳ và cả Âu Châu nữa có nội lực riêng nên ít lệ thuộc vào xuất nhập cảng, tức là ít lệ thuộc vào xứ khác. Kinh tế Trung Quốc thì lệ thuộc vào xuất cảng đến gần phân nửa, tức là gấp đôi Hoa Kỳ và thực tế thì nằm trong vòng kiềm tỏa của Mỹ. Chuyện phũ phàng ấy, lãnh đạo Bắc Kinh có biết và cũng muốn thoát mà không xong. Với khối dự trữ ngoại tệ khổng lồ, họ được cái danh hão để hù dân là trở thành chủ nợ của nước Mỹ với một ngàn hai trăm tỷ Công khố phiếu Hoa Kỳ ở trong tay. Thật ra, họ cứ nơm nớp lo là khoản tài sản đó mất giá. Bây giờ còn lo thêm là vì nội tình bất ổn, và nhân công có tay nghề thì ít nên cứ đòi tăng lương làm cho giới đầu tư sẽ tìm xứ khác làm ăn. Tôi nghĩ lãnh đạo Bắc Kinh muốn "Thoát Mỹ" mà không nổi!

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi hữu ích này.


Bàn ra tán vào (0)

Comment




  • Email:

Thursday, June 18, 2015

9/11: Do Thai la thủ phạm



Nội dung chính của tài liệu nầy lấy từ Information Undergroundforum, tháng 5/2009, với tựa đề "Israeldid 9/11 - All the proof in the world". Đây chỉ là một trong số vài phiên bản khác nhau về đề tài nầy. –


** Nội dung chính của tài liệu nầy lấy từ Information Undergroundforum, tháng 5/2009, với tựa đề "Israeldid 9/11 - All the proof in the world". Đây chỉlà một trong số vài phiên bản khác nhau về đề tài nầy. – 
Đỉnh Sóng 


Khi một câu hỏi trên tất cả những câu hỏi khác mà câu trả lời hầu như chắc chắn sẽ nêu đích danh các thủ phạm. Câu hỏi là “Cui bono” (Ai được lợi?) Nếu những kẻ bị lên án đồng thời được xem là có cả động cơ lẫn phương tiện thì ở Hoa Kỳ người ta nói chắc chắn những kẻ đó là thủ phạm. Và biến cố 9/11 cũng thế. Những phiên bản chính thức về biến cố 9/11 hiển nhiên là vô lý, vì, cho đến nay, chỉ có hai tổ chức trên toàn thế giới có được kỹ năng, phương tiện, quyền truy cập và bảo vệ chính trị cần thiết để vừa thực hiện vụ 9/11 vừa tiến hành bao che. Hai tổ chức đó là những Cơ Quan Tình Báo –CIA của Hoa Kỳ và Mossad của Israel - cơ quan nầy được xem là có những động cơ thôi thúc nhất. Những động cơ nầy ăn khớp tuyệt vời với nghị trình của nhóm thảo thuyết bảo thủ PNAC (Project for the New American Century), với nhu cầu công khai đặt ra là phải có “một biến cố thảm khốc, và xúc tác – như một tân Trân Châu Cảng” đẻ động viên dư luận cho những cuộc chiến tranh đã hoạch định, với hệ quả là tiêu diệt những kẻ thù của Do Thái.
Ai kiểm soát Tòa Tháp Đôi
Bước thứ nhất để chuẩn bị cho những vụ tấn công 9/11 là nắm quyền kiểm soát Trung Tâm World Trade Center (WTC) Điều nầy là then chốt vì không nắm được quyền kiểm soát toàn bộ thì việc gài những chất nổ để đánh sập toà nhà sẽ gần như bất khả thi vì rủi ro bị phát hiện rất lớn.
Bốn tay đầu sỏ trong hệ thống Do Thái
Larry Silverstein – Silverstein là một thương gia Mỹ gốc Do Thái ở New York. Vào ngày 24/7/2001, Silverstein có được một hợp đồng thuê toàn bộ WTC 99 năm. Hai tòa tháp thực sự gần như chẳng đáng giá gì vì tràn ngập những amiăng, nhưng Larry “cảm thấy rất muốn có được chúng.” Silverstein thường ăn điểm tâm ở nhà hàng Windows on the World (lầu 107, North Tower) mỗi sáng, nhưng y vắng mặt ở buổi điểm tâm đó vào buổi sáng 11 tháng 9. Hai người con của Silverstein – cùng làm việc trong Tòa Tháp Đôi – cũng quyết định nghỉ việc hôm đó. Silverstein được hảng bảo hiểm trả hơn $4.5 tỉ do tòa nhà bị phá hủy. Silverstein rất thân tình với Rupert Murdoch, một tay trùm truyền thông gốc Do Thái, với Ariel Sharon, cựu tổng thống Do Thái, cũng như với Thủ Tướng Do Thái PM Benjamin Netanyahu. Silverstein thân thiết với Netanyahu đến độ, theo tờ báo Do Thái Haaretz, y thường nói chuyện với ông ta qua điện thoại mỗi chủ nhật.
Frank Lowy –Lowy, một người Do Thái sinh ở Tiệp Khắc, là chủ nhân của Westfield America, một trong những tổ hợp trung tâm thương mại lớn nhất thế giới. Lowy đã thuê khu thương mại trung tâm (Mall) ở WTC , chiếm khoảng 427,000 feet vuông diện tích bán lẻ của lầu. Lowy cũng là bạn bè thân thiết với những viên chức cao cấp Do Thái như Ehud Olmert, Ariel Sharon, Bibi Netanyahu, và Ehud Barak. Frank Lowy không có mặt tại Tòa Tháp Đôi ngày 9/11.
Lewis Eisenberg– Eisenberg là giám đốc của Port Authority of NewYork và đã chấp thuận hợp đồng thuê phố cho Silverstein và Lowy.Eisenberg là một người cống hiến tiền quan trọng cho chiến dịch tranh cử tổng thống của Bush-Cheney, cũng như là một đối tác trong ngân hàng Do Thái Goldman-Sachs. Eisenberg từng là một thành viên của Hội Đồng Planning Board của nhóm áp lực chính phủ thân Do Thái mệnh danh là United Jewish Appeal/United Jewish Federation.
Estée Lauder–Trùm tỉ phú mỹ phẩm Estée Lauder là chủ tịch ủy ban tư hữu hóa của Thống Đốc New York George Pataki. Y là nhân vật then chốt đứng ra vận động hành lang để tư hữu hóa WTC – và y cũng đóng vai trò then chốt trong việc tư hữu hóa căn cứ không quân Stewart Air Force Base. Lạ thay, đường bay của phi vụ 175 và 11 lại trực tiếp gặp nhau trên phi trường nầy. Lauder hoạt động tích cực trong nhiều tổ chức Do Thái và đã thành lập một trung tâm cho cơ quan tình báo Mossad ở Herzliya, Do Thái, mang tên Lauder School of Government Diplomacy and Strategy. Lauder được nghi là tay đầu sỏ trong kế hoạch 9/11.
An ninh của World Trade Center trong tay Do Thái
Yếu tố kiểm soát then chốt thứ nhì là an ninh cho WTC . Yếu tố nầy cần có để cho phép truy cập vào những khu vực chiến lược của trung tâm để đặt chất nổ trong giai đoạn trước khi xảy ra các cuộc tấn công. Hợp đồng điều hành an ninh tại WTC được giao cho Kroll Associates sau vụ đánh bom năm 1993. Kroll còn có biệt hiệu là "Wallstreet's CIA". Hợp đồng nầy do cơ quan Port Authority của New York chấp thuận, và Kroll Associates được trả $2.5 triệu để tăng cường lại hệ thống an ninh cho WTC. Chủ nhân của Kroll Associates là hai tay Do Thái tên là Jules & Jeremy Kroll. Quản đốc của Kroll Associates lúc bấy giờ là Jerome Hauer, và tay nầy cũng được chọn để điều hành cơ quan Office of Emergency Management (OEM) của Thị Trưởng Guiliani từ 1996 đến 2000. Y là nhân vật chủ chốt đã vận động để cơ quan nầy được đặt để trong WTC Building7 của Silverstein (tòa nhà thứ ba sẽ bị đánh sập trong vụ 9/11). Jerome Hauer cũng là người Do Thái và là một tay Zionist sừng sỏ. Rose Muscatine Hauer, mẹ của Hauer, là chủ tịch danh dự của phong trào Lập Quốc Israel, một trong những tổ chức Zionist trung tâm dính líu trong việc thành lập và hỗ trợ Nhà Nước Israel. Chính Jerome Hauer là người đã khuyến cáo Tòa Bạch Ốc xử dụng "CIPRO," một loại kháng sinh chống Anthrax – một tuần lễ trước vụ tấn công Anthrax qua bưu điện. Hauer là một “chuyên viên” về khủng bố sinh học (Bio-Terrorism), nhưng phản ứng của y trong vụ tấn công Anthrax qua bưu điện lại chậm chạp, và y lợi dụng thời cơ để nhắc đi nhắc lại điệp khúc "Osama Bin Laden."
Ai giết John O'Neil?
John O'Neil, một cựu đặc vụ FBI, trước kia tình cờ lại được giao nhiệm vụ điều tra Bin Laden, và nay được Jerome Hauer thuê làm giám đốc an ninh tại WTC. Quả là ngoạn mục khi O’Neil lại bị giết ngay trong ngày làm việc đầu tiên của ông tại WTC – 9/11. Điều quan trọng cần ghi nhớ là O’Neil đã nghĩ việc ở FBI sau khi cuộc điều tra của ông về vụ tấn công khu trục hạm U.S.S. Cole bị Đại Sứ Mỹ gốc DoThái ở Yemen là Barbara Bodine cản trở và phá hoại. Lý do là vì vụ tấn công đó có thể không do Al Qaeda thực hiện. Khu trục hạm nầy bị hỏa tiễn Do Thái bắn để chuyển hướng dư luận chống lại người Ả Rập (AlQaeda), cũng như để trả đũa đảng Dân Chủ đã không xem trọng những đe dọa khủng bố. Kết qua là một George Bush Jr. được phóng lên tổng thống kịp lúc cho vụ 9/11. Tất cả kịch bản nầy được chôn vùi trong khối hỏa mù quan liêu phức tạp.
An ninh phi trường trong tay Do Thái
Yếu tố kiểm soát thứ ba cần được thiết lập là yếu tố an ninh tại tất cả những phi trường từ đó những phi vụ không tặc sẽ xuất phát. Công tác rà soát hành khách cần phải được đảm trách bởi những nhân viên được điều khiển để cho phép một số người hay vật dụng nào đó (như vũ khí, chẳng hạn) được lên máy bay. Công ty phụ trách an ninh phi trường tại ba phi trường xảy ra những vụ mệnh danh là không tặc là Huntsleigh USA, một chi nhánh của ICTS International và do Ezra Harelvà Menachem Atzmon làm chủ - cả hai đều là Do Thái. Công ty nầy được điều hành bởi những “chuyên viên” trong lãnh vực an ninh và tình báo– nghĩa là tình báo Do Thái. Đa số nhân viên đều thuộc phong trào Lập Quốc Do Thái (Zionism). Thật khó tin khi công ty an ninh nầy – vốn phụ trách an ninh tại cả hai phi trường Boston Logan và Newark – lại “lơ là” đến nỗi cho phép 19 người Ả Rập lên 4 phi cơ khác nhau với những dụng cụ rạch thùng, gậy, và thậm chí một cây súng nữa.
Menachem Atzmon, nguyên thủ quỹ của đảng Likud trong thập niên 80, đã dính dáng trong một tai tiếng chính trị Do Thái, cùng với Ehud Olmert và những đảng viên Likud khác. Y bị kết án gian lận, giả mạo giấy tờ, và vi phạm luật Party Funding Law.
Công ty ICTS International cũng phụ trách an ninh phi trường khi tên mang bom trong giày (shoe bomber) Richard Reid lên một phi cơ với cái được nói là một quả bom trong giày. Nếu Reid thực sự là một tên khủng bố thay vì một con mòng của Mossad, thì lý ra ICTS đã không để hắn lên máy bay. Một điểm nữa cho thấy sự đồng lõa của ICTS: một vài tiếng trước khi Dự Luật Patriot Act được bỏ phiếu thành luật, nó được sửa đổi để giúp những công ty ngoại quốc phụ trách an ninh trong vụ 9/11 được miễn tố. Điều nầy ngăn chặn những tòa án Hoa Kỳ không được đòi hỏi ICTS ra làm chứng hay trao những băng ghi hình an ninh từ các phi trường.
Umar Farouk Abdulmutallab (được mệnh danh là "Underwear Bomber”) là một người Đạo Hồi ở Nigeria và được nói là một tên khủng bố đã toan châm ngòi những chất nổ giấu trong quần lót khi đang trên chuyến bay Northwest Airlines Flight 253 từ Amsterdam đến Detroit, Michigan, vào ngày Giáng Sinh 25/12/2009. Abdulmutallab đã lên phi cơ đến Mỹ từ phi trường Schiphol Airport ở Amsterdam. Kurt Haskell, một luật sư ở Michigan, cũng đáp cùng chuyến bay đó và nhớ đã nhìn thấy Abdulmutallab và một người đàn ông trông giống người Ấn Độ ăn mặc bảnh bao đã giúp Abdulmutallab lên máy bay. Haskell nói rằng Abdulmutallab đã lên máy bay mà không có thông hành. An ninh tại phi trường Schiphol Airport cũng do công ty Do Thái ICTS International đảm trách.
Biết trước
Vào tháng 10/2000, khoảng 11 tháng trước khi xảy ra vụ 9/11, một sỹ quan Phòng Không Do Thái về hưu và một cựu chiến binh của trận Yom Kippur War (1973), đi thu thập những cành thường xuân Anh (English Ivy Cuttings) tại nghĩa trang Gomel Chesed Cemetery ở McClellan và 245 Mount Olive Avenue, gần ranh giới thành phố Elizabeth và Newark, New Jersey. Gomel Chesed Cemetery là một nghĩa trang Do Thái. Câu chuyện giữa họ và một người thứ ba đến từ một chiếc xe Lincoln đã có người nghe lỏm được:
- “The Americans will learn what it is to live with terrorists after the planes hit the twins in September.” (Người Mỹ sẽ biết thế nào là sống với bọn khủng bố sau khi những máy bay đánh vào tháp đôi vào tháng Chín).
- “Don’t worry, we have people in high places and no matter who gets elected, they will take care of everything.” (Đừng lo, chúng ta có những người trên chóp bu và bất luận ai đắc cử đi nữa thì họ cũng sẽ lo hết mọi chuyện).
Người nghe được câu chuyện trên đã thuật lại cho FBI nhiều lần chỉ để bị làm ngơ mỗi lần như thế.
Các công dân Do Thái được báo trước
Odigo, một công ty instant messaging (hội thoại trực tuyến) của Do Thái, thú nhận rằng, hai tiếng trước khi chiếc máy bay đầu tiên đâm vào WTC, hai nhân viên của họ đã nhận được những cảnh báo về một vụ tấn công sắp xảy ra. Cảnh báo nầy đã không được chuyển đến các cơ quan hữu trách. Odigo có một qui định trong những dịch vụ của họ cho phép chuyển tiếp những nội dung hội thoại qua một hệ tìm dựa trên quốc tịch. Nếu hai người Do Thái nào đó được cảnh báo thì có thể hai người nầy đã chuyển tiếp cảnh báo đó đến những người Do Thái khác. Có thể là như thế nếu xét rằng, trong số 4000 người Do Thái được nghĩ đã làm việc trong hay chung quanh WTC và Pentagon, chỉ có 5 (năm) người chết – 5/4000 người Do Thái. Theo thống kê, nếu không được cảnh báo, thì khoảng 10% có thể đã chết (nghĩa là 400/4000). Nhưng chỉ có 5 người Do Thai chết và 2 trong số 5 người đó đang bay trên những chuyến bay được nói là bị không tặc! Như thể chỉ có 3 người Do Thái chết tại chính trung tâm WTC vào ngày 9/11 – một con số thống kê đầy ngạc nhiên! Con số đó chỉ áp dụng cho những người dân Do Thái (Israeli nationals), chứ không phải những người Mỹ gốc Do Thái (American Jews) – số người nầy chết khá nhiều tại WTC trong vụ 9/11. Odigo có những văn phòng tại New York, và ở Herzliya, thuộc Israel. Herzliya cũng là địa bàn của những tổng hành dinh Mossad.
Những cảnh báo khác
Vào ngày Sep 10, 2001, chi nhánh Tokyo của Goldman Sachs cảnh báo những nhân viên Mỹ của họ nên lánh xa những buildings Mỹ. ZIM, một công ty Do Thái, đã di tản khỏi văn phòng của họ (10,000 squarefeet) trên tháp North WTC một tuần trước biến cố 9/11, bỏ ngang hợp đồng thuê phố. 49% của công ty nầy do chính phủ Israel sở hữu. Hợp đồng thuê phố đến cuối năm 2001 mới mãn, và công ty nầy phải chịu phạt $50,000 vì chấm dứt sớm.
Sau nầy, Michael Dick, một nhân viên FBI, người bấy giờ đang điều tra việc gián điệp của Israel trước và sau vụ 9/11 và theo dõi những động thái đáng nghi ngờ, đã bị Michael Chertoff cách chức – tay nầy bấy giờ là giám đốc cơ quan hành sự Bộ Tư Pháp, và là một tay hỗ trợ đắc lực cho chủ nghĩa Zionism (Lập Quốc Do Thái). Theo nguồn tin của một nhân viên chìm CIA từng làm việc bên cạnh Dick, những “dọn nhà Do Thái (Israeli movers)” đã đưa chất nổ vào khi ZIM di tản ra. Như thế chỉ còn một công ty Do Thai trong WTC là Clearforest với 19 nhân viên vào ngày 9/11, nhưng thực sự chỉ có 5 nhân viên có mặt trong tòa nhà hôm đó và tất cả 5 người nầy đều thoát được cả.
Những móc nối của cơ quan tình báo Mossad
Năm 2001, một trung tâm nghiên cứu ưu tú của Quân Đội Hoa Kỳ đã thiết kế một kế hoạch nhằm thực thi một hòa ước quan trọng giữa DoThái – Palestine, một kế hoạch đòi hỏi khoảng 20,000 binh sỹ được trang bị tối tân đồn trú khắp Israel và nhà nước Palestine mới thành lập. Người ta tiên liệu những biến cố trong năm đầu tiên của hoạt động bảo vệ hòa ước, và nhìn thấy những hiểm họa đối với những binh sỹ Hoa Kỳ đến từ cả hai bên. Khi nói về Mossad, cơ quan tình báo Do Thái, các sỹ quan Quân Đội Hoa Kỳ nhận xét: "Wildcard. Ruthless and cunning. Has capability to target U.S. forces and make it look like a Palestinian/Arab act." (Khó lường. Tàn nhẫn và xảo quyệt. Có khả năng nhắm vào lực lượng Hoa Kỳ và xem đó như là một hành động Palestine/ẢRập). Điều ngạc nhiên là nhận xét trên được tường thuật lại trên tờ Washington Post vào ngày September 10, 2001.
Gián điệp Do Thái quanh vụ 9/11
Trước vụ 9/11 không bao lâu, hơn 140 người Do Thái đã bị bắt vì bị tình nghi gián điệp. Một số trong bọn họ đóng vai những sinh viên nghệ thuật. Những nghi can nầy nhắm vào và thâm nhập những căn cứ quân sự, DEA, FBI, Secret Service, ATF, U.S. Customs, IRS, INS, EPA, Interior Dept., U.S. Marshal’s Service, US Attorneys Offices, những văn phòng bí mật của chính phủ, những tư gia không niêm yết của các viên chức công lực và tình báo. Hầu hết những nghi can đều phục vụ trong ngành tình báo quân sự Do Thái, trong những đơn vị chặn sóng thám sát điện tử hay những đơn vị cài đặt chất nổ. Hàng chục tên Do Thái bị bắt trong những quày (kiosks) của các trung tâm thương mại Hoa Kỳ giả bán đồ chơi để làm bình phong cho các hoạt động gián điệp. 60 nghi can bị bắt đã làm việc cho công ty Do Thái AMDOCS chuyên cung cấp hầu hết những dịch vụ điện thoại qua hổ trợ thư mục (directory assistance calls) và hầu hết những hồ sơ gọi (call records) và dịch vụ hóa đơn cho Hoa Kỳ thông qua những hợp đồng được ký với 25 công ty điện thoại lớn nhất Hoa Kỳ. Tất cả những tên mệnh danh là không tặc 9/11 đều có căn cước giả. Trong một cuộc hành quân hỗn hợp FBI-CIA nhắm vào tên không tặc đầu sỏ Mohammad Atta ở căn cứ Fort Lee, NJ, năm 2001, cuộc hành quân nầy bị những nhân viên Do Thái chụp hình và do đó đã thất bại. Những tên Do Thái nầy được xem như đã tìm cách bao che những toán không tặc tương lai.
Sau vụ 9/11, hơn 60 tên DoThái đã bị bắt dựa trên Đạo Luật Patriot anti-Terrorism Act hay vì vi phạm nhập cảnh. Một số trong bọn họ là lính hiện dịch Do Thái. Một số bị hỏng trắc nghiệm nói dối khi bị thẩm vấn về những hoạt động thám sát chống Hoa Kỳ. Một số được xác định đã gián điệp chống người Ả Rập. Trong số 90 tên Do Thái bị bắt có một nhóm năm tên, nay được nhiều người biết đến như là những "dancing Israelis," bị nhận điện tại nhiều địa điểm đang quay phim và reo mừng những cuộc tấn công. Những tên nầy bị cảnh sát New York bắt. Những nhân viên cảnh sát và FBI bắt đầu nghi ngờ khi họ tìm thấy những bản đồ của thành phố với một số địa điểm được tô nổi, những dao rạch thùng (những thứ mà các tay không tặc được nói đã xử dụng), $47,000 tiền mặt độn trong một bít tất, và những thông hành ngoại quốc. Cảnh sát cũng nói với một tờ báo địa phương ở New Jersey, những con chó đánh hơi bom đã được đưa đến chiếc xe van và chúng phản ứng giống như đánh hơi được chất nổ. Về sau, FBI xác định rằng ít nhất hai trong số 5 tên Do Thái nêu trên là những nhân viên của Mossad. Năm tên đó là Sivan, Paul Kurzberg, Yaron Schmuel, Oded Ellner, và Omer.
Xe bom trực chỉ cầu George Washington Bridge
Tờ Jerusalem Post về sau tường thuật rằng một xe van trắng bị chặn lại khi nó đến gần cầu George Washington Bridge, nhưng quốc tịch của những nghi can không được tiết lộ. Nội dung bản tường thuật: “Các cơ quan an ninh Hoa Kỳ trong đêm đã chặn một xe bom trên cầu George Washington Bridge. Chiếc xe van, có chứa thuốc nổ, bị chặn lại trước đầu cầu. Nhà chức trách tình nghi bọn khủng bố dự định cho nổ đoạn giao thông giữa New Jersey và New York. Đoạn băng truyền tin của cảnh sát cho thấy rằng hai nghi can trong chiếc xe bắt đầu bỏ chạy khi xe bị chặn lại và ngay sau đó bị bắt với một số chống cự nào đó. Một trong những biến cố lạ lùng hơn của ngày đến dưới hình thức một chiếc xe van trắng bí ẩn đậu cách WTC vài lốc đường, trên đường 6th và King Street, có một bích họa (mural) bên hông vẽ hình một chiếc phản lực đâm vào tòa tháp đôi và nổ tung. Tất cả những chiếc xe van trắng (white vans) đều thuộc về công ty "Urban Moving Systems" do Dominic Suter làm giám đốc, một điệp viên Do Thái; tên nầy lập tức bay trở lại Israel sau vụ tấn công. Hai cựu viên chức CIA xác nhận rằng công ty Do Thái nầy là một bình phong cho Mossad. Hai viên chức nầy ghi nhận rằng những xe dọn nhà là một một bình phong tình báo thông thường. Những tên Do Thái bị câu lưu 71 ngày trước khi được Michael Chertoff lặng lẽ phóng thích – tay nầy là một thành viên của phong trào lập quốc Do Thái và là giám đốc cơ quan hành sự thuộc Bộ Tư Pháp thời đó.
Tình báo Do Thái và P-Tech, công ty nhu liệu Do Thái
Những hệ thống nhu liệu P-Tech là cửa hậu đột nhập máy tính. Hầu hết những hệ thống vi tính nào có thể liên quan đến quyết định cho cất cánh những phản lực cơ chiến đấu vào ngày 9-11 đều xử dung nhu liệu của P-Tech.
Danh sách khách hàng của P-Tech bao gồm FAA (Cơ Quan Quản Trị Hàng Không Liên Bang), N.A.T.O (Tổ chức Minh Ước Bắc Đại Tây Dương), United States Armed Forces (Quân Đội Mỹ), Congress (Quốc Hội HK), Dept. of Energy (Bô Năng Lượng), Dept. of Justice (Bô Tư Pháp), FBI (Cơ Quan Điều Tra Liên Bang), Customs (Thuế Quan), the IRS (Sở Thuế), the Secret Service (Sở Mật Vụ), và ngay cả Tòa Bạch Ốc.
Michael S. Goff, một Zionist, là quản đốc tiếp thị của P-Tech và cũng đã làm việc cho công ty cơ sở dữ liệu Do Thái, Guardium (Amit Yoran làm giám đốc). Công ty nầy nhận tài trợ của Cedar Fund, Veritas Venture Partners, và Stage One, tất cả đều là những công cụ tài trợ cho Mossad. Do đó, với P-Tech, những gì người Mỹ có, khi cần, cũng chỉ là một điệp viên Mossad mang quốc tịch Mỹ (American "sayan") – tức Michael S. Goff, với những nhân viên Mossad cung cấp thông tin và chỉ huy trong khi y làm việc với những “đối tác” Hồi Giáo người Leban của y ở P-Tech.
Tại sao một luật sư Mỹ trẻ đang làm việc cho một xí nghiệp luật danh tiếng (Sedar & Chandler) tại tỉnh nhà của y bỗng nhiên bỏ nghề luật để làm việc cho một công ty nhu liệu tầm thường mới ra nghề do một người Leban và một người Saudi sở hữu và tài trợ? Gia đình của Goff là một gia đình khả kính và tiếng tăm ở Worcester, Mass. Y có vị thế vững vàng tại một xí nghiệp luật danh tiếng sau khi ra trường luật. Với Goff, nhu liệu P-Tech – được cấy khuẩn trapdoors (cửa hậu) and Trojan Horses (ngựa gỗ) – được bán ra và tải lên hầu hết những hệ thống vi tính nhạy cảm. Cùng những hệ thống đó, nhưng vào ngày 9/11/2011, chúng đã thất bại thê thảm hay hoạt động hữu hiệu là tùy theo quan điểm của bạn.
Tập đoàn nhu liệu vi tính MITRE
MITRE là một tổ chức hợp đồng quốc phòng đứng đầu là cựu Giám Đốc Trung Ương Tình Báo James Schlesinger. Người ta nói Schlesinger là một tín đồ Luther sùng đạo, nhưng biên dạng Wikipedia cho thấy bố mẹ của y là người Nga/Áo gốc Do Thái và do đó chắc chắn y là một Zionist. P-Tech, cùng với tập đoàn MITRE, đã chiếm tầng trệt của FAA trong hai năm trước vụ 9/11. Công việc đặc biệt của họ là tìm hiểu những vấn đề tương tác giữa FAA, NORAD và Không Quân HK trong trường hợp khẩn cấp.
Phi cơ điều khiển tự động
Phi cơ đầu tiên đâm vào WTC (North Tower) và đánh trúng phòng máy điện toán của công ty Marsh & Mc Clennan vừa mới thuê Kroll Associates để phụ trách về an ninh. Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng những phi cơ đâm vào WTC đều được điều khiển chính xác bằng remote control. Mặc dù nghe có vẻ như khoa học giả tưởng, kỹ thuật remote control cho phi cơ đã có từ nhiều thập niên. Tập đoàn SPC Corporation đã cung ứng hệ thống flight termination system (Chấm dứt phi vụ bằng remote control) và hệ thống command transmitter system (hẹ thống điều khiển viễn liên), một kỹ thuật cho phép phi cơ được điều khiển viễn liên trong trường hợp phi công mất khả năng hay phi cơ bị không tặc. Rabbi Dov Zakheim, một công dân Mỹ gốc Do Thái, là giám đốc của công ty Systems Planning Corporation và là Thứ Trưởng Quốc Phòng được bổ nhiệm từ 2001 đến 2004 dưới thời GeorgeW. Bush. Zakheim là người chịu trách nhiệm về sự biến mất của $2.6 TRILLION khỏi những sổ sách của Pentagon. Câu chuyện nầy bị chôn vùi dưới đống gạch vụn của vụ 9/11. Đặc khu của Pentagon bị “đánh trúng” hay “nổ tung” có chứa thông tin ngân sách của nhiều năm, cũng như những nhân viên kế toán, lưu trữ hồ sơ – nhiều người trong số họ đã chết trong vụ 9/11. Vào tháng 5/2001, khi Zakheim phục vụ tại Pentagon, chính Tridata Corporation, một chi nhánh của công ty SPS của y, giám sát cuộc điều tra về đợt tấn công “khủng bố” đầu tiên vào WTC trong năm 1993. Cơ hội nầy có lẽ đã giúp họ hiểu biết cặn kẻ những hệ thống an ninh và những thiết kế của WTC. Theo trang web SPC, một khách hàng mới nhất thời đó là căn cứ không quân Eglin AFB ở Florida. Eglin rất gần với một căn cứ không quân khác ở Florida –tức căn cứ MacDill AFB, nơi mà Dov Zakheim đã hợp đồng để gởi ít nhất 32 chiếc Boeing 767, như một phần của hợp đồng thuê mướn phi cơ giữa hảng Boeing và Pentagon. Căn cứ trên quyền được truy cập vào những phi cơ Boeing, những hệ thống điều khiển viễn liên, và những quan điểm công khai của y trong tài liệu PNAC, rất có thể y thực sự là một khuôn mặt chủ chốt trong những vụ tấn công 9/11.
Quân Đội Hoa Kỳ biết Israel đã làm chuyện đó
Theo Dr. Alan Sabrosky, cựu Giám Đốc Nghiên Cứu tại Đại Học Chiến Tranh của Quân Đội HK, “Với tư cách một phân tính gia chiến lược, tôi tuyệt đối tin rằng vụ 9/11, từ đâu đến cuối, là một hoạt động cổ điển do Mossad đạo diễn. Nhưng Mossad không hành động một mình…” Ông nói tiếp, “Bin Laden phủ nhận trách nhiệm, do đó nói rằng, mặc dù y cám ơn Allah vì những cuộc tấn công đã xảy ra, nhưng y không làm chuyện đó, nhưng Hoa Kỳ đòi hỏi Afghanistan do Taliban cai trị phải giao nạp y cho Hoa Kỳ. Taliban trả lời rất hợp lý: ‘Hãy cho chúng tôi bằng chứng và chúng tôi sẽ giải giao ông ta cho các ông.’ Nhưng HK phớt lờ và tấn công. Tại sao? Tại vì họ không có bằng chứng thuyết phục, và sẽ không bao giờ có – ngay cả vào đêm trước cái chết công khai của Bin Laden năm 2011, FBI cũng không đề cập gì đến 9/11 trên bố cáo ‘Most Wanted’ liên quan đến y trên Internet.”

(Còn tiếp)

Saturday, January 3, 2015

VC mở thùng “mắm thối Việt kiều” trao cho Mỹ

Lê Siêu Phong


Từ nhiều năm nay nước Mỹ đã ban hành luật đàng hoàng bắt các công dân Hoa Kỳ phải khai báo để đóng thuế tài nguyên thu nhập và tài sản đầu tư và làm ăn ở ngoại quốc. Xin đính kèm các mẫu của sở thuế IRS :



Những mẫu này dành cho các công dân và công ty Hoa Kỳ hoạt động đầu tư tại ngoại quốc phải khai rõ ràng thu nhập trong các ngân hàng tại ngoại quốc để đóng thuế cho chính phủ Mỹ. Nhiều công dân Hoa Kỳ sợ hãi quá vì phải đóng thuế những tài sản gồm cả triệu, triệu đôla tại các nhà băng ngoại quốc như Thụy Sĩ chẳng hạn để trốn thuế, nay bị phát giác nên đã từ bỏ quốc tịch Mỹ để sinh sống tại ngoại quốc.

“Nhà nước” CSVN vừa tổng kết và loan báo cho cả thế giới biết là Kiều hối năm nay (2014) họ nhận được là trên 12 tỷ đô la.

Ngoài ra họ còn thống kê là số "Việt Kiều" về nước du lịch lên đến hơn 800,000 người trong năm 2014 vừa qua.
Chính quyền của TT Obama liền đặt câu hỏi với sở IRS là số 12 tỷ MK gửi về VIỆT-NAM là như thế nào. IRS với sự giúp đỡ của Bộ Ngoại Giao Hoa kỳ qua tòa đại sứ ở Hà Nội và Tổng lãnh sự tại Sài Gòn cho biết rằng 12 tỷ MK kia thì 11 tỷ MK là gửi về từ Hoa Kỳ. Và trong 11 tỷ đô la kia thì 90% gồm tiền gửi về để đầu tư tại VIỆT-NAM. Hiện IRS đã có danh sách các công ty và cá nhân công dân Mỹ đầu tư tại VIỆT-NAM do chính phủ CSVN cung cấp. Trong số những công dân Mỹ này 3/4 là người Mỹ gốc Việt gồm cả những người đem tiền về mua nhà, sửa sang nhà cửa cũng được kể là đầu tư, đặc biệt những công ty đầu tư mang danh "Từ Thiện" cũng nằm trong danh sách này.
Trong buổi nói chuyện trong show TKN show trên đài SBTN thì vị khách đối thoại là CPA KB cho biết là tiền phạt việc trốn thuế là từ $10,000 cho mỗi năm cho đến $500,000 và phạt tù từ 1 năm cho đến 10 năm. Hiện nay chưa biết IRS sẽ làm gì với danh sách này. Chúng ta hãy chờ xem có ông Việt Kiều nào bỏ quốc tịch Mỹ để về VIỆT-NAM sinh sống luôn không.
Xin nhắc thêm là đã có nhiều vụ việc các công ty Mỹ làm ăn tại VIỆT-NAM bị truy tố ra tòa:
1.- Công ty NEXUS TECHNOLOGIES tại Philadelphia đã bị truy tố về tội hối lộ quan chức VIỆT-NAM để lãnh được các giáo kèo béo bở. Các phạm nhân gồm 3 anh em người Việt đang bị ở tù và mất hết tài sản.
2.- Công ty Med-Tech BIO-RAD cũng đã ra tòa và chịu phạt $55 triệu MK về tội hối lộ tại Nga Sô, Iran và VIỆT-NAM. Vì chịu phạt tiền nên đã không bị điều tra kết án về hình sự.
3.- Cách đây hai 3 năm, cả thế giới bàng hoàng về vụ nhân viên người Mỹ là ông Michael Sestak tại TLS Mỹ tại Saigon ăn tiền hối lộ mỗi hồ sơ cấp VISA sang Mỹ là khoảng $70,000 USD. Nhân viên này đã bị bắt và có lẽ cũng vì lý do đó mà chức TLS Mỹ tại Sài Gòn của ông Lê Thành Ân (người Việt) đã bị thay thế bằng bà RENA BITTER. Ông LT. Ân có tham vọng cao hơn là trở thành đại sứ MỸ tại Việt-Nam nhưng vụ ăn hối lộ visa này bị phát giác đã làm hại ông.
Quý vị "Việt Kiều" về VIỆT-NAM làm ăn, bắt buộc phải chi tiền hối lộ để được giao kèo đầu tư nhưng đó là con dao 2 lưỡi vì một ngày nào đó, "cơm không lành canh không ngọt" hay vì một "chiến thuật" nào đó có lợi hơn cho toàn thể quan chức VNCS đang cầm quyền thì tên tuổi của công ty quý vị sẽ được chuyển cho chính phủ Mỹ để đưa quý vị ra tòa. Đó là một bài học mà đáng lẽ quý vị phải biết trước khi mang tiền về Việt-Nam đầu tư là trong một quốc gia không có luật pháp đàng hoàng ("luật là ta đây!!!" ) thì quý vị muốn làm ăn đầu tư thì bắt buộc phải hối lộ;.và hối lộ thì chắc chắn sẽ có ngày quý vị sẽ bị tan gia bại sản phải ra tòa bị phạt tù và tiền.
Kỳ này Chính phủ Mỹ đã có danh sách các công ty và công dân Hoa Kỳ chuyển về VIỆT-NAM gần 10 tỷ đôla đầu tư, để xem họ điều tra ra sao. Chắc chắn sẽ có nhiều đại gia bỏ quốc tịch Mỹ về ở luôn tại Việt-Nam. Khi đó hết quốc tịch Mỹ xem CSVN sẽ đối xử với họ ra sao đây và có lẽ về sau cũng sẽ có cựu công dân Mỹ xếp hàng làm dân oan khiếu kiện... Gương của các ông Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, triệu phú Trịnh Vĩnh Bình và "anh hùng" Trần Trường hãy còn sờ sờ ra đó.
Lê Siêu Phong