Saturday, July 19, 2014

Ban Mê Thuột ngày đầu chiến cuộc

Ban Mê Thuột ngày đầu chiến cuộc

Ban Mê Thuột, tỉnh Darlac gồm bốn quận hành chánh và bốn chi khu cùng với 150 ngàn dân rơi vào tay Cộng Sản Bắc Việt. Tỉnh Darlac, một trong 42 tỉnh của Việt Nam Cộng Hoà bị xóa tên trên bản đồ hành chánh của nền Cộng Hòa từ ngày hôm nay.


Cho đến hôm nay tôi vẫn chưa sao quên được Ban Mê Thuột và bao kỷ niệm yêu dấu của tuổi ấu thơ trên thành phố nhỏ bé này, mà đặc biệt là Ban Mê Thuột với nỗi kinh hoàng của đêm ngày 9 tháng 3/1975, đêm đen hãi hùng của chiến tranh và lửa đạn.

“Ai chiếm được Ban Mê Thuột, kẻ đó làm chủ chiến trường.” Tôi không còn nhớ ai đã nói câu này, nhưng Ban Mê Thuột quả thật có một vị trí chiến lược vô cùng trọng yếu đối với miền cao nguyên, vì lãnh thổ của tỉnh Darlac, mà Ban Mê Thuột là thị xã, nằm trên Quốc Lộ 14, chạy dài từ phía Nam là tỉnh Quảng Đức, nối tiếp với Vùng 3 Chiến Thuật. Phía Bắc là tỉnh Phú Bổn chạy dài đến Pleiku. Phía Tây là một dãy rừng già tiếp giáp với biên giới của các nước láng giềng (ngã 3 biên giới). Từ khu vực phía tây, một nhánh sông Serepok bắt nguồn từ Cam Bốt chạy xuyên Ban Mê Thuột cắt Quốc Lộ 14 ở phía Nam thị xã 14 km (cầu 14).

Tất cả những điểm đặc biệt của địa hình này đã tạo nên một ưu thế cho chiến tranh du kích. Hơn thế nữa, Đông Bắc thị xã Ban Mê Thuột là Quận Phước An, quận cuối cùng của tỉnh Darlac, mà cũng là gạch nối giữa vùng cao nguyên và miền duyên hải qua cửa ngỏ Khánh Dương, Nha Trang bằng Quốc Lộ 21. Cho nên, nếu nói Ban Mê Thuột là cái rún của vùng cao nguyên qủa thật không phải là quá đáng.

Ban Mê Thuột cũng là cái nôi kinh tế của miền đất đỏ. Nếu nói tới cây thông Đà Lạt, hay trà ở B’lao, thì nhất định phải nói tới cà phê Ban Mê Thuột và những dãy đồn điền cao su hàng chục ngàn mẩu. Rừng là tài nguyên vô cùng quý của quốc gia. Ban Mê Thuột là nơi tàng trữ và sản xuất các loại cây, gổ quý như cẩm lai, cà te, gụ, lim, sên sên, cây dầu, cà chích, bằng lăng… nên đã trở thành trung tâm khai thác lâm sản bậc nhất trên toàn quốc, và đã nuôi sống không biết bao nhiêu ngành sản xuất của nền kinh tế quốc dân thời bấy giờ.

Với bốn quận gồm Lạc Thiện (nằm ở hướng Đông), Phước An (hướng Đông Bắc), Buôn Hô (Bắc) và Ban Mê Thuột là quận châu thành, và dân số toàn tỉnh có khoảng 150 ngàn, mà thị xã Ban Mê Thuột chiếm 60 ngàn, gồm cả Kinh lẫn Thượng. Người Thượng với nhiều sắc dân như Ê Đê, Bana, H’mong… và với 15 trường trung học và tiểu học như Bồ Đề, La San, Hưng Đức, Vinh Sơn, Bán Công (sau này đổi lại thành trường Tỉnh Hạt), Trung Học Tổng Hợp (công lập), Trung Học Nông Lâm Súc, Trung Học Sư Phạm Cao Nguyên… Tám mươi phần trăm dân số sống bằng nghề trồng ngũ cốc và cây kỹ nghệ cà phê, cao su, tiêu, ca cao. Người Thượng theo tập tục Cúng Dàng, người Kinh là tín đồ của các tôn giáo như Phật, Thiên Chúa, Tin lành, Cao Đài, Hòa Hảo và cũng như thờ cúng Ông Bà.

Điểm đặc biệt của thị xã này là những thắng cảnh rất nổi tiếng và nên thơ như Vườn Ương, với dãy rừng Trắc Bá chạy dài theo con lộ từ phi trường dân sự Phụng Dực tới cây số 5, “Thung Lũng Tình Yêu,” “Rừng Chim Chích,” Suối Hẹn Hò,” “Đồi Cỏ Vàng,” “Vườn Mộng,” “Thung Lũng Hồng,” “Thác Drayling…” để những chiều nhàn rỗi, các đôi tình nhân đem nhau đến vườn mộng ngắm cỏ úa của mùa thu, hay mỗi Hè về, nhìn hoa Phuợng nở trên khuôn viên trường Tổng Hợp, hoặc là đi thăm khu kỹ nghệ cây số 7 để ngâm mình trong suối đá xanh mà ngắm hoa Bằng Lăng, trắng, đỏ, tím, hồng, nở rộ trên những đồi hoang.

Nhưng tất cả những cảnh vật đó, sinh hoạt đó, đã bị vùi chôn và hủy diệt bằng các trận mưa pháo của đại bác 130 ly, hỏa tiển 122 ly, chiến xa T-54, và 3 sư đoàn quân Cộng Sản Bắc Việt vào mùa xuân năm Ất Mão, ngày 10 tháng 3/1975. Ban Mê Thuột, hay “Bụi Mù Trời” đã tan tác hết, phần đất bé nhỏ của quê hương yêu dấu tôi yêu.
NHỮNG NGÀY ĐẦU CHIẾN CUỘC

Có lẽ không phải chỉ riêng tôi, mà hầu hết những người dân của thị xã đã không linh cảm nỗi quê hương thơ mộng này lại rơi vào biển lửa của chiến tranh. Mặc dầu vào mùa Thu năm 1974, Đại Tá Nguyễn Trọng Luật về nhận chức tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Tiểu Khu Darlac, ông đã cho thực hiện một dãy chiến hào bao quanh thị xã để phòng xe tăng T-54 của Cộng quân. Tinh thần quyết chiến-đấu và bảo vệ Ban Mê Thuột của từng người lính và các cơ quan đơn vị, từ cấp Xã đến Quận đã rõ rệt và sẵn sàng từ đó.
Những cuộc hành quân truy lùng tin tức địch đã được thực hiện liên tục. Cục hành quân Phượng Hoàng của hai đơn vị Nghĩa Quân (NQ) và Cảnh Sát Quốc Gia (Cảnh Sát Quốc Gia) giữa liên xã Thọ Thành và Cư Jút vào sau khu vực phía Nam, cách nhiệm sở của hai đơn vị này khoảng 15 km về hướng Nam Tây-Nam, và 42 km Tây-Nam thị xã vào cuối tháng 2 năm 1975, đã phát giác dấu xích xe tăng T-54 của địch.
Cuộc hành quân của đơn vị Nghĩa Quân và Cảnh Sát Quốc Gia thuộc xã Cư Ming, Bandon, phía Tây thị xã Ban Mê Thuột chừng 48 km cũng đã cung cấp cho Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia quận Ban Mê Thuột và F đặc biệt về sự di chuyển của quân Cộng Sản Bắc Việt trong khu vực Bandon.

Các tin tình báo của những tình báo viên,TBND, trong Mạng Lưới Tình Báo do Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh trong những tháng 2 và 3/1975, khi đi khai thác lâm sản ở khu vực phía tây thị xã (Bandon) và Tây Nam thị xã 62 km cũng đả báo cáo cho Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Darlac tin tức về các đường dây điện thoại, ống dẫn dầu và dấu xích chiến xa T-54 của cộng quân.
Ngày 14 tháng 2/1975, 7 chiếc xe be khai thác lâm sản, trong lúc làm cây ở khu vực Nam Tây-Nam thị xã Ban Mê Thuột 82 km đã bị Cộng quân cưỡng chiếm, các nạn nhân cũng đã khai trình Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh và Phòng 2 Tiểu Khu những tin tức về lực lượng cộng quân.

Tháng 2/1975, một nữ cán binh thuộc Trung Đoàn 25 Địa Phương của Cộng quân ra hồi chánh với một đơn vị thuộc tiểu khu Darlac đã cung cấp tin tức về sư đoàn F10 của Cộng quân đang di chuyển về khu vực Nam thị xã Ban Mê Thuột, đồng thời cho biết Trung Đoàn 25 Địa Phương sẽ mở chiến dịch tại khu vực Khánh Dương, nằm trên Quốc Lộ 21, ranh giới gữa Khánh Dương – Nha Trang và Phước An – Ban Mê Thuột. Đặc biệt là cuộc hành quân ngày 7 tháng 3/1975 (ba ngày trước khi Cộng quân tấn công Ban Mê Thuột), của một đơn vị thuộc tiểu khu Darlac, đã bắt được một tù binh Cộng Sản, quân hàm thiếu úy, trong lúc y đang giăng dây điện thoại ở khu vực Buôn La Sup, thuộc xã Cư Ming, Bandon, Quận Ban Mê Thuột.

Nhưng tất cả những tin tức này đều chỉ được ghi nhận. Lực bất tùng tâm, Quân Đoàn 2 với hai sư đoàn gồm Sư Đoàn 22 Bộ Binh (BB) lo trấn giữ các tỉnh miền duyên hải, và Sư Đoàn 23 Bộ Binh 23 trấn thủ các tỉnh cao nguyên với những dãy núi rừng trùng trùng điệp điệp, đã không đủ quân số để chống giữ Ban Mê Thuột với sự ồ ạt tấn công của hàng chục ngàn bộ đội Bắc Việt với đại bác 130 ly, hỏa tiển 122 ly và chiến xa T-54 yểm trợ đã vùi chôn Ban Mê Thuột và 60 ngàn dân của thị xã này trong biển lửa.

Nhưng trong thâm tâm mỗi người dân Ban Mê Thuột, hình ảnh những vị anh hùng của Tiểu khu Darlac, những chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia và Sư Đoàn 23 Bộ Binh mãi mãi là những thần linh bất tử, đặc biệt là Trung Đoàn 53 Bộ Binh trấn giữ phi trường Phụng Dực, đã anh dũng chiến đấu và bảo vệ những phần đất Ban Mê Thuột trong suốt 7 ngày đêm dưới chiến thuật biển người và mưa đạn của kẻ thù cho đến phút lâm chung. Xin cám ơn đấng tố cao đã cho chúng tôi những người con trung hiếu lưỡng toàn này.

NHỮNG TRẬN ĐÁNH MỞ ĐẦU

Để chuẩn bị cho cuộc tấn công Ban Mê Thuột, Cộng quân đã mở 3 mặt trận lớn, cắt đứt mọi liên lạc và tiếp vận với Ban Mê Thuột. Mặt trận đầu tiên là đánh chiếm quận Thuận Mẩn, thuộc tỉnh Phú Bổn, nằm trên Quốc Lộ 14, giáp ranh với quận Buôn Hô, tỉnh Darlac, cách quận lỵ Buôn Hô 45 km về phía Bắc vào ngày 4 tháng 3/1975.
Đêm ngày 6 tháng 3/1975, Cộng quân mở mặt trận tại khu vực quận Khánh Dương, Nha Trang, nằm trên Quốc Lộ 21, giáp ranh quận Phước An tỉnh Darlac, cách thị xã Ban Mê Thuột 75 km về phía Đông Bắc.

Đêm ngày 8 tháng 3/1975, Cộng quân tấn công quận Đức Lập, tỉnh Quảng Đức, nằm trên Quốc Lộ 14,cách thị xã Ban Mê Thuột 60 km về phía Nam. Đến 9 giờ 30 ngày Chủ Nhật, 9 tháng 3/1975, tin Cộng quân tràn ngập Chi Khu Đức Lập chính thức nhận được qua Trung Tâm Hành Quân Tiểu khu Darlac.
Như vậy, thị xã Ban Mê Thuột đã hòan toàn bị cô lập. Phía Nam Ban Mê Thuột là quận Đức Lập đã bị Cộng quân chiếm đóng. Phía Bắc liên lạc với Phú Bổn và Pleiku qua Quốc Lộ 14, đã bị Cộng quân cắt tại quận Thuận Mẩn. Đông Bắc là Quốc Lộ 21 nối với miền duyên hải qua cửa ngỏ Nha Trang đã bị Cộng quân trấn giữ bằng mặt trận Khánh Dương.

TÌNH HÌNH BAN MÊ THUỘT, CHỦ NHẬT 9 THÁNG 3/1975

Với những tin nhận được, tình hình Ban Mê Thuột quả thật có biến động. Những gia đình giàu có, những người có thể, đều tìm cách ra khỏi Ban Mê Thuột để về Nha Trang hay Saigon. Một vé máy bay đi Saigon lên đến 50 ngàn đồng thời bấy giờ, nhưng cũng không còn chỗ. Đi Nha Trang 20 ngàn, nhưng cũng không cách nào đặt được vé.
Trưa ngày 9 tháng 3/1975, một cuộc họp khẩn cấp được triệu tập tại Tòa Hành Chánh, do Đại Tá Tỉnh Trưởng Kiêm Tiểu Khu Trưởng chủ trì, gồm các ty sở trưởng, đơn vị trưởng và ban ngành chuyên môn trực thuộc tiểu khu. Lệnh báo động đỏ được ban hành cùng với lệnh cấm trại một trăm phần trăm các đơn vị.

Một đặc lệnh truyền tin được chuyển đến các đơn vị, đặc biệt là trong ngành Cảnh Sát Quốc Gia, với những chỉ dẫn cần thiết kèm theo đặc lệnh này, mà những nhân viên thừa hành không thể được phép mở, ngọai trừ khi có lệnh của đơn vị trưởng trực tiếp. Lệnh giới nghiêm được ban hành trên toàn thị xã, từ 9 giờ tối đến 6 giờ sáng hôm sau. Một số gia đình có thân nhân ở ngoại ô thị xã như cây số 5, đã di tản gia đình ra khỏi thị xã tối ngày 9 tháng 3/1975.

Nhưng định mệnh đã an bài, không phải vì triều đại của chúng ta thiếu nhân lực hay bất tài, cũng không phải vì chúng ta tất trách, chưa làm hết bổn phận của mình, mà ngược lại, chúng ta đã tận sức, đặc biệt là những người lính, những chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia.

Thực sự xã hội miền Nam từ giữa thập niên 1960 đã có những biến chuyển lớn trong sinh hoạt chính trị gây ảnh hưởng sâu rộng cho nền trị an xã hội, đặc biệt là ở những thành phố lớn. Một số các tổ chức đã chỉ biết yêu cầu và đòi hỏi mà quên đi những nguyên tắc căn bản của một thực tế xã hội mà mọi sinh hoạt còn ở mức khởi đầu. Một người làm chính trị giỏi thì cả nước yên, cả nước làm chính trị thì xã hội loạn. Khuynh hướng đòi tự do dân chủ được lồng vào các cuộc bạo hành, xuống đường phản đối chính phủ ở vào những giai đoạn không hợp thời, không đúng lúc, của một số tổ chức, đã thực sự đe dọa nền an ninh quốc gia, và trở thành những hành động khủng bố tính mạng của tổ quốc.

Người ta nhân danh tự do, để làm chính trị, nói chính trị, mà không thấu triệt đạo đức và nguyên lý chính trị căn bản. Người ta đòi tự do, hô hào tự do mà xã hội còn ở mức căn bản, nên vô tình hay hữu ý, những kẻ đó đã tiếp tay, hoặc tạo cho kẻ thù cơ hội lũng đoạn và khuynh đảo các cơ cấu, tổ chức chính quyền, thao túng trật tự xã hội dưới nhiều hình thức và chiêu bài. Trong khi đó, ở ngoài chiến trường, những người lính của chúng ta còn giành nhau từng tấc đất với kẻ thù, và sinh mạng những người dân ở vùng chiến tranh, hoặc từng phần lảnh thỗ của miền Nam chỉ là ngàn cân treo sợi tóc.

Mặt khác, chúng ta lại không may gặp phải một đồng minh khác biệt với nền đạo đức cổ truyền, không đặt nặng lòng nhân, không xử chữ nghĩa, chúng ta như một con cờ trong ván cờ chính trị toàn cầu của đồng minh anh em, trong khi nền Cộng Hòa của chúng ta vừa qua giai đoạn phôi thai, đang ở chặng đường phát triển. Nền công nghiệp nặng còn khiếm khuyết, kỹ nghệ quốc phòng chưa mở mang, nền kinh tế quốc dân tuy có ổn định, nhưng cán cân cung cầu chưa đồng đều, mậu dịch chưa hoàn toàn cân đối.

Dầu rằng nền Cộng Hòa của chúng ta đã có được một cơ cấu chính quyền có tổ chức và hoàn bị, dựa trên Hiến Pháp, nhưng được toàn thế giới công nhận, có ứng cử và bầu cử tự do từ cấp xã, quận, tỉnh đến trung ương. Một Học viện Quốc gia hành chánh để đào tạo các chuyên viên hành chánh điều hoà hệ thống này. Một Quốc Hội lưỡng viện, một Giám Sát Viện để đàn hạch việc làm của Tổng Thống. Một Tối Cao Pháp Viện để kiểm sóat hệ thống tòa án là ngành Tư Pháp của chúng ta.

Chúng ta lại có một hệ thống tài chánh, ngân hàng hết sức ổn định và tiên tiến, không thua gì các quốc gia mở mang. Hệ thống giáo dục của chúng ta thưc sự đã hoàn hảo, hàng năm, các viện đại học Sàigòn, Huế, Đà Lạt, Cần Thơ, Vạn Hạnh, Minh Đức, đã đào tạo và cung cấp không biết bao nhiêu chuyên viên và nhân tài phục vụ xã hội. Ngành y tế của chúng ta phải nói là tân tiến, với một đội ngũ bác sĩ đầy nhiệt huyết và lương tâm.

Quân đội của chúng ta cũng được đào tạo và huấn luyện với những kỹ thuật tiên tiến, tinh vi, và hữu hiệu. Chúng ta có hai trường sĩ quan: Trường Võ Bị Đà Lạt, Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, một trường Hạ Sĩ Quan là trường Đồng đế ở Nha Trang, nhiều trung tâm huấn luyện và những trường chuyên môn như Công Binh, Pháo Binh, Trường Sĩ Quan Không Quân và Hải Quân, trường Quân Nhu, Quân Cụ, vân vân và vân vân…

Và ngành Cảnh Sát Quốc Gia, chúng ta có một Học Viện Cảnh Sát ở Thủ Đức, huấn luyện và đào tạo các sĩ quan ưu tú, để hành xử luật pháp thật công minh, Trung Tâm Huấn Luyện Dốc Dừa, Trường Huấn Luyện Cảnh Sát Dã Chiến, và nhiều Trung tâm huấn luyện khác đã đào tạo các chiến sĩ cảnh sát xuất sắc để hoàn thành nhiệm vụ 

TRỪ BẠO, AN DÂN, CÔNG MINH, LIÊM CHÍNH.

Về mặt kinh tế quốc dân, các ngành sản xuất đang trên đà phát triển, các nhà máy giấy, xi măng, xưởng dệt, lắp ráp nông cơ, xe hơi, xe gắn máy, xe đạp, xà phòng… các ngành xuất, nhập, khẩu tăng trưởng cực mạnh, số lượng gạo, cà phê xuất cảng đứng hang nhất-nhì trong khu vực Đông Nam Á. Các mặt hàng tiêu dùng như vải, sợi… tràn ngập trên thị trường, không cần đến nhập cảng . Hai mươi sáu triệu dân miền Nam thực sự đủ ăn, đủ mặc, được học hành và chăm sóc chu đáo.

Xã hội chúng ta thực sự đã tổ chức hoàn bị, dựa trên căn bản của luật pháp, bình đẳng và tự do. Người ta tha hồ phê bình tổng thống và các vị lãnh đạo ở mọi cấp bậc của quốc gia. Quyền tự do cư trú, tự do đi lại, tự do lập hội, tự do ngôn luận, báo chí, và các đảng phái tuyệt đối được tôn trọng. Và đó là tất cả những gì mà nền Cộng Hòa của chúng ta đã làm được và đang cố gắng phát triển và thăng tiến.

Tuy nhiên, một điều mà chúng ta phải thừa nhận, đó là quốc gia của chúng ta còn là một nước phát triển, chúng ta chưa có kỹ nghệ sản xuất vũ khí. Quân đội của chúng ta, trong ngành tình báo kỹ thuật, trang bị còn rất hạn chế, vì phải nhờ vã ở đồng minh.

Chúng ta không có xe tăng M-48 bắn bằng tia hồng ngọai tuyến, hay điều khiển bằng máy vi tính, vũ khí chống chiến xa T-54 là súng M-72, dài gần một mét, nặng gần 12 pound. Mổi khẩu M-72 chỉ xử dụng đúng một lần, bắn xong một phát là vất bỏ khẩu súng. Thử hỏi mỗi người lính khi đi hành quân phải mang đầy quân trang quân dụng thì còn mang theo được bao nhiêu khẩu M-72. Bom không đủ dùng, bom không có ngòi nổ. Cấp số đạn cho vũ khí cá nhân thực sự hạn chế, phương tiện truyền thông liên lạc còn rất thô sơ, nhiên liệu hoàn toàn bị lệ thuộc, mà đặc biệt là quân số của chúng ta chưa đủ để phân phối vì bị ràng buộc bởi luật động viên.

Và cái phải đến đã đến, chúng ta đã không ngăn chận được biển người của kẻ địch tràn ngập thành phố này, Ban Mê Thuột đã mất, mất hết cả ước mơ, hoài bảo và tương lai.

PHỐI TRÍ VÀ TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG

Lực lượng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) tại thị xã Ban Mê Thuột lúc bấy giờ không quá một ngàn người, gồm hậu cứ của Bộ Tư Lệnh (BTL) Sư Đoàn 23 Bộ Binh, hậu cứ Bộ Chỉ Huy Thiết Đoàn 8 (quân số chủ lực của các đơn vị này đã được điều động về Pleiku và Kontum từ trước Tết mà chưa được trả về như chỉ thị của Tổng Thống lúc kinh lý Pleiku trong dịp Tết Ất Mảo 1975). Ban Mê Thuột thực sự chỉ là một thành phố hoang không lực lượng bảo vệ, nói theo một nghĩa nào đó. Do vậy, vấn đề phân nhiệm tuy có kế hoạch chu tường nhưng chỉ là một màng nhện.
Hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh, và các phòng cùng các ban trực thuộc, chịu trách nhiệm phòng thủ phía Nam thị xã. Hậu cứ Bộ Chỉ Huy Thiết Đoàn 8 chịu trách nhiệm phía Tây, khu vực nặng nề nhất. Kho đạn (trại Mai hắc Đế) bảo vệ một mặt phía Tây-Nam cùng với Trung Tâm Yểm trợ tiếp vận (đại đội hành-chánh tài-chánh, tức là Ban Lương Bổng). Phía Đông do Trung Tâm Huấn Luyện Sư Đoàn 23 Bộ Binh đảm trách. Xa hơn là Chi Khu Ban Mê Thuột và Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia quận Ban Mê Thuột sẽ phối hợp với nhau để chịu trách nhiệm vấn đề phòng thủ. Mặt Bắc thị xã là Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia tỉnh Darlac cùng với một đơn vị Cảnh Sát Dã Chiến. Nội vi thị xã và các chốt điểm trọng yếu đều do lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia đảm trách, và được bố trí như sau:

Hai chốt cảnh sát đặt tại Trường Trung Học Tỉnh Hạt và cuối đường Phan Chu Trinh là các chốt ở cửa Bắc. Cuối đường Tự Do, Bến Xe Cây Số 3, được giao cho Cục Cảnh Sát Quốc Gia Cư Kplong và một tiểu đội Cảnh Sát Dã Chiến. Cửa ngỏ phía Nam có Cục Cảnh Sát Quốc Gia Cư Ê Bư và một đơn vị Cảnh Sát Dã Chiến chịu trách nhiệm. Cửa Tây thị xã giao cho Cục Cảnh Sát Quốc Gia thị xã Cục Lạc chịu trách nhiệm. Các cao ốc trong toàn thị xã và các khách sạn, như khách sạn Anh Đào, Hồng Kông, đều được Cảnh Sát Quốc Gia đóng chốt.
Các đơn vị trừ bị gồm có một tiểu đoàn của Trung Đoàn 53 Bộ Binh đóng tại phi trường Phụng Dực, cách thị xã Ban Mê Thuột 7 km, có trung đội pháo binh 105 ly. Nhưng tiếc thay, pháo binh của Cộng quân lại là loại 130 ly, và hỏa tiển 122 ly, tầm xa và sức công phá hoàn toàn cách biệt.

Lực lượng Cộng quân có một trung đoàn địa phương là Trung Đoàn 25, ba sư đoàn quân chính quy Bắc việt gồm các Sư Đoàn 320 (tiền danh là Nông Trường 3 Sao Vàng), Sư Đoàn 316, và Sư Đoàn F10. Thêm vào đó, Cộng quân có hàng trăm chiến xa T-54, các đại bác 130 ly, hỏa tiễn 122 ly, BKZ 82 (bích-kích pháo không-giật dùng để phá hủy các công sự phòng thủ).

Với những đơn vị tham chiến có mặt này, quân số của Cộng quân đã lên đến hằng chục lần hơn so với quân số của Việt Nam Cộng Hòa. Và nếu cộng thêm đoàn Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, Nghĩa Quân và lực lượng Nhân Dân Tự Vệ xã Lạc Giao, quân số của ta cũng không vượt quá 2,000 người. Nhưng thực sự thì bảy ngày sau Cộng quân mới hoàn toàn làm chủ Ban Mê Thuột. Đó chính là nhờ lòng dũng cảm, tinh thần quyết chiến-đấu của từng người lính, và cấp chỉ huy của mỗi đơn vị trong suốt những giờ đầu chiến cuộc.

MỞ ĐẦU TRẬN ĐÁNH

(Xem Phóng đồ trận đánh)
Từ 1giờ 20 đến 2 giờ 15 sáng ngày 10 tháng 3/1975, các chốt điểm Cảnh Sát Dã Chiến ở cửa Bắc và cửa Tây thị xã đã phát giác các tổ trinh sát tiền phong của Cộng quân và liên tiếp báo về Trung Tâm Hành Quân Cảnh Lực, Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia tỉnh Darlac.

Hai giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975, Cộng quân bắt đầu thực hiện trận mưa pháo theo chiến thuật tiền pháo hậu xung bằng đại bác 130 ly, hỏa tiển 122 ly vào các cứ điểm quân sự như Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh, kho đạn Mai Hắc Đế và phi trường L19.

Tiếng rít của hỏa tiển và đạn đạo 130 ly khủng khiếp như xé cả không gian mà người ta thực sự chưa từng nghe thấy một lần trong đời. Những tiếng nổ đó cứ liên tục như những dây pháo đại không ngừng, làm vỡ tung hết các cửa kiếng và rung chuyển cả thành phố như cảnh tượng động đất được thấy trên các màn bạc. Các nhà cao tầng bị rung chuyển cực mạnh. Và màng nhĩ của con người chỉ còn ghi nhận tiếng “o o” mà không còn nghe được một âm thanh nào khác.

Thành phố đã như con tàu chao nghiêng trong bão tố. Một số các nhà xây thô sơ quanh các khu vực quân sự đã bị sụp đổ, và trận mưa pháo liên tiếp không ngừng đổ xuống các cứ điểm quân sự của ta cho đến 6 giờ sáng.
Bốn giờ sáng cùng ngày, chiến xa T-54 và bộ đội Cộng Sản chia làm nhiều mũi tấn công vào phi trường L19, kho đạn Mai Hắc Đế với chiến thuật biển người.

Sáu giờ 15 sáng, xe phóng thanh của Ty Thông Tin đậu tại Ngã 6 thị xã phát lời kêu gọi của đại tá tỉnh trưởng yêu cầu đồng bào bình tỉnh, ai ở nhà nấy, tình hình an ninh tại thị xã vẩn còn yên tỉnh.
Sáu giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975, một góc phía Bắc của phi trường L19 bị Cộng quân tràn ngập.

Bảy giờ 15 các chốt cảnh sát xin lệnh rút khỏi vị trí phòng thủ vì áp lực địch quá mạnh. Cũng lúc này, dân chúng từ khu vực Buôn A-Lê B, Tân Mai, cửa Nam thị xã lũ lượt chạy vào trung tâm thànhphố.
Tám giờ 30 cùng ngày, Kho đạn Mai Hắc Đế thất thủ. Viên đại úy chỉ huy trưởng bị trọng thương.
Chín giờ 20, chiến xa T-54 và bộ đội Cộng quân chia làm nhiều mũi tấn công vào thị xã. Một mũi từ cuối đường Phan Chu Trinh (cửa Bắc ) tràn chiếm khu vực nhà thờ Chính Tòa, ngã Sáu thị xã, cách Bộ Chỉ HuyTiểu Khu 800 mét. Mũi phía Nam, từ khu vực Buôn A-Lê B, đồi Trung Học La San, theo đại lộ Thống Nhất tiến đánh khu vực tư dinh Tỉnh Trưởng, Ty Ngân Khố. Một mũi khác, từ hướng chùa Khải Đoan, đánh chiếm ngã tư Nguyễn Tri Phương Phan Bội Châu, và mặt Tây thị xã đã bị Cộng quân tấn chiếm.

Khu phố Nguyễn Trãi Nguyễn Tri Phương, dân chúng bồng bế nhau chạy về chùa Khải Đoan và Trường Bồ Đề dưới mưa đạn AK và đại bác của kẻ thù. Tiếng khóc của trẻ con, tiếng kêu mẹ, gọi chồng hòa lẩn tiếng đạn rít nghe thê lương hải hùng không nỗi nào tả xiết. Dãy phố Quang Trung, Lý thường Kiệt, từ nhà hàng Hoàng Vinh đến tiệm may Hoàng Yến, đối diện Ngân hàng Đại Á bốc cháy dữ dội. Khu phố Hai Bà Trưng, Quang Trung, từ khách sạn Hồng Kông chạy dài đến Ama Trang Long đã thành một biển lửa. Quả thật cuộc sống của thành phố này đang bị hủy diệt. Những cụm lửa cuộn theo tàn hòa trong khói đục tiếp tục bay cao để đốt cháy nốt những khu phố lân cận.

MẶT TRẬN TIỂU KHU DARLAC

Từ 9 giờ 30 sáng ngày 10 tháng 3/1975, các mũi tiến quân của Cộng quân từ hướng bắc và hướng Tây bắc đã hoàn toàn tràn ngập trung tâm thành phố và tập trung nổ lực tấn công Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu nằm trên đại lộ Thống Nhất. Bộ đội và chiến xa T-54 của Cộng quân từ khuôn viên nhà thờ chính tòa tràn qua ngã Sáu, chiếm Câu Lạc Bộ Biên Thùy, khu cư xá sĩ quan, nằm trên Ngã Ba đại lộ Thống Nhất và đường Lê Lợi, nhưng không tràn qua được khu vườn hoang của Bác Sĩ Tôn Thất Niệm, nằm sát hệ thống công sự phòng thủ của Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu.
Lực lượng phòng vệ Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu phản công quyết liệt. Một chiếc T-54 của Cộng quân bị bắn cháy. Dù với chiến thuật biển người và với BKZ 82 ly cùng đại bác 100 ly trang bị cho T-54 bắn trực xạ không ngừng vào hệ thống công sự phòng thủ của tiểu khu, Cộng quân vẫn chưa tiến sát được vào hệ thống công sự phòng thủ này. Tinh thần chiến đấu và lòng dũng cảm của những chiến sĩ thuộc Tiểu Khu quả thật không thể tưởng tượng. Cứ mỗi đợt tiến công của Cộng quân là những tràng đại liên, M-79 (súng phóng lựu) và M-16 từ các công sự phòng thủ xối xả phản kích làm cho bước tiến quân của Cộng quân đã phải ngừng lại.

Cộng quân lui về cố thủ khu vực cư xá sĩ quan và Câu Lạc Bộ Biên Thùy, đồng thời chia quân tràn qua đại lộ Thống Nhất đánh chiếm Tòa Án, bưu điện, tòa nhà Đại Biểu Chính Phủ, và tiếp tục thực hiện trận mưa pháo bằng đại bác 100 ly từ các chiến xa T-54 và đại bác130 ly cùng hỏa tiễn 122 ly từ hướng Tây thị xã (khu vực Bandon) đổ vào Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu.

Mười một giờ 20, một chiếc T-54 của Cộng quân tiến vào cổng trước Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu trên đường Thống Nhất đã bị bắn hạ. Tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ Tiểu Khu càng lên cao.
Mười một giờ 45, hai chiếc Commando Car (thiết giáp với bốn bánh cao su, không xích sắt) của Thiết Đoàn 8 từ hướng chùa Khải Đoan theo đường Quang Trung qua Tôn Thất Thuyết để tiến về đánh bọc hậu lực lượng của Cộng quân đang công hãm Tiểu Khu. Nhưng khi đến ngã Ba Ama Trang Long Tôn Thất Thuyết, các chiến sĩ Thiết Đoàn 8 bị lực lượng của Cộng quân từ ngã Sáu tràn xuống chận đánh. Hai chiếc Commando Car bị Cộng quân bắn cháy trước Bar Quốc Tế. Nhưng các chiến sĩ của Thiết Đoàn 8 đã len theo khu phố Ama Trang Long để tiến về hướng Tiểu Khu.

Cũng giờ này, khu chợ Ban Mê Thuột, từ đường Quang Trung chạy dọc theo đường Y Jút đến Ama Trang Long bị trúng đạn và bốc cháy dữ dội. Nhà hàng Thanh Thế mới khai trương, cũng tân kỳ không thua gì nhà hàng Thanh Thế ở đại lộ Lê Lợi Saigon, giờ đây đang là một biển lửa. Dãy phố bên kia đường Ama Trang Long, đối diện với nhà hàng Thanh Thế như tiệm Rồng Vàng, nằm mặt sau của Ty Cảnh Sát cũ đã là một bãi gạch vụn. Khu phố nằm trên đường Y Jút, đối diện với chợ Ban Mê Thuột như nhà của Bác Sĩ Tôn Thất Hối đã bị sập.

Cho đến giờ này, 11 giờ 45 ngày 10 tháng 3/1975, các chiến sĩ của Tiểu Khu Darlac vẫn cố thủ Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, và lực lượng của Cộng quân từ 2 mặt, phía Bắc, tức là khu cư xá sĩ quan và mặt tiền Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, tức là từ Bưu Điện, tòa nhà Đại Biểu Chính Phủ đã bám sát hệ thống công sự phòng thủ của Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Những trận đánh xáp lá cà đẫm máu đã xảy ra dọc theo hệ thống công sự phòng thủ.
Một giờ 15 trưa ngày 10 tháng 3/1975, Trung Tâm Hành Quân của Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu bị trúng pháo, mọi liên lạc truyền tin bị phá hủy.

Mười bốn giờ 20 ngày thứ Hai, 10 tháng 3/1975, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Tỉnh Darlac thất thủ, sau hơn 7 tiếng đồng hồ giao tranh với lực lượng biển người của Cộng quân có chiến xa T-54, và các loại đại pháo yểm trợ, mà không có được một đơn vị bạn nào tiếp cứu.

Sáu mươi ngàn dân thị xã Ban Mê Thuột mãi mãi ghi nhớ chiến công, lòng dũng cảm và tinh thần kỷ luật của các chiến sĩ Tiểu Khu Darlac trong những giờ phút lâm nguy đã cố gắng và hy sinh để làm tròn bổn phận cho đến hết sức mình. Xin gởi tấm chân tình sâu xa nhất của chúng tôi đến Trung Tá Vĩnh Hy, người trực tiếp chỉ huy mặt trận, với những trận tấn công và đánh xáp lá cà cùng lực lượng biển người của quân thù, và để đến giờ phút cuối đành di tản Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu để bảo toàn lực lượng.

Xin anh linh của những chiến sĩ đã sống hùng thác thiêng, phù trợ cho thành phố này và những đồng đội của mình trên những chặng đường di tản. Các vị mãi mãi là những anh hùng và thần linh của thành phố này.
MẶT TRẬN PHÍA BẮC THỊ XÃ
Những Trận Đánh Oanh Liệt của Các Chiến Sĩ Cảnh Sát Quốc Gia Thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac
Trong kế hoạch phòng thủ thị xã Ban Mê Thuột, Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac là một trong những đơn vị chịu trách nhiệm về một khu vực phòng thủ nặng nề nhất, từ nội vi thị xã đến cả một mặt Bắc, bao gồm phi trường trực thăng và phi trường L19. Phòng thủ phi trường L19 là đơn vị Thám Sát Tỉnh (PRU), trực thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh.

Với những tin tức nhận được của mạng lưới tình báo cơ hữu và của các đơn vị bạn, vị chỉ huy trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh, Trung Tá Trần Quang Vĩnh đã sẵn sàng kế hoạch phòng thủ và phản công cho đơn vị hằng tháng trước. Ông đã bổ nhiệm Đại Úy Nguyễn Ngọc Tuấn, Đại Đội Trưởng đại đội Cảnh sát Dã Chiến 206 làm phụ tá chỉ huy trưởng đặc trách hành quân.

Mười một giờ trưa ngày 9 tháng 3/1975, sau khi dự phiên họp tại Tiểu Khu, có sự tham dự của Thiếu Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn 2, ông trở về Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Tỉnh cùng với vị phụ tá hành quân triệu tập một phiên họp tham mưu với các cấp chỉ huy, nhắc lại lệnh cấm trại một trăm phần trâm và lệnh báo động đỏ cho toàn thể các đơn vị trực thuộc. Ông cũng cho lệnh di tản gia đình nhân viên ra khỏi thị xã để sẳn sàng chiến đấu. Đồng thời Đại Tá Vĩnh chuyển đến các Cục Cảnh Sát Quốc Gia Xã Đặc Lệnh Truyền Tin, Khóa KCD và ra lệnh được phép tiêu hủy hồ sơ đơn vị nếu cần thiết.

Phân công trách nhiệm phòng thủ Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát mới cho Thiếu Tá Chỉ Huy Phó và sĩ quan phụ tá hành quân, với Đại Đội 206 Cảnh Sát Dã Chiến. Ty cảnh Sát cũ, nằm ở khu vực sân vận động trên đường Ama Trang Long Tôn Thất Thuyết, gồm 2 phòng Truyền Tin và Kỷ Thuật do chỉ huy trưởng đảm trách.

Mười hai giờ 30 cùng ngày, Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac nhận được tin một đơn vị của Cộng quân đã tiến vào khu vực Buôn Ea H’Neh, cách thị xã Ban Mê Thuột khoảng 6 km về phía Tây. Viên chỉ huy trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh đã tức thời trình Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu và Đại Tá Nguyễn Trọng Luật. Đồng thời ông cũng báo cáo về Bộ Chỉ Huy Cảnh sát Quốc Gia Khu 2 (Nha Trang ) và Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2/Quân Khu 2. Nhưng tiếc thay, Bộ Chỉ Huy Khu và Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn đã không có biện pháp ngăn chận.

Hai giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975, Cộng quân bắt đầu tấn công phi trường L19, (khu vực phòng thủ của Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh, do Đại Đội Thám Sát chịu trách nhiệm), bằng đại bác 130 ly và hỏa tiễn 122 ly.
Đến 4 giờ sáng ngày 10 tháng 3/1975, Cộng quân bắt đầu dùng lực lượng bộ binh với chiến thuật biển người và xe tăng T-54 tấn công phi trường L19. Đơn vị Thám Sát Tỉnh chống trả quyết liệt và báo cáo về Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia. Đại Úy Nguyễn Ngọc Tuấn liền liên lạc với Tiểu Khu xin Đại Đội 1/224 tiếp viện. Nhưng Đại Đội 1/224 đã không thể chọc thủng vòng vây của Cộng quân ở mặt Bắc Phi trường L19.

Sáu giờ 20, một đoạn vòng đai ở khu vực phía Bắc phi trường bị chọc thủng. Lực lượng Cộng quân tràn ngập khu vực này, và đơn vị Thám Sát Tỉnh đã phải lui về phòng tuyến phòng thủ phía sau. Tổn thất về nhân sự nặng nề nhất trong mặt trận Ban Mê Thuột, phải kể hàng đầu là đại đội Thám Sát của Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac. Những hy sinh mất mát đó người dân thị xã thực sự không bao giờ quên lãng.

Sau khi tràn ngập các chốt điểm tiền tiêu, 9 giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975, lực lượng Cộng quân từ mặt Bắc thị xã, tức là khu vực phía Bắc phi truờng L19 và bến xe Cây Số 3 bắt đầu tấn công Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac,nằm trên đường Tự Do để xâm nhập trung tâm thành phố.

Lợi dụng hệ thống công sự phòng thủ và các dãy hàng rào kẽm gai bảo vệ phi trường L19 nằm bên kia đườngTự Do, lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia đã chận đứng các mũi tiến quân của Cộng quân. Các chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia dù chỉ được trang bị M-16, M-79 và lựu đạn nhưng đã anh dũng phản công quyết liệt trước những đợt tấn công của Cộng quân, không cho địch tiến sát vào hệ thống công sự phòng thủ.

Một con đường an toàn duy nhất trong lúc này, chính là con đường Tự Do, chạy dài từ bến xe Cây Số 3, dọc theo sườn Đông của phi trường L19 đến tư dinh của vị tư lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Không phải chỉ những chiến sĩ thuộc các binh chủng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mới có kỷ thuật và kinh nghiệm chiến đấu, mà thực sự những người Cảnh Sát Quốc Gia thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac, trong mặt trận Ban Mê Thuột, đã thể hiện hoàn toàn lòng trách nhiệm và tinh thần Trừ Bạo An Dân.

Chính nhờ lòng dũng cảm chiến đấu, kỷ thuật tác chiến, và hệ thống chỉ huy chặt chẽ này, mà một mặt phía Đông thị xã Ban Mê Thuột, từ khu đường Tự Do, chạy dài xuống Bà Triệu, Hùng Vương, Trường Trung Học Tổng Hợp Ban Mê Thuột, chưa có bóng dáng của Cộng quân. Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac đã trấn giữ một khu vực an toàn mà có lẽ họ không thể nào ngờ được, đó là con đường di tản duy nhất sau này cho các đơn vị phải rút lui vào phút cuối.

Xin mượn những giòng nước mắt, và nỗi xúc động sâu xa trong tâm hồn để bày tỏ sự cảm phục trước lòng dũng cảm, tinh thần trách nhiệm và anh dũng chiến đấu của những chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac đã cương quyết bảo vệ thành phố nhỏ bé này cho đến phút lâm chung. Xin anh linh của những vị đả khuất phù trợ cho thành phố này và những đồng đội của mình giữ được lòng trung kiên với tổ quốc và tinh thần vì dân trừ bạo bất diệt.
Mười lăm giờ 40 ngày thứ hai, 10 tháng 3/1975, với áp lực của địch, và để bảo toàn đơn vị, Thiếu tá Hàn Văn Thành, chỉ huy phó Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac đã ra lệnh mở đường máu đem đơn vị ra khỏi thị xã về Cây Số 5, phối hợp với các đơn vị trực thuộc và Chi Khu Ban Mê Thuột để tiếp tục phản công quân thù.
Mười sáu giờ ngày thứ Hai, 10 tháng 3/1975, Cộng quân hoàn toàn làm chủ tình hình thị xã Ban Mê Thuột, ngoại trừ khu vực Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh còn được trấn giữ.

Trong thành phố, tiếng súng nhỏ đã im, nhưng cảnh tan hoang của thị xã thật không cách nào tả xiết. Những khu phố bị cháy không ai dập tắt, đóm lửa, tro tàn, và bụi khói bao phủ khung trời thị xã như một màn sương đục. Mặt đường lổ loang những dấu đạn cày. Bên cạnh những đóng tro tàn, từng nhóm người co ro sợ hãi cúi mặt không dám khóc. Những trẻ em mất cha, lạc mẹ kêu van đã khàn tiếng.

Rải rác trên các khu phố, những vũng máu và thây người, kẻ bị thương, bị chết không ai săn sóc. Thị xã không hẳn là một bãi tha ma, không gọn gàn sạch sẽ như nghĩa trang người chết, mà là hổn độn của một thế giới nửa sống, nửa chết. Vợ ôm xác chồng không dám khóc, mẹ nhìn thây con giá lạnh không dám đem về. Người ta vẫn sợ một Mậu Thân thứ hai, năm 1968, ở Huế. Bóng dáng của Cộng quân như tử thần dến chiêu hồn kẻ sống đe dọa mọi người.

Sáu giờ chiều thứ Hai, ngày 10 tháng 3/1975, bộ đội Cộng Sản lại chia thành từng toán, đi lục soát khắp cùng thị xã, và thanh lọc dân chúng ở các tụ điểm của người chạy nạn như chùa Khải đoan, Trường Bồ đề, Trường Tàu ở đường Y Jút, và bắt đi những thanh niên nam, nữ.

Người dân thị xã không còn điểm tựa, không còn chỗ kêu cứu. Người ta theo lệnh của những khẩu AK chỉa vào họ như một cái máy, không cảm xúc, nỗi kinh hoàng đã cướp đi mọi cảm giác của con người. Và cũng chính giờ phút này, người ta hiểu thế nào là đường ranh của cõi chết.

Nhưng niềm tin và lòng hy vọng của muôn người lại trở về trong bản năng và tâm linh của họ. vì trên bầu trời thị xã, hai chiếc L-19 đang lượn vòng trên đầu Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh, mà từ sáng, nỗi hãi hùng đã làm người ta quên mất. Những tia khói đục như một màng luới từ dưới đất tung lên, tạo thành những chiếc dù tí hon bao quanh hai chiếc L-19, Đó là đạn phòng không 37 ly và 12 ly 7 của Cộng quân, nhưng không một chiếc L-19 nào bị trúng đạn.

Phật Xá Lợi vẫn còn tại thế, Chúa Giê Su về trời vẫn lập phép Thánh Thể để nuôi người thế gian, Bộ Tư Lệnh Sư Đòan 23 Bộ Binh vẫn còn đó, nghĩa là linh hồn và niềm tin của người dân thị xã vẫn chưa bị hủy diệt. Mọi người như thầm xin “Những Con Ó của Sư Đoàn 23 ơi, xin hãy vì 60 ngàn dân và thành phố thân yêu này mà chiến đấu.”

BAN MÊ THUỘT GIÂY PHÚT LÂM CHUNG

Cuộc tấn công vào thị xã Ban Mê Thuột lúc 1 giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975 của 3 sư đoàn Bộ Binh Bắc Việt cùng với chiến xa T-54 và các loại trọng pháo cho đến lúc này đã hầu như lắng đọng trong nội vi thị xã (16 giờ 10 ngày 10 tháng 3/1975). Và các cứ điểm quân sự quan trọng đã bị Cộng quân tràn ngập.
Sáu giờ 20 ngày 10 tháng 3/1975, phi trường trực thăng và L19, đài kiểm báo, đơn vị phòng thủ phi trường, nằm ở phía Bắc thị xã, cuối đường Phan chu Trinh và Tự Do, đã bị tê liệt.

Tám giờ 20 cùng ngày, kho đạn Mai Hắc Đế, phía nam Tây-Nam thị xã bị thất thủ
Mười một giờ 50, hậu cứ Thiết Đoàn 8 Thiết Giáp ở cửa Tây thị xã di tản.
Mười hai giờ trưa, Cuộc Cảnh Sát Quốc Gia Xã Lạc Giao, nằm trên đường Quang Trung Tôn thất Thuyết, cạnh chợ Ban Mê Thuột tan hàng.

Mười bốn giờ 20 chiều ngày 10 tháng 3/1975 Bộ Chỉ huy Tiểu khu Darlac thất thủ.

Mười lăm giờ 40 cùng ngày, Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia tỉnh Darlac rút khỏi thị xã.

Trong gần suốt 14 giờ đồng hồ, các đơn vị quân đội, Cảnh Sát, Nghĩa Quân, Đoàn Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn Tỉnh,và Nhân Dân Tự Vệ toàn thị xã đã tận hết sức mình để chống trả với lực lượng biển người, chiến xa và đại bác của Cộng quân mà không có được một đơn vị bạn nào tiép cứu.

Và giữa những giờ phút quyết liệt này, người ta nhận được tin vào lúc 10 giờ 15 sáng ngày 10 tháng 3/1975, một đơn vị Biệt Động quân từ cửa Bắc thị xã (bến xe Cây Số 3) đã xâm nhặp trung tâm thành phố. Tin tức này được loan truyền đến hầu hết các đơn vị đang chiến đấu trên khắp các cửa ngõ thị xã, và mỗi người lính, từ cấp chỉ huy cho đến binh sĩ đều vui mừng nắm chắc phần quyết định chiến trường.

Nhưng cho đến một giờ chiều, tin tức về Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân vẫn im hơi lặng tiếng, mà chiến trường mỗi lúc càng quyết liệt hơn, cho đến khi người ta biết rằng đơn vị Biệt Động Quân tiến vào thị xã sáng nay là chỉ để giải cứu gia đình của vị Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh ra khỏi thị xã.
Tin này quả thật là một tác động tâm lý, không những làm cho các đơn vị tham chiến mà cả toàn thị xã có cảm nghĩ Ban Mê Thuột đã bị bỏ rơi. Tuy nhiên với tinh thần và trách nhiệm của một người lính, các đơn vị có mặt tại thị xã vẫn anh dũng chiến đấu với niềm tin lực lượng tổng trừ bị, và đặc biệt là hai Trung Đoàn 44 và 45 Bộ Binh nhất định sẽ được gởi đến.

Nhưng 1 giờ 15 ngày 10 tháng 3/1975, trung tâm hành quân của Tiểu Khu, đầu não của mọi hệ thống chỉ huy và liên lạc cho chiến trường Ban Mê Thuột bị đại bác của Cộng quân pháo sập, tiểu khu thất thủ, rồi Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh di tản và thị xã Ban Mê Thuột đã lọt vào tay Cộng quân.
Một số các tổ trinh sát, các đơn vị an ninh vòng đai thị xã mất liên lạc với đơn vị. Những sĩ quan chỉ huy và binh sĩ của các đơn vị này đã lẫn vào các đoàn người chạy loạn, hoặc tự tái lập các tổ chiến đấu, lẫn tránh vào các khu rẫy cà phê mặt Bắc, phía sau Tòa Giám Mục.

Trong nội vi thị xã, cho đến 6 giờ chiều ngày 10 tháng 3/1975, trận chiến được coi như kết thúc. Thành phố bây giờ như một bãi tha ma, chứa đầy tử khí. Những đống tro tàn của nhiều khu phố bị cháy, bụi khói và gạch vụn, gợi cho người ta cái cảm xúc của một chiến trường tàn cuộc lạnh lẽo rợn người.
ĐÊM KINH HOÀNG

Từ 6 giờ chiều ngày 10 tháng 3/1975, bộ đội Cộng quân bắt đầu chia thành từng toán nhỏ lục soát khắp cùng các khu phố và những điểm tập trung của người chạy loạn như chùa Khải Đoan, trường Bồ Đề, trường Tàu ở đường Y Jút. Họ thanh lọc dân chúng, bắt đi những thanh niên nam nữ, và truy lùng các viên chức chánh phủ, sĩ quan và binh lính.
Khắp cùng các ngõ phố, bọn đặc công và du côn, thi nhau lập công, đập phá các cửa tiệm, dinh thự, tư gia, những nơi mà họ cho là có kẻ thù ẩn trốn, là Việt gian, phản động, làm việc cho Mỹ Ngụy, hoặc có nợ máu với nhân dân. Chúng thi nhau lục soát các trường học, nhà thờ, bức tượng ở nhà thờ quân đội, cạnh trường Hưng Đức cũng bị chúng đập nát, đồng thời lùng bắt những người có thù hằn với chúng, và lôi đốt hết các loại sách báo, giắo khoa, tự điển, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, đặc biệt là những ấn phẩm viết bằng tiếng ngoại quốc như Anh văn, Pháp văn.

Một lần nữa, ngọn lửa tượng trưng cho sự hủy diệt lại bùng lên khắp cùng thị xã. Cảnh hôi của, hôi người, trả thù cá nhân lan tràn khắp nơi. Thành phố bây giờ là một xã hội không tổ chức, không luật pháp, và tai họa thảm khốc đã diễn ra khắp cùng các ngõ phố. Những hình phạt dã man thời tiền sử đã được đem ra thực hiện. Hình ảnh của chết chóc và khủng bố đang bao trùm lên thị xã nhỏ bé này và đè nặng xuống tâm hồn mỗi dân đinh của toàn thành phố. Ở cuối đường Hoàng Diệu, Nguyễn Trãi, Khách sạn Darlac, ba nghiệp chủ khai thác lâm sản đã bị đánh đập đến tàn khuyết, một số viên chức chính phũ, binh sĩ và cảnh sát bị hành hung rất dã man, nhưng các nạn nhân đều không có thuốc men cứu chữa và không được phép cứu chữa.

Sự ngu dốt của kẻ chiến thắng, hay sự dã man và thiếu trình độ của cấp lảnh đạo chính là tai họa và thảm trạng tàn khốc cho một xã hội. Xã hội miền Nam, và dân trí của nền Cộng Hòa miền Nam đã có một trình độ văn hóa và kỷ thuật cách xa gấp bội so với miền Bắc, nên bộ đội Cộng quân, sau khi đã kiểm soát toàn thị xã, lập tức đi dò tìm những ”đài địch,” và đã dùng súng B-40, B-41, hoặc đại bác 100 ly trang bị trên chiến xa T-54 bắn vào các tư gia có trụ ăng ten trên nóc nhà, vì họ cho rằng đó là vị trí đặt các máy truyền tin của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mà các trụ ăng ten TV là những ”đài địch ” ấy đã có khắp trong toàn thị xã. Thảm thương thay cho thành phố Ban Mê Thuột và 60 ngàn dân của thị xã này.

Trong đêm này, không biết có bao nhiêu gia đình tan hoang, bao nhiều người bị chết oan, đánh đập, hoặc bị đấu tố mang thương tích hay tàn khuyết, mà vợ con, thân nhân, bạn bè chỉ đứng nhìn mà không dám kêu van. Máu và lệ đã đổ, nhưng không chảy ra từ khoé mắt, mà lại tuôn ngược vào lòng. Trời ở quá cao mà Phật cũng rất xa, nên con người đã là chủ của con người trong đêm nay, với đầy đủ quyền uy và hung dữ. Đêm kinh hoàng, đêm của địa ngục và Sa Tăng.

Nhưng bộ đội Cộng Sản đã không cần biết tới, mà còn tiếp tay, kích động, cùng với đám côn đồ nằm vùng, truy lùng và tận diệt những kẻ mà chúng thù hằn, hoặc chúng cho là có nợ máu với cách mạng. Và cũng đêm nay, lần đầu tiên, người dân thành phố nhìn được bộ mặt thực của bộ đội Cộng Sản.

Cái quan trọng đối với kẻ chiến thắng trong cuộc chiến 20 chọi 1 này là vơ vét tất cả những gì họ có thể vơ vét: Kho dự trữ lương thực trung ương, trực thuộc Phủ Thủ Tướng nằm trên đường Tự Do, cạnh F Đặc Biệt, Kho Quân Nhu, Quân Cụ, dụng cụ y khoa và dược phẩm, thuốc men của các bệnh viện như Quân Y Viện, Dân Y Viện, Trạm xá, nhà hộ sinh, các cửa tiệm thuốc Tây, các đại lý gạo, cửa hàng bách hóa của tư nhân trong toàn thành phố.

Suốt đêm, người ta nhìn thấy những đoàn Molotova chở đầy hàng hóa vật dụng của thành phố đi về hướng Bandon, phía Tây thị xã.

Trong khi đó, những sĩ quan, binh lính và viên chức chính phủ bị kẹt lại trong thành phố, đang tìm cách lẩn trốn ra khỏi thị xã, hoặc ẩn núp trên các nóc nhà, giữa mái tôn và trần nhà, để tránh bị bắt hoặc bị trả thù cá nhân. Cái lạnh về đêm của mùa Xuân cao nguyên, hoặc cái nóng kinh người của những ngày nắng tháng 3 ở thành phố Ban Mê Thuột đã mấy ai hiểu được, ngoại trừ những người lẫn trốn Cộng quân và bọn côn đồ nằm vùng. Tuy nhiên, nỗi đau đớn của thể xác trong lúc này đã không làm con người cảm nhận được bằng sự kinh hoàng và tuyệt vọng đang dìm tâm trí họ xuống đáy vực mênh mông.

Đêm nay, ở một góc vòng đai thị xã, tôi nhìn rõ đêm đen phủ xuống bãi tro tàn và gạch vụn của khu phố, ngửi mùi khét của tử thi và gia súc trong trận lửa sáng nay mà nghe lòng mình như tan nát, rã rời. Tôi ngậm ngùi thương xót cho những gì vừa mất, những cuộc đời bình dị của từng con người và mỗi gia đình trên thành phố này, mà thời gian chỉ là tối Chủ Nhật hôm qua, mồng 9 tháng 3, và chỉ chưa tròn 24 tiếng đồng hồ mà tất cả đã không còn nữa. 

Tất cả đã trở thành kỷ niệm, như một giấc mơ, đầy hãi hùng và kinh đãm.

Trong nỗi xúc động không cùng đó, tôi chợt nhớ về quảng đời đã qua, những tháng ngày ấu thơ trên thàng phố ”Buồn Muôn Thuở” mà những học trò đệ-thất vẫn quen gọi tên Ban Mê Thuột một thời, giờ đây tôi càng nghe tên gọi đó êm ái lạ thường.

Ban Mê Thuột, quê hương ấu thơ ngày đó, cũng như phố thị êm đềm bình dị của hôm qua đã là một bãi gạch vụn. Nhưng những kỷ niệm yêu dấu của Ban Mê Thuột mãi mãi không phai mờ trong tâm hồn của riêng tôi và của 60 ngàn dân đinh sinh trưởng ở nơi này.

Tôi không hiểu được tại sao trong lúc này tôi lại nhớ về ngày cũ, chuỗi thời gian êm ái của thời niên thiếu trên khuôn viên trường Tổng Hợp. Những ngày tháng rong chơi trong các buôn, làng của khu vực Xã Cữ Êbư có đầy hoa Bằng Lăng màu tím nở rộ mỗi Hè về trên những đồi hoang. Con đường vào Buôn Dung xuyên qua khu suối Bà Hoàng có cỏ vàng và hoa Lan dại. Khu thác Drayling với bờ cỏ đá bám đầy trên những gốc cây dầu già như những cành liễu rũ xuống của mùa Thu Đà Lạt. Và đẹp hơn, là những cành Phong Lan như những chiếc nơ thắt trên bím tóc thiếu nử thuở nào.

Không hiểu tôi đã thương con đường Hai Bà Trưng hay khu cư xá Lam Sơn êm ả buổi chiều về, hoặc là dãy phố Y Jút Quang Trung, nơi thị tứ có Ciné Lo Do và Nguyễn Huệ mà hằng đêm không hề thiếu ánh đèn màu. Khói thơm của tô bún bò rau chuối, hay mùi cay của khói thuốc Lào trong dãy phố chợ dọc Ama Trang Long. Hoặc là cái hun hút của con đường Phan Chu Trinh chạy dài từ Toà Giám Mục đến nhà thờ cha Ngoạn, nối liền với đại lộ Thống Nhất cho tới Buôn Alê A, cửa Nam của thành phố. Hoặc giả là nỗi nhọc nhằn của người bộ hành từ khu đồi dóc Châu Sơn theo ngỏ Hàm Nghi về khu Chợ Nhỏ ở đường Hoàng Diệu nối dài vào mỗi sáng Chủ Nhật. Tất cả đã hiện về trong trí óc tôi như một khúc phim thơ mộng của thời vàng son vừa mất hôm qua.

Tôi vẫn nhớ rõ chiều hôm qua, mồng 9 tháng 3/1975, từng dãy xe nhà đậu nối đuôi nhau trên con đường Quang Trung, cạnh phòng mạch Nha Sĩ Ba, và một góc của đường Quang Trung Hai Bà Trưng, bên cạnh khách sạn Tường Hiệp đến khách sạn Hồng Kông, để chờ ăn một tô hủ tíu Nam Vang của Phú Lâm, và món canh cải chua nấu đầu cá của nhà hàng Hoàng Vinh, đối diện với Ngân Hàng Đại Á. Và cũng chiều hôm qua, tôi và Thạnh còn lang thang trên con đường này, vừa muốn ghé vào tiệm kem Chi Cao, mà cũng muốn ăn một chén Thạch Chè của Tân Ka, nhưng rồi cuối cùng đã vào Blanc de Neige ở Lý Thường Kiệt.

Không phải tôi chỉ nhớ có bấy nhiêu, và nếu chỉ bấy nhiêu thôi, thật chưa đủ để nói về Ban Mê Thuột của tôi, vì danh lam thắng cảnh và cái thơ mộng của thành phố này còn chất đầy trong tâm trí mỗi con người. Từ cái sầm uất của một thành phố kỷ nghệ, Cây Số 7, khu khai thác và chế biến lâm sản, phía Nam thị xã 7 km. Ban Mê Thuột, ”Kinh đô Cẩm Lai và Cà Phê” mà những doanh gia khai thác lâm sản đã đặt tên. Những dãy đồn điền cà phê và cao su rộng hàng chục ngàn mẫu, cho đến những khu giải trí ở ngoại ô, như Vườn Thực Nghiệm, Hồ Trung Tâm… Và trong thành phố, những nơi ăn uống thành danh như Tân Cao Nguyên ở đường Hoàng Diệu, nhà hàng Vĩnh Thuận ở cuối Quang Trung, Cà Phê Thiên Hương ở Lý Thường Kiệt, Vui Sống ở Phan Chu Trinh, Mây Hồng ở khu trường Tổng Hợp… Rồi những dẫy phố xá tấp nập người qua lại như Phúc An, Dân Thiên Đường, Minh Sơn, Trúc Lâm, Rồng Vàng, Thanh Thế… Vân vân và vân vân…

Nhưng tất cả những thơ mộng đó, giờ đây đã bị hủy diệt. Mồ hôi và nước mắt của bao người đã không ngừng đổ ra trong suốt bao nhiêu triều đại để xây dựng nên Ban Mê Thuột với kỳ vọng của họ và con cháu họ mai sau, giờ đây chỉ còn một đóng tro tàn, mà hương khói gần như cũng nhạt nhòa tan đi trong một vài giây phút nữa. Ban Mê Thuột thực sự đã mất rồi, nhưng trong tâm trí những người còn lại, Ban Mê Thuột mãi mãi là máu thịt của châu thân mình.

BỘ TƯ LỆNH SƯ ĐOÀN 23 BỘ BINH VÀ TRẬN ĐÁNH CUỐI CÙNG

Bây giờ là 4 giờ 20 sáng ngày 11 tháng 3/1975, khu suối Đóc Học với những vườn rau tàn tạ đầy dấu dép râu và dấu xích chiến xa. Khu xóm nghèo của một ngoại ô tỉnh nhỏ càng tàn tạ tẻ lạnh hơn lúc nào. Nhìn về khu vực Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh và Dân Y Viện Ban Mê Thuột, chỉ còn thấy được ngọn đèn Signal chơ vơ trên trụ truyền tin. Những đóm màu đỏ của hỏa châu càng nhỏ hơn, như ánh mắt của loài thú hoang trong rừng đêm.
Cái lặng lẽ của đêm trường và cái yên tĩnh của chiến trường càng làm cho người ta liên tưởng tới một cái gì khủng khiếp sắp xảy ra. Lâu lâu một tràng đại liên hoặc những loạt súng nhỏ không phân biệt được AK-47 hay M-16 bắn ra. Và như vậy là đã hơn 24 giờ đồng hồ, từ lúc 1 giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975, đợt tấn công đầu tiên của Cộng quân vào hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, nghĩa là lực lượng phòng thủ hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh đã chống trả không ngừng trong suốt 24 giờ, và không hiểu sẽ còn cầm cự được bao lâu nữa.

Qua hệ thống truyền tin, người ta nhận được tín hiệu của Chi Khu Ban Mê Thuột, và Đại Tá Dậu, chỉ huy trưởng Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân còn ở ngoài vòng đai thị xã, ở mặt Bắc, mà chưa chọc thủng được phòng tuyến của Cộng quân để tiến vào thị xã. Hy vọng duy nhất trong lúc này, là hai chiếc L-19 đang bay trên đầu Bộ Tư Lệnh, dầu rằng màng lưới phòng không với đại liên 37 ly của Cộng quân vẫn không ngừng tấn công.
Và chính trong hòan cảnh này, tôi mới hiểu rõ tinh thần Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm của những chiến sĩ Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Những con ó vùng Cao nguyên đã làm cỏ Sư Đoàn 320 Sao Vàng của Cộng quân vùng Dakto, Tân cảnh, Bến Het một thời nào, giờ đây, những con ó đó vẫn vẫy cánh tung hoành giữa rừng quân địch không một chút e sợ.

Năm giờ 55 sáng ngày 11 tháng 3/1975, chiến trường vẫn còn yên tĩnh, buổi sáng tháng Ba ở vùng cao nguyên thường có sương mù che phủ, nhưng hôm nay, sương mù đã được thay bằng bụi khói, và không khí trong lành của những sáng mùa Xuân năm xưa đã bay mất để nhường chổ cho mùi khét của thuốc súng.

Ở cửa Nam thị xã, lực lượng phòng thủ tư dinh tỉnh trưởng, nằm trên đại lộ Thống Nhất vẫn còn cầm cự. Tư dinh này là một biệt thự khá kiên cố, nửa phần tường phía dưới được xây bằng đá, và hệ thống công sự cũng là những lô cốt đá. Nhờ vậy trung đội phòng vệ tư dinh đã không di tản theo Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Mặt khác, tư dinh này tương đối gần hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh hơn Tiểu Khu. Vả lại, với một phạm vi nhỏ, trung đội phòng vệ dễ dàng bố trí hỏa lực hơn ở một vòng đai rộng lớn như Tiểu Khu. Đo đó, trung đội trưởng là Trung Úy Hoành đã cương quyết không di tản. Sự hiện diện của đơn vị này đã trở thành một chướng ngại và nghi điểm trong chiến thuật đối với lực lượng Cộng quân trong lúc này.

Sáu giờ 30 sáng ngày 11 tháng 3/1975, từ khuôn viên trường tiểu học Nguyễn Du, sau lưng Sở Học Chánh Ban Mê Thuột, người ta nhìn rỏ những chiếc T-54 của Cộng quân, và lực lượng bộ binh đang thực hiện một cuộc chuyển quân bao vây hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Vòng vây này đang được thắt chặt, như một màng lưới dày đặc chung quanh vòng đai phòng thủ Bộ Tư Lệnh. Và 6 chiếc T-54, nhìn được từ hướng Tây-Nam, đang dàn hàng ngang tiến sát và hệ thống công sự phòng thủ Bộ Tư Lệnh. Với kinh nghiệm của những người lính, ai cũng hiểu Bộ Tư Lệnh khó lòng cầm cự được trong vòng vài ba giờ đồng hồ tới.

Trong khi đó, những tiếng súng nhỏ, và đại bác 100 ly, cùng lúc gầm lên như những giây pháo nổ không ngừng, làm rung chuyển cả một vùng trời. Cộng quân bắt đầu nổ lực tấn công hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Và tại cửa Nam thị xã, bộ binh và chiến xa T-54 cũng ráo riết tấn công lực lượng phòng thủ tư dinh tỉnh trưởng. Nhưng chỉ là một trung đội Địa Phương Quân, đơn vị phòng thủ tư dinh làm sao có thể chống trả được với lực lượng biển người và chiến xa T-54 của Cộng quân.

Tám giờ 15 sáng ngày 11 tháng 3/1975, tư dinh tỉnh trưởng bị T-54 ủi sập các bức tường vòng đai, và pháo sập các tầng lầu. Trung úy trung đội trưởng bị trọng thương. Trong máy PRC-25, người ta nghe được tiếng kêu cứu rồi xin lệnh di tản của Trung Úy Hoành, vị sĩ quan Địa Phương Quân vừa ngoài 30 tuổi, nhưng lòng can đảm và kinh nghiệm chiến trường của ông đã vượt xa quá tuổi đời. Ông đúng là một sĩ quan ưu tú của quân đội.

Tư dinh tỉnh trưởng đã thất thủ, chốt điểm cuối cùng ở cửa Nam thị xã đã bị Cộng quân tràn ngập, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh bây giờ như người hùng cô đơn vẫy vùng dưới trời mưa đạn của quân thù.
NHỮNG PHÚT CUỐI CÙNG CỦA BỘ TƯ LỆNH SƯ ĐOÀN 23 BỘ BINH
Lực lượng phòng thủ Bộ Tư Lệnh gồm hai đại đội và một số các phòng ban chuyên môn, trong đó có một đại đội là đơn vị tổng hành dinh, chuyên trách về hành chánh và ẩm thực. Lực lượng chủ chốt là các Trung Đoàn 44 và 45 đang hành quân vùng Pleiku. Trung Đoàn 53 chỉ có hai tiểu đoàn ở Ban Mê Thuột, và một trung đội Pháo Binh 105 ly, nhưng một tiểu đoàn lại đã điều động lên giải tỏa Quận Đức Lập, một quận vừa bị Cộng quân tràn ngập vào sáng Chủ Nhật ngày 9 tháng 3/1975. Tiểu đoàn còn lại phòng thủ Phi trường Phụng Dực, cách thị xã Ban Mê Thuột về phía Đông Đông-Bắc 7 km.
Lịch sử của Sư Đoàn 23 Bộ Binh hiển hách không phải vì những chiến công hay lòng dũng cảm của các vị tư lệnh sư đoàn từ thời Đại Tá Võ Văn Cảnh, Trương Quang Ân để lại, mà chính là những chiến thắng vẻ vang, oanh liệt mà sư đoàn đã mang về cho quân lực, từ những chiến dịch Bình Tây 1 và 2… Những trận đánh kinh thiên lẫy lừng, làm vang dội các địa danh chưa có người biết tới, như Dakto, Bến Het, Tân Cảnh. Lịch sử vẻ vang của một đơn vị quân lực kiêu hùng không dễ tự nhiên mà có, nhưng hôm nay, Sư Đoàn 23 Bộ Binh, lần đầu tiên trong lịch sử đơn vị, và trong quân sử của một quân đội kiêu hùng đang đi vào ngỏ rẽ.

Cho đến 8 giờ 20 sáng ngày 11 tháng 3/1975, đơn vị quân lực còn có mặt tại thị xã Ban Mê Thuột chỉ là hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh, Cộng quân biết rõ điều này, và càng hiểu rằng Trung Đoàn 44 và 45 Bộ Binh nhất định sẽ trở về chiếm lại giang sơn của họ. Và đặc biệt là Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân đang có mặt ngoài vòng đai thị xã ở cửa Bắc, một đơn vị mà các đơn vị chủ lực quân Bắc Việt không bao giờ dám đụng đầu trên chiến trường Cao Nguyên trong suốt nhiều năm qua, từ các mặt trận vùng Tây Bắc Kontum, PleiKu, Bến Het… cho đến chiến dịch càn quét Cục R, cơ quan đầu não tổng chỉ huy các lực lượng của Cộng quân tại miền Nam, đặt ngoài lảnh thỗ quốc gia.

Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân được đổ xuống Buôn Hô, một quận cách thị xã Ban Mê Thuột 35 km về hướng Bắc lúc 4 giờ 30 chiều ngày 10 tháng 3/1975. Đến 9 giờ tối cùng ngày đã tiến sát vào vòng đai thị xã, nhưng chưa chọc thủng được vòng vây của Cộng quân. Tiểu Khu Darlac lúc bấy giờ đã rút ra khỏi thị xã. Hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 cố thủ trong khuôn viên Bộ Tư Lệnh, nên không có được một đơn vị nào làm đầu cầu cho Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân tiến vào thị xã.

Điểm đáng tiếc là 10 giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975, đơn vị tiền sát của liên đoàn đã đột nhập thị xã, di tản gia đình vị tư lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh ra khỏi thị xã, nhưng lại không được lệnh ở lại làm điểm tựa cho Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân đến giải cứu thị xã sau này. Thực sự, nếu Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân có mặt tại thị xã, thì nhất định Ban Mê Thuột đã không thất thủ mà còn đánh tan được 3 sư đoàn quân chủ lực Bắc Việt, và bẻ gãy toàn bộ mọi mưu đồ của Cộng quân.

Từ 6 giờ 45 sáng ngày 11 tháng 3/1975, Cộng quân đã bố trí xong lực lượng thắt chặt vòng văy hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh, và thực hiện trận mưa pháo bằng đại bác 100 ly trang bị trên chiến xa T-54, bắn trực xạ, đại bác 130 ly, hỏa tiển 122 ly từ hướng Bandon dồn dập đổ xuống Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn. Đồng thời, chiến xa và bộ đội Cộng quân dàn hàng ngang tấn công bốn mặt vòng đai Bộ Tư Lệnh. Lực lượng phòng thủ Bộ Tư Lệnh đã chống trả quyết liệt, đẩy lui nhiều đợt tấn công, và đánh cận chiến với quân thù. Nhìn lên khung trời Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 bây giờ chỉ còn thấy được những cuộn khói dày đặc mịt mù. Điều đáng tiếc là mấy chiếc thiết vận xa M-113 còn lại của Sư Đoàn 23 trong lúc này lại lại không thấy hoạt động.

Mười giờ 10 phút, một phi vụ A-37 của Không Quân thả bom nhầm vào Trung Tâm Hành Quân của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23. Mọi liên lạc với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 và Bộ Tổng Tham Mưu hoàn toàn bị phá hủy.
Mười giờ 30 sáng ngày 11 tháng 3/1975, một đoạn hệ thống công sự ở mặt Tây và phía Nam Bộ Tư Lệnh đã bị chọc thủng. Bộ đội và chiến xa của Cộng quân tràn vào hậu cứ Sư Đoàn 23 Bộ Binh như nước vỡ bờ. Đại Tá Vũ Thế Quang, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn, Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Darlac, mở đường máu đem đơn vị thoát khỏi hậu cứ, bỏ lại Ban Mê Thuột và 60 ngàn dân đinh trong một tình huống vô cùng bi thảm. Ban Mê Thuột lâm chung. Sáu mươi ngàn dân như một đàn gà con mất mẹ. Đêm đen phủ xuống thành phố này cùng với nổi hải hùng và tuyệt vọng mênh mong.

MẶT TRẬN PHI TRƯỜNG PHỤNG DỤC VÀ TRUNG ĐOÀN 53 BỘ BINH

Thị xã Ban Mê Thuột đã hoàn toàn lọt vào tay Cộng quân từ chiều hôm qua, ngày 10 tháng 3/1975, và đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cuối cùng là hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh rút khỏi thị xã này lúc 10 giờ 38 phút ngày 11 tháng 3/1975. Nhưng Trung Đoàn 53 Bộ Binh, phòng thủ Phi Trường Phụng Dực, cách thị xã Ban Mê Thuột 7 km về hướng Đông Bắc vẫn cố thủ phi trường và cương quyết chống lại lực lượng biển người và chiến xa T-54 của Cộng quân.
Cùng lúc tấn công vào thị xã Ban Mê Thuột 1 giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975, Cộng quân đã không bỏ sót Trung Đoàn 53. Chiến xa và bộ đội của Cộng quân, với đại bác 130 ly, và hỏa tiển 122 ly yểm trợ đã không ngừng luân phiên tấn công Trung Đoàn 53. Và sau khi đơn vị quân lực Việt Nam Cộng Hòa cuối cùng rời bỏ Ban Mê Thuột, Cộng quân càng tập trung lực lượng tấn công Trung Đoàn 53 ác liệt hơn.

Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53 Bộ Binh là Trung Tá Ân. Biết rõ ý đồ của Cộng quân, nhưng ông cũng hiểu rằng Phi Trường Phụng Dực là điểm tiếp liệu, tiếp vận duy nhất cho lực lượng tổng trừ bị là sư đoàn Nhảy Dù đến giải cứu Ban Mê Thuột sau này, đồng thời đơn vị của ông là lực lượng đầu cầu và liên lạc duy nhất cho các đơn vị bạn về sau. Do vậy, ông đã ra lệnh cố thủ và chỉ thị cho các binh sĩ tiết kiệm đạn dược và mọi phương tiện quân y, dược cụ, cố gắng chiếm dụng vũ khí của địch để chống lại kẻ địch, và phải nhất dịnh bắn trúng mục tiêu.

Trong suốt thời gian 6 ngày đêm, Trung Đoàn 53 Bộ Binh không những đã đánh tan nhiều đợt tấn công của Cộng quân, mà còn tịch thu nhiều loại vũ khí cá nhân cũng như súng cộng đồng để tiêu diệt T-54 và hàng trăm xác quân thù bỏ lại chiến trường. Sự tổn thất nặng nề nhất của Cộng quân trong mặt trận Ban Mê Thuột, hơn 200 nhân mạng, không biết được con số bị thương, và hàng chục T-54 bị phá hủy bằng chính B-40, B-41 của Cộng quân do Trung Đoàn 53 tịch thu tại mặt trận Phi trường Phụng Dực.

Từ sáng sớm ngày 10 tháng 3/1975 cho đến hết ngày 15 tháng 3/1975, Trung Đoàn 53 Bộ Binh chỉ với một tiểu đoàn Bộ Binh, và trung đội Pháo Binh 105 ly đã anh dũng chiến đấu với một lượng Cộng quân nhiều gấp bội, có chiến xa và đại bác đủ loại, mà không cần biết đến Ban Mê Thuột đã thất thủ và đài BBC trong bản tin phát đi vào đêm 14 tháng 3/1975, đã loan tin Sư Đoàn 23 Bộ Binh bị xóa tên trong quân sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Ngày 15 tháng 3/1975, một phi vụ yểm trợ tiếp liệu cuối cùng cho Trung Đoàn 53 đã không rơi đúng điểm ấn định mà lại rơi xuống khu vực Vườn Ương ở Hồ thực nghiệm.

Ngày 16 tháng 3/1975, Trung Đoàn 53 Bộ Binh hoàn toàn mất liên lạc với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2. Hết đạn dược và thuốc men, Trung Tá Trung Đoàn Trưởng đành phải ra lệnh rút khỏi phi trường Phụng Dực. Điểm liên lạc, tiếp vận duy nhất cho Ban Mê Thuột đã lọt vào tay Cộng quân. Nhưng Trung Tá Ân, đúng là người hùng của quân lực, và Trung Đoàn 53 Bộ Binh anh dũng là những người con yêu của Tổ Quốc, đã làm khiếp đảm quân thù, và đem vinh quang về cho một quân đội kiêu hùng của nền Cộng Hòa miền Nam.

Với lịch sử của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, và thực tế của mặt trận Ban Mê Thuột, nếu thị xã Ban Mê Thuột được Trung Đoàn 44 hoặc 45 Bộ Binh phòng thủ, thì cho dầu Cộng Sản Bắc Việt có quân số nhiều gấp ngàn lần đi nữa trong cuộc tấn công này, Ban Mê Thuột và 60 ngàn dân đã không rơi vào biển đêm của lịch sử dân tộc. Và Sư Đoàn 23 Bộ Binh vĩnh viễn là một đơn vị kiêu hùng của một quân lực kiêu hùng bất diệt.

Suốt đêm nay, tôi vẫn mơ màng tự hỏi tại sao Ban Mê Thuột có thể thất thủ dễ dàng và nhanh chóng như vậy? Chỉ với một tiểu đoàn Bộ Binh của Trung Đoàn 53, đã cầm cự với lực lượng Cộng quân hơn suốt 6 ngày đêm.

Qua tin tức các hoạt động của địch được ghi nhận ở những ngày đầu chiến cuộc, và đặc biệt là trong các buổi họp tham mưu, Đại Tá Luật đã nhiều lần nhắc nhở các đơn vị về những hoạt động của Cộng quân, những đơn vị chủ lực quân Bắc Việt đã ghi nhận có mặt quanh vòng đai lãnh thổ, hoặc nghi ngờ đang di chuyển về lảnh thổ Darlac. Và điểm đặc biệt là Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật của Tiểu Khu, một đơn vị mới thành lập đã được đặt trong tình trạng báo động.

Tất cả những sự kiện đó, chứng minh rằng, các giới chức thẩm quyền ở địa phương đều biết trước, Ban Mê Thuột sẽ bị tấn công, nhưng tại sao Trung Đoàn 44 hoặc 45 Bộ Binh lại không được trả về Ban Mê Thuột? Tại sao Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân lại bị mất đi cơ hội xâm nhập thị xã để gải cứu Ban Mê Thuột? Những câu hỏi này, ai có trách nhiệm trả lời, và đến bao giờ mới trả lời được.

MẶT TRẬN PHÍA TÂY BẮC THỊ XÃ VÀ TRẠI ĐỊNH CƯ CHÂU SƠN

Sau khi hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh rút khỏi thị xã lúc 10giờ 38 phút sáng ngày 11 tháng 3/1975), Ban Mê Thuột đã hoàn toàn lọt vào tay Cộng quân. Một số binh sĩ thuộc Tiểu Khu, Sư Đoàn 23 Bộ Binh, Thiết Đoàn 8 Thiết Giáp, đơn vị hành chánh tiếp vận… đã thất lạc đơn vị và chạy vào xã Châu sơn, cách thị xã 3 km về hướng Tây Tây-Bắc.
Xã Châu Sơn là tên của một trại định cư có khoảng 5,000 người, từ miền Bắc di cư vào Nam sau hiệp định Geneve năm 1954, được cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm thành lập vào khoảng năm 1956, cùng với các trại định cư khác trong toàn lãnh thổ tỉnh Darlac.

Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã nhận định Ban Mê Thuột có một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng, không những có thể kiểm soát toàn miền cao nguyên mà còn là giao điểm nối liền cao nguyên với duyên hải, đồng thời từ Ban Mê Thuột còn có thể kiểm soát được vùng Tam Biên Việt Nam, Lào, và Cam Bốt. Vì vậy, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã thiết lập một vòng đai an toàn bảo vệ cho thị xã Ban Mê Thuột bằng một hệ thống gồm các trại định cư sau đây:

Trại định cư Châu Sơn ở mặt Tây tây Bắc thị xã Ban Mê Thuột 3 km. Phía Nam dọc theo Quốc Lộ 14, cách thị xã 5 km là trại Chi Lăng, với dân số khoảng 3,000 người, và xa hơn là Thọ Thành. Phía Đông-Nam cách thị xã 3 km có trại định cư Trần Hưng Đạo gần 2,000 người. Phía Đông khoảng 9 km có Hòa Bình, là quận lỵ của quận Ban Mê Thuột. Cũng về mặt Đông, cách Ban Mê Thuột 15 km, có trại định cư Trung Hòa với dân số 5,000 người. Xa hơn, doc theo Tỉnh Lộ số 5, đường đi Quận Lạc Thiện, có hai trại Kim Châu, Kim Phát, với dân số khoảng 6,000. Phía Bắc Ban Mê Thuột, dọc theo Quốc Lộ 14, cách thị xã 32 km, có 3 trại định cư, chiếm tỉ lệ dân số người Kinh cao nhất trong toàn tỉnh, hơn 10 ngàn người, đó là các trại định cư Hà Lan A và Hà Lan B, Vĩnh Phước, thuộc Quận Buôn Hô, đã nổi tiếng trong trận đánh đầu Xuân năm 1972 với hai trung đoàn Cộng Sản Bắc Việt trong suốt 10 ngày đêm mà chỉ với 7 trung đội Nghĩa Quân và lực lượng Nhân Dân Tự Vệ Xã.

Thị xã Ban Mê Thuột mất, xã Châu Sơn tự họ quyết định số phận của mình, cưong quyết chống lại Cộng Sản, theo tinh thần của cuc khởi nghĩa Quỳnh Lưu, Nghệ An giữa thập niên 1950 và 1960 khi người dân nổi lên chống lại xe tăng và bộ đội Cộng Sản Bắc Việt năm xưa.

Tập hợp lại những binh sĩ tản lạc chạy vào xã, Ban Chỉ Huy Liên Trung Đội Nghĩa Quân đã hô hào đồng bào đào chiến hào dọc theo hàng rào ấp chiến lược, lập tổ tam tam, 3 người một, yểm trợ lẫn nhau, để chống lại quân Cộng sản. Phụ lão và thiếu niên lo phần tiếp tế cơm ăn, nước uống và cứu thương. Thanh niên nam nữ túc trực ở giao thông hào phòng thủ. Suốt 11 ngày đêm, lực lượng Nghĩa Quân, Nhân Dân Tự Vệ và toàn dân xã Châu Sơn đã đánh trả không ngừng với lực lượng Cộng quân.

Cuối cùng Cộng quân phải dùng chiến xa T-54 dàn hàng ngang ủi sập hệ thống giao thông hào và hàng rào phòng thủ. Nhiều trung đội trưởng và liên trung đội trưởng Nghĩa Quân bị thương và bị bắt. Xã Châu Sơn đầu hàng. Riêng liên trung đội trưởng nghĩa quân Nguyễn Văn Tiến bị xử án chung thân. Sau hơn 20 năm những người dân xã Châu Sơn một lần nữa, lại bị nô thuộc dưới chế độ Cộng Sản. Nhưng tinh thần chống Cộng và gương anh dũng chiến đấu của họ nhất định mãi mãi lưu truyền cho thế hệ mai sau.

QUẬN PHƯỚC AN: CỨ ĐIỂM CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ CUỐI CÙNG

Ban Mê Thuột thất thủ, quận hành chánh và các chi khu di tản về quận Phước An để thành lập một tuyến phòng thủ chiến lược nhằm tái chiếm Ban Mê Thuột. Chi khu và Quận Hành Chánh Phước An nằm trên một ngọn đồi trọc phía đông bắc thị xã Ban Mê Thuột 42 km, trên Quốc Lộ 21, giáp ranh với quận Khánh Dương, tỉnh Khánh Hoà, Nha Trang là giao điểm giữa Ban Mê Thuột và Nha Trang, hay là trục nối giữa vùng cao nguyên với miền duyên hải trung phần.
Chín mươi phần trăm dân số Phước An là ngưòi thượng sống rãi rác trong các buôn làng. Trước năm 1960, hầu hết người Thượng ở quân này đều sống bằng nghề làm rẫy, trồng cây ngũ cốc, như bắp và lúa. Nhưng từ sau năm 1960, những di dân từ các miền đến lập nghiệp ở vùng này, đã khám phá ra vùng đất màu mỡ của Phước An rất thích hợp để trồng các loại cây kỹ nghệ như cà phê, cao su, tiêu, ca cao, và từ đó, những dãy đồn điền cà phê mọc lên như nấm nằm dọc hai bên Quốc Lộ 21, từ cây số 5 cách thị xã Ban Mê Thuột về hướng Đông-Bắc cho đến cây số 42 Quốc Lộ 21 và chạy sâu vào hàng chục cây số, đã làm cho Phước An trở nên một vùng trù phú bậc nhất của tỉnh Darlac.

Ngoài cà phê, Phước an còn là khu vực lâm sản quan trọng. Cây Gõ (Cà te) là mối lợi lớn nhất mà các nhà lâm sản thời bấy giờ hằng mơ ước. Quận Phước An có một trường trung học công lập, và hầu như mỗi buôn làng đều có một trường tiểu học cộng đồng, nên dân trí và sinh hoạt của quận này rất cao.
Từ khi Ban Mê Thuột thất thủ, Bộ Chỉ Huy Tiẻu Khu Darlac, Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh, các đơn vị đồn trú tại thị xã, các quận hành chánh và chi khu của các quận đều di tản về Phước An để lập một tuyến phòng thủ và chuẩn bị tái chiếm Ban Mê Thuột.

Bốn giờ 40 chiều ngày 13 tháng 3/1975, hai Trung Đoàn Bộ Binh 44 và 45 thuộc Sư Đoàn 23 được đổ xuống quận Phước An, Đại Tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng Nhì Quân Đoàn 2 được bổ nhiệm làm Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Darlac, lo phối trí lực lượng tái chiếm Ban Mê Thuột.

Từ 13 tháng 3/1975 đến 16 tháng 3/1975, phòng tuyến Phước An được thành lập với lực lượng của ba chi khu và hai Trung Đoàn Bộ Binh 44 và 45 trong một khí thế hết sức thuận lợi. Kế hoạch tái chiếm Ban Mê Thuột được coi là hoàn tất ở giai đoạn đầu, chỉ còn đợi lệnh và chờ phối hợp với lực lượng tổng trừ bị của Bộ Tổng tham Mưu tăng viện.

Nhưng cho đến ngày 17 tháng 3/1975, lực lượng tổng trừ bị vẫn chưa được gởi đến. Trong khi đó, bộ binh và chiến xa của Cộng quân đã từ thị xã Ban Mê Thuột đổ về tấn công ráo riết phòng tuyến Phước An không một phút nào ngừng. Chiều ngày 17 tháng 3/1975, phòng tuyến Phước An bị Cộng quân chọc thủng, cứ điểm chiến lược cuối cùng của Ban Mê Thuột bị tan rã.

Ban Mê Thuột, tỉnh Darlac gồm bốn quận hành chánh và bốn chi khu cùng với 150 ngàn dân rơi vào tay Cộng Sản Bắc Việt. Tỉnh Darlac, một trong 42 tỉnh của Việt Nam Cộng Hoà bị xóa tên trên bản đồ hành chánh của nền Cộng Hòa từ ngày hôm nay.
Tôi lịm chết giữa điệu buồn chất ngất
Thả hồn xuôi theo kỷ niệm xa mờ
Phút vị vong thắp lại nén hương thừa
Mà tưởng nhớ một thời xưa đã sống

Nguyễn Ðịnh
Tân Sơn Hòa chuyển

Bàn ra tán vào (6)

DÂN VIỆT
Xem qua mới thấy sự bất tài của Phạm văn Phú và mang tâm lý lính đánh thuê của Nguyễn văn Thiệu. Trong khi anh em chiến sỹ trăn mình chống trả sự xâm lăng của cọng sản thì Nguyễn văn Thiệu lại giở trò buôn bán với Mỹ điển hình qua phát biểu. Mỹ Vt cho 1 tỷ thì giữ đất bao nhiêu, còn 700 triệu thì bỏ bớt bao nhiêu. Trong khi Phương châm của QLVNCH là: Bảo quốc, an dân. Trớ triêu. Còn Nguyễn văn phú thuộc loại ngu trung chấp hành răm rắp lệnh của NVThiệu. Bỏ chạy trong khi kho đạn tại Pleiku còn tồn 14.000 tấn đạn đại bác khoản 1.000.000 viên. Quân số dưới quyền còn 1 phần sư 12, toàn bộ sư 22 và 7 LĐ Biệt động Quân. 2 Thiết đoàn tank M48 và các thiết đoàn M41. Sư đoàn 6 không quân, nhưng chọn cách Kéo chạy về Phú Bổn để rồi phá hủy. Nghỉ lại mới thấy tướng tá miền nam là bất tài, chỉ tội cho anh em chiến sỷ hy sinh không đúng.
----------------------------------------------------------------------------------
DQY
" 1 phần sư 12, toàn bộ sư 22 và 7 LĐ Biệt động Quân. 2 Thiết đoàn tank M48 và các thiết đoàn M41........Nghỉ lại mới thấy tướng tá miền nam là bất tài, chỉ tội cho anh em chiến sỷ hy sinh không đúng." Bạn Dân Việt ơi ,mấy ngày qua tôi thấy bạn có những lời lẽ khó chịu ,mạt sát ,bôi bẩn cuộc chiến chống bọn CS tay sai của Trung cộng .Ngôn từ của bạn hoàn toàn là của một tên VC bán nước . Người lính QDVNCH chiến đấu, hy sinh là để bảo vệ sự tự do ,hạnh phúc cho đất nước, cho dân tộc Việt Nam chớ không cho một đảng phái ,một cá nhân nào .Đó là điều khác biệt với đám lính miền Bắc VC ,bạn nhìn lại cái hành động bán nước ,hèn hạ của đám lãnh đạo Bắc bộ phũ là rõ .Từ công hàm bán nước của Phạm văn Đồng đến câu tuyên bố : Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên sô ,đánh cho Trung quốc ..!!. nếu bạn chối là bạn không phải 1 tên VC phá thối thì bạn dám công khai tên và đơn vị trước kia của bạn không ?
----------------------------------------------------------------------------------
M.79
-39 năm đã trôi qua : nhìn xa , trông rộng hơn bởi INTERNET => Số phận VNCH đã bị định đoạt , an bài từ "bàn cờ Chính Trị" của các ÔNG LỚN ; từ người "bảo trợ / xây dựng" : Mỹ ! -Ban Mê Thuột : chỉ là điểm khởi đầu cho sự sụp đổ của miền Nam ! Sớm hay muộn , VNCH cũng mất,vì một người tý hon lại "thân cô , thế cô" làm sao chống cự lại CS/BV + thằng KHỔNG LỒ CS/Quốc Tế đứng sau lưng ? -Trận chiến VN này => "Thắng" : cũng không "vinh quang" lắm ; "Thua" : cũng không phải vì "dở" quá ! -Buồn , buồn cho thân phận của một nước nhỏ,bé => đả bị xóa sổ !!!
----------------------------------------------------------------------------------
DÂN VIỆT
Bạn DQY Tôi là một người việt Miền Nam tươi đẹp quốc gia chính cống. Con người hơn con vật là biết suy nghĩ. Không dám nhận ra sai lầm của mình thì muôn đời chỉ là con vật đội lớp người. Tôi rất trân trọng tinh thần chống cộng của anh em binh sỹ và sỹ quan cấp dưới của QLVNCH. Bạn có dì chứng minh đầu tháng 3/75 tướng Phú không còn binh lực trong tay. Hay là tướng Phú còn 2 TĐ của sư 23, toàn bộ sư 22, 7 LĐ BĐQ, Sư đoàn 6 KQ. Và toàn bọ lực lượng ĐPQ, Nghĩa quân. Nhưng không tự đứng được trên đôi chân của mình. Chỉ mong chờ lực lượng của bộ TM, Khi không có thì bỏ chạy như lũ hèn để mất miền nam. Tôi là người Việt quốc gia thấy căm phẩn thái độ hèn nhát và bỏ rơi đồng đội. Trong hồi ký Phạm Huấn có nói lại ý kiến của NV THiệu bỏ lại toàn bộ ĐPQ, Nghĩa Quân. Nhất là anh em sắc tộc đã theo chính nghĩa quốc gia. Thật thảm thương cho dân VNCH cob tim trao nhầm chổ.
----------------------------------------------------------------------------------
UH.1
Dường như đang có một âm mưu bôi xấu QLVNCH ,để mọi người quên đi thực trạng Tàu cộng đang xâm lăng VN .Chiến tranh VN đã qua lâu ,mà bây giờ còn tranh cãi chỉ cho mệt vậy DQY ,ai xấu ai tốt cũng biết rồi ,để tâm trí mà lo cho sự tồn vong của đất nước Việt Nam chúng ta
----------------------------------------------------------------------------------
PHÚC NGUYỄN
Nói cho công bình lính VNCH chưa khi nào để mất một thành lũy nào trong suốt cuộc chiến 54-75. Hãy lấy Tống Lê Chân mà đo khả năng lính VNCH. Lính VNCH không đánh giặc cho Thiệu Kỳ, không đánh cho Mỹ, chúng tôi đánh cho dân Việtnam khao khát hòa bình, Lính VNCH đánh CS và không làm chính trị và ai cũng biết những người đã nằm xuống cho đất nước Việtnam trong bất cứ trận chiến lớn nhỏ đều biết mình hy sinh cho ai, những người còn sống bây giờ nói và viết lại chỉ nói làm chuyện huyền thoại. Ai nói sai, nói phải cũng chỉ là huyềng thoại, Sau chót là lính VNCH không gọi Sư này, Sư nọ, cứ tưởng như nom de guerre của Sư Thích Trí Cháng.
----------------------------------------------------------------------------------

Pháo Thủ 46 Kể Chuyện

Pháo Thủ 46 Kể Chuyện Cũ - PT Nguyễn Văn Việt

Tôi nhớ ngày 17/4/75 tôi đến Trảng Bom (Biên Hòa) thay Đại úy Đặng Văn Hùng nhận chức Sĩ quan liên lạc Chiến đoàn 318 XK, là một trong ba đơn vị xung kích thuộc LLXKQĐ3 - LĐ3KB do Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi làm Tư Lệnh.


Tôi nhớ ngày 17/4/75 tôi đến Trảng Bom (Biên Hòa) thay Đại úy Đặng Văn Hùng nhận chức Sĩ quan liên lạc Chiến đoàn 318 XK, là một trong ba đơn vị xung kích thuộc LLXKQĐ3 - LĐ3KB do Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi làm Tư Lệnh.

Chiến đoàn trưởng là Trung Tá Nguyễn Đức Dương, ông đã thay người tiền nhiệm là Trung Tá Phan Văn Sỹ lúc nào tôi không được biết, còn Trưởng Ban 3 vẫn là người “quen”, Đại úy Nguyễn Tẩn. Tôi đã “đi” với Chiến đoàn này nhiều lần rồi kể từ sau mùa Hè đỏ lửa 72 khi Thiết đoàn 18KB trở về Quân Khu 3 từ Chiến trường Quân Khu 1, vì vậy dù phải làm việc với ông Chiến đoàn trưởng mới, tôi vẫn cảm thấy being at home như mình là lính Thiết giáp vừa hết phép trở về đơn vị.


***

Tôi có môt kỹ niệm thật “đẹp” với Trung Tá “Thái Tử” Phan Văn Sỹ muốn nhắc lại vì nó đã từng làm cho tôi “Mừng hết lớn”.

Đó là vào một ngày của tháng Tư năm 74, tôi được “hân hạnh” theo Chiến đoàn “Rền tiếng xích sắc thét vang” trực chỉ Gò Dầu Hạ , rẽ trái qua cầu nổi do Công binh “ta” vừa bắt xong, tiến thẳng qua bên kia tỉnh Khet Svay Rieng rồi bẻ góc về hướng Nam. Nhiệm vụ của Chiến đoàn 318 là cùng các Chiến đoàn 315, 322 giải tỏa áp lực địch đang đè nặng lên Tiểu đoàn 83 BĐQ ở căn cứ Đức Huệ.

Đoàn xe tăng lăn xích ào ào đi trong đêm, qua những cánh đồng khô ráo và trống trải không có một sự ngăn cản nào của quân địch, thỉnh thoảng Thái Tử hỏi Đại úy Tẩn và tôi điểm đứng, so sánh 2 tọa tôi thấy ông gật đầu “happy” tin tưởng.

Khoảng 6 giờ sáng thì địch phát hiện “họ” pháo 3 hay 4 quả gì đó vào đội hình đang tiến quân của chúng tôi. Xác định mục tiêu thật nhanh (Vì trước đó ít phút tôi được Thái Tử hỏi “tới đâu rồi ?”).

Tôi đề nghị dùng đạn nổ thay vì khói để có yếu tố bất ngờ. Thái Tử đồng ý, lúc gửi điện văn tác xạ tôi hơi “teo” vì từ lúc vượt tuyến xuất phát cho đến giờ tôi không có liên lạc gì với pháo đội, giờ này cần mà bên kia im re là “chết”.

Nhưng, đầu “mai” bên kia có người…nghe !

- Địch tập trung tọa độ …pháo đội một tràng “non nước” báo cáo khi sẵn sàng.

Các pháo thủ 46 và 61 thật “tuyệt” vì chỉ vài ba phút chuẩn bị là.

- Đạn đi !

Tiếng đạn xé gió bay đi và nổ ầm, ầm đúng vào mục tiêu, có nhiều tiếng nổ phụ nữa. Là may mắn thôi ! Vậy mà trong lúc bắn hiệu quả Thái Tử lại tặng tôi một gói quà giá trị nghe thiệt “sướng nhĩ”

- Lần này mày được cái Nhành dương liểu.

Sau những tràng hiệu quả tôi chuyển xạ ra xa, Tiểu đoàn 36 BĐQ (TĐT là Thiếu tá Giai) với hỏa lực hùng hậu của Thiết giáp đồng loạt xung phong và tràn ngập mục tiêu, bắt sống vài chục VC tịch thu được nhiều súng đạn có cả đại bác 4 nòng, chúng tôi “đụng” với một đơn vị pháo thuộc Công trường 5 VC. Chiến lợi phẩm được gom lại một chổ. Tôi “hân hoan” đứng cạnh Thái Tử, Trí Dũng (Trưởng ban 3) cùng nhiều SQ và Binh sỉ Mũ Đen, Mũ Nâu khác chụp vài tấm hình trước đống chiến lợi phẩm ngổn ngang này.

Bên cạnh súng, đạn phe ta còn tịch thu được nhiều lúa của VC nữa, xe M 548 chở lúa về Gò Dầu 2, 3 ngày gì đó mới xong. Ngoài cái Nhành dương liểu “hàm thụ” (Thật ra là Thái tử cho tôi thật, nhưng vì một lý do “tế nhị” tôi đã không nhận được cái mề đai nầy) Tôi còn được Thái tử lì xì ba chục ngàn đồng gọi là để “Uống lade chơi” khi Chiến đoàn về đóng quân cạnh nhà máy xay lúa bên này phần đất Việt Nam.

Cũng ở nơi này tôi missed một cái trip “du lịch” Nam Vang, bây giờ nhớ lại còn hơi tiêng tiếc…

Chuyện là : một ngày đẹp trời, một chiếc trực thăng được biệt phái cho Thái Tử xử dụng, ông phi công ham vui đề nghị đi Nam Vang chơi, Thái Tử said “‎yes” vậy là con chuồn chuồn lạch xạch hướng về Thủ Đô xứ Chùa Tháp …on board, ngoài Phi hành đoàn ra có Thái Tử, Trí Dũng, vài SQ Kỵ Binh nữa mà tôi không nhớ tên và tôi, cũng “ké” được một chỗ ngồi trên đó nữa hì hì ! Tôi vui quá trời, tưởng tượng lung tung, nhưng mà chừng năm hay mười phút bay gì đó thôi, máy vô tuyến điện cho biết có “mặt giời” tới thăm. Con chuồn chuồn vòng trở lại rồi landing xuống nhà máy xay lúa …thiệt là “Buồn vào hồn không tên” !


***

Đến tháng 6/75 Ở An Điền (Bến Cát) trong khi Công binh “ta” còn đang bắt cầu nổi, bờ bên này sông Thị Tính tôi là một trong số vài Quân nhân trực thuộc LLXKQĐ3-LĐ3KB “thấy” bằng mắt, 2 chiếc T54 lù lù hướng về Bến Cát, từ lúc nó xuất hiện trên đồi cho đến lúc nó lăn kềnh xuống ruộng lúa. Hai chiếc T54 này nhiều người nhắc đến, nhưng trong Thép và Máu trang 423 Đại tá Hà Mai Việt viết là gần với sự thật nhất “…Tướng Khôi chỉ huy LLXKQD3-LD3KB đánh bại sư đoàn 9 CS ở An điền - Bến cát, yểm trợ Sư đoàn 5 BB tái chiếm căn cứ 81 và căn cứ Rạch bắp vào tháng 7 /74. Trong thời gian này, 1 chiến xa M48 của thiết đoàn 22CX đã bắn lật chiến xa T54CS ở An điền - Bến cát. Một đơn vị BB của Sư đoàn 18 BB đã tịch thu chiếc chiến xa này”


Sự thật thì 2 chiếc T54 này rơi xuống ruộng không do M48 bắn lật, mà do “hỏa lực” của một đơn vị cũng thuộc quyền Chỉ huy của Tướng Khôi loại khỏi vòng chiến.

Tại đây, Chiến đoàn Trưởng 315XK Đại Tá Dư Ngọc Thanh bị thương hỏng một mắt, còn TĐ46PB một SQLL hy sinh đó là Thiếu úy Đổ Do.

Đại úy Trần Văn làm Chi Đoàn Trưởng 2/18KB cũng hy sinh sau đó ở mặt trận này.

Thời gian này, tôi chờ đợi để được “bốc” ra khỏi An Điền vì “Niên trưởng” Nguyễn Văn Khương (Nạn nhân của một cuộc tảo hôn…) đã “hứa” cho đi Nha trang học khóa Quan sát viên phi cơ, nhưng vào giờ chót Đại Bàng cho biết “Toa quen nước quen cái ở trong đó rồi, thôi ráng ở với 318 cho đến khi xong nhiệm vụ, toa sẽ đi khóa sau”

Và tôi đã “ở” với “Thái Tử” cho đến khi bàn giao vùng trách nhiệm lại cho một đơn vị của Sư Đoàn 5 BB.


***

Trở lại với những ngày cuối của tháng 4/75 ở mặt trận Dầu giây, Trảng Bom

Chiều ngày 17/4 VC tấn công mạnh vào vị trí của một chi đoàn thuộc Chiến Đoàn 318 XK, Thiếu úy Thành SQ tiền sát (TĐ46PB) xin tác xạ thật gần (150m), địch bị đẩy lui nhưng Thành bị thương nặng ở mắt, tôi có gặp Thành nằm trên băng ca trong rừng cao su trước khi được tản thương. Anh rất tỉnh táo không chút buồn bả hay sợ hãi nào, dù một con mắt đã bị hư.

Chiều ngày 18/4 tôi còn nhớ Thiết giáp báo là có tiếp nhận một Đại Tá Pháo Binh thuộc Quân đoàn 2 về được tới ngã ba Dầu Giây. Tôi không biết tên vị Đại Tá PB này.

Sau ngày Tổng thống Thiệu từ chức, Trung Tá Trần Duy Lượng (Tiểu đoàn trưởng TĐ46PB) có đến thăm tôi ở BCHCh.Đ318XK, và ông muốn tôi cùng đi với ông thăm các đơn vị pháo thuộc TĐ46PB đóng quanh quẩn trong các vườn cao su ở Trảng Bom. Trên đường đưa tôi trở lại Ch.Đoàn ông buồn hiu chúc tôi mai mắn. Đó là lần sau cùng tôi gặp Trung Tá Lượng. Mới đây qua Đại úy Hùng tôi biết Trung Tá đã mất vì bệnh ở Bidong hồi năm 88 hay 89 gì đó rồi.


***

Ngày 25/4 Sư đoàn 18 BB lên thay. Là đơn vị cơ giới nên theo dự trù toàn bộ LĐ3KB sẽ về Long Bình nghỉ ngơi, để xe pháo được sửa chữa, bảo trì. Rời Trảng Bom về đến Long Bình thì trời đã tối lòng thấy vui vui vì sẽ có một hoặc hai ngày phè phởn.

Nhưng lệnh là không được vào cổng mà phải giữ yên vị trí chờ lệnh mới. Không lâu lắm, tiếng Alpha 5 (Tướng Khôi) ban lệnh (bạch văn) :

- Nhà của Đại Tá Tám cháy, các anh qua bên đó chữa lửa (nguyên văn).

Đại úy Tẩn “dịch” ra cho tôi hiểu là Trường thiết giáp đang bị VC tấn công ( Đại tá Huỳnh Văn Tám là Chỉ huy trưởng trường)

Đoàn tăng ầm ầm tiến về ngã ba Long Bình, rẻ trái ở QL15 hướng về Long thành đến dốc 47 thì chiếm đóng vị trí và qua đêm ở đây.

Sáng ngày 26/4 tin tức hết sức phấn khởi từ Chiến đoàn 322 đang tiến về trường Thiết Giáp hạ được nhiều T54 gây tổn thất nặng cho VC.

Long Thành đã bị VC chiếm, Trung Tá Dương muốn tôi tiêu hủy các khu rừng cao su dẫn về Long thành vì VC tập trung quân đông đảo ở những nơi này, dĩ nhiên là tôi chấp hành lệnh của Trung Tá Dương, các pháo thủ 46 và 61 hết sức tích cực thỏa mãn 100% yêu cầu của tôi. Liên lạc với phi cơ quan sát tôi được viên phi công cho biết như thế này :

- Pháo binh của bạn bắn rất là chính xác, nhưng tụi nó đông lắm bạn ơi !

Gần trưa, một chiếc phản lực bay qua đầu chúng tôi ( ở dốc 47) rồi nhào xuống thả một trái bom, rơi trúng phía bên kia đường cách BCH Ch.Đoàn chừng 200m gây thương vong cho dân đang đông đảo di tản từ Long Thành hướng về Saigòn.

Các đêm 26,27,28/4, Chiến đoàn 318XK vì là thành phần trừ bị cho LĐ3KB nên đóng quân ở trước trại Nguyễn Tuấn, là Bộ Tư Lệnh LĐ3KB nơi đây có 1 Pháo đội 105 ly của TĐ61PB Chỉ huy bởi Trung Úy Thân, vì ở cạnh bên nên tôi có sang thức binh sập sám chờ sáng.

Trong các ngày 27, 28/4 chiến đoàn di chuyển liên tục từ Long Bình đến Hố Nai, Suối Đĩa, để yểm trợ cho các đơn vị bạn đang tiếp địch ở đây. Dân chúng thưa thớt, nhà thì cửa đóng im lìm, có khá nhiều người tỵ nạn ở nhà thờ Hố Nai.


***

Ngày 28/4 tôi về Trung tâm phối hợp hỏa lực cạnh Bộ Tư Lệnh LĐ3KB, nhận tiền của “Kỹ thương ngân hàng” tặng cho toán SQLL chúng tôi; gồm 3 phong bì mổi cái có 40,000 đồng, một tờ giấy nhỏ với dòng chử in rất đẹp “Toàn dân ngưởng mộ Chiến sĩ anh hùng…” còn gì gì nữa ? Tôi quên rồi, chỉ nhớ được như thế thôi !

Chiều ngày 29/4 Chiến đoàn di chuyển về giữ an ninh mặt Tây TP Biên Hòa, BCH thì qua bên kia sông Đồng Nai đóng trong một sân banh dưới chân Núi Châu Thới không xa Cầu Hang lắm.

Cách nơi đóng quân của Chiến đoàn chừng 400m, VC có trang bị đại bác không giật, đóng chốt trong những hầm hố được đào sâu dưới một bờ tre. Ta và địch “Án binh bất động” chưa ai chịu “đi tiền” trước cả.


Khoảng 4 giờ chiều, một đoàn xe đông đảo, đa số thuộc Tiểu khu Biên Hoà di chuyển nhanh về hướng Sài Gòn. Khi chạy ngang qua đây VC khai quả. Những chiếc đi đầu thoát nạn chạy luôn, 1,2 chiêc bị trúng đạn rơi xuống ruộng, một số bỏ xe chạy trở lại phía sau, có nhiều Quân nhân vào “tá túc” với Chiến đoàn 318 KB trong số này có Đại úy Huỳnh Văn Huỳnh trước là Pháo đội trưởng Pháo Đội C/46PB bây giờ thì thuộc TĐ61PB.

Tôi xin pháo tác xạ vào mục tiêu, rồi thì Thiết giáp và 1 Trung Đội thuộc TĐ2 PB phòng không (Vừa di chuyển đến đây cùng tình nguyện tham chiến) dàn hàng ngang xối xả yểm trợ cho các Binh sĩ thuộc Tiểu đoàn 92 BĐQ xung phong lục soát, cái chốt được nhổ dễ dàng, con đường được thông, đoàn xe lại tiếp tục “Đường trường xa”. Đại úy Huỳnh hớn hở vẩy tay, chào tôi một lần cuối...rồi cho đến nay không biết tin gì của Đại úy cả. Đại bàng ơi ! Có còn mạnh khỏe lên “mai” nói chuyện với đàn em cho dzui !

Và đó cũng là lần tác xạ sau cùng trong đời pháo thủ của tôi.


***

Đêm 29/4 súng nổ rền khắp mọi nơi, VC pháo kích ào ạt và liên tục suốt cả đêm vào phi trường Biên Hòa, khói lửa mịt mù. Trực thăng lạch xạch vần vũ dầy đặt trên trời Biên Hòa như đàn ong vỡ tổ.

Ngồi trên mui chiếc xe tăng M 577 tôi nghe đài phát thanh Sài Gòn. Tổng trưởng thông tin Lý Quí‎ Chung phỏng vấn ông Huỳnh Tấn Mẩm : Nghe vậy thôi chứ không biết họ nói chuyện gì ?

Rà qua đài VC tôi nghe họ chỉ dẩn Binh sĩ “Ngụy” chúng tôi cách thức đầu hàng : Nếu là Thiết giáp thì súng phải quay lên trời khi đến gặp Vixi v.v…tôi nghe họ ba hoa nghĩ là họ kể chuyện Phong Thần làm gì có ?! Hơn nửa là hồi chiều này, Trung Tá Dương có cho biết là lệnh từ một vị Tướng ở Tổng Tham Mưu là “Các em cố gắng giữ những gì còn lại, ngày mai có giải pháp chính trị” tôi hiểu “Giải pháp chính trị” là huề vốn, là “Anh em ta cùng mẹ cha” là” cái nhà là nhà của ta, ông cố ông sơ lập ra…” ai mà ngờ mình có người “anh em” gian tà hết chỗ nói !

***

Sáng sớm ngày 30/4 Trung Tá Dương đi họp về phổ biến lệnh HQ là LĐ3KB sẽ di chuyển về Sài Gòn. Chiến đoàn 318KB giữ nguyên vị trí, an ninh cho các Chiến đoàn 315, 322, BCH LĐ3KB thứ tự lần lượt rời Biên Hòa. Khi BCH Lữ đoàn đến là chúng tôi nối đuôi và nhập ngay vào dòng xe đang chầm chậm chảy một chiều xuôi về Thủ Đô thân yêu.

Trời đất ngày hôm đó sao mà ảm đạm, thê lương lạ thường ! Trên xa lộ Đại Hàn (Con đường chúng tôi đi) chỉ lính với lính, đông vô số kể, đa số mặc quần áo “rằn ri” súng trên vai, di chuyển trong lặng lẽ, kỷ luật và trật tự. Tôi không biết tên đơn vị của những chiến binh này ?

Qua khỏi Thủ Đức một chút, có vài người lính Nhảy Dù chạy ngược chiều hai tay dơ lên đầu. Một anh lính Thiết giáp nào đó giải nghĩa “Như vậy là mình đầu hàng rồi”.

Quả là y như thế ! mở Radio chúng tôi nghe Tổng Thống Dương Văn Minh kêu gọi QLVNCH “Buông súng đầu hàng vô điều kiện” Vixi. Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh nhân danh Phụ tá Tổng Tham Mưu Trưởng Trung tướng Vĩnh Lộc ra lệnh chúng tôi phải “Nghiêm chỉnh chấp hành lệnh của Tổng Thống”…Và Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu, ông kêu gọi các tầng lớp đồng bào “Hãy vui vẻ chào mừng ngày Hòa bình của Dân tộc”

Thế là ò e cây me đánh đu…

Tôi “ru” tôi ngủ “Cũng ô kê thôi mà ! Người “anh em bên kia” lucky “Đại thắng mùa Xuân” thì họ được tiếp tục đội nón cối, mang dép râu, áo bỏ ngoài thùng nhảy lên bàn giấy ngồi chồm hổm làm việc…cộng. Còn mình thua thì về quê “Tìm tuổi thơ mất năm nao?”. Nhưng thượng sách có lẻ là qua Vĩnh Long hay xuống Cà Mau gì đó cưới “dợ” (Con gái của 2 xứ này có tiếng dịu dàng, hiền lành, đảm đang hơn là gái Sađéc’s Fashion !) tôi sẽ mua trứng gà, vịt về ấp thành gà vịt thiệt, tháng lại ngày qua gà vịt sẽ trở thành heo, bò rồi nhà double storey, xe Toyota RAV4 mấy hồi ?!

Hơn nữa cụ Nguyễn Khuyến đã dạy rồi :

“Được, thua, hơn, kém lưng bầu rượu.
Hay, dở, khen, chê một trận cười”.


Cụ means cả hai sêm sêm như nhau đó mà !
Ối ! vậy thì đâu có gì để ưu tư, phiền muộn !?


Đang mơ màng với giấc mơ gà, vịt, xe bổng dừng lại. Chúng tôi đã về đến cầu Bỉnh Triệu.

Nhảy xuống xe hối hả bước, chúng tôi đi qua vài cây số dầy đặc những xe, pháo, được xếp hàng thật khít khao, đã bị bỏ rơi chỉ một thời gian ngắn trước đây thôi ! Có mấy con gà cồ 155 ly nữa, chắc là gà của tiệm phở 46? Tôi có vổ nhẹ vào nòng thay lời “Hôm nay đây còn dui trông thấy nhau !”

Qua cầu Kinh nhìn lên đài quan sát Pháo Binh OP10 cao sừng sửng trong kho xăng, hồi năm 72 tôi có một tháng nhờ “Kế hoạch khói” ở đây, “né” được cái nóng héo người của mùa Hè đỏ lửa. Một kỹ niệm “An toàn trong thành phố” của tôi !

Khỏi cầu Kinh chừng vài trăm thước, một người trong bọn (Đại úy Tẩn ?) được một bà cụ nắm tay dắt đi nói “Các con vào đây thay đồ, để tụi nó giết các con à !”

Bà đưa chúng tôi đến nơi có một đống quần áo Civil cũ, trước một ngôi nhà có lẽ là nhà của bà ? Và chúng tôi đã giã từ những chiếc áo lính “thân thương” ở đây. Hích ! hích ! “Thôi rồi còn chi đâu …có còn lại chăng dư âm thôi ?” hích ! hích ! hích !

Sau khi “Cởi chiến bào giả dạng những thường dân”, chúng tôi lại tiếp tục rảo bước. Đến gần cầu Sơn gặp mấy chiếc xe tăng đang đậu thẳng góc với con đường binh lính đang ăn cơm, Thiếu úy “Châu Báu” Trần Ngọc Báu (cùng TĐ46PB, đang đi tiền sát cho một Chi đoàn thuộc Thiết đoàn 15KB đã đến đây trước) kêu tôi.

- Ê ! ghé đây ăn chén cơm đi rồi anh (Tên ông Chi đoàn trưởng, tôi cũng quen với ông Chi đoàn trưởng này nữa, mà bây giờ không thể nào nhớ được tên ông) sẽ đưa mình “dề”. Tôi tấp vào.

Cơm nước xong. Nồi, niêu, chén, dĩa, bàn, ghế được thảy hết vô xe.Tài xế nổ máy kéo cánh cửa sau lên đóng lại. Ông Chi đoàn trưởng ngồi vào ghế chỉ huy của ông. Khẩu đại liên được quay lên trời và che bằng một cái áo cho chắc ăn !

Chiếc xe quay đầu ra đường chờ đợị, sau cùng cũng nhập được vào đoàn Molotova cắm đầy cành lá ngụy trang của VC đang ào ào tràn vào Thành phố sắp sửa “Mang tên người”.

Chúng tôi vô Sài Gòn bằng ngã cầu Sơn, Hàng Xanh, Thị Nghè, trên cầu Thị Nghè có 2 xác chết của lính BĐQ và vài xác người mặc thường phục. Qua cầu Thị Nghè một đoạn VC họ rẻ trái, xe chúng tôi solo chạy thẳng rồi quẹo trái ở Đường Hồng Thập Tự. Lúc này trên đường có rất nhiều người tay buộc một miếng vải đỏ, cầm súng AK hoặc M16 chạy tới chạy lui bằng đủ các loại phương tiện xe cộ… nổ súng lung tung.

Có nhiều người bị thương hoặc được người khác dìu, hoặc tự mình tay giữ chặt vết thương hớt hãi trên đường phố.

Xe chúng tôi bị chận lại trên đường Hồng Thập Tự, họ hỏi “Nếu có súng ngắn thì giao nạp” chúng tôi lắc đầu. Họ bỏ đi.

Anh tài xế cho xe quẹo phải ở con đường trước cổng vườn Tao Đàn đến đường Phan Đình Phùng. Súng nổ quá xá cở ! Thêm vài người bị thương lảo đảo. Anh cho xe leo lên lề tắt máy, nhảy ra khỏi xe.

Chúng tôi cũng nhanh chóng rời “chiến xa” tan hàng, không ai nói được một lời chia tay, hay hẹn ngày tái ngộ gì với nhau cả. (Châu Báu và những Kỵ Binh năm xưa ơi ! Cho tôi gửi một lời chào).

Tôi và Báu hướng về đường Nguyễn Thiện Thuật qua đường Cộng Hòa để về nhà. Trên đường chúng tôi bị mấy vị anh hùng đeo băng đỏ chận lại. Chỉ chỏ vào quần kaki đang mặc; nạc nộ, chưởi bới. Thái độ rất hung hăng. Tôi hoang mang chờ đợi những viên đạn, nhưng rồi họ cũng bỏ đi.

Báu đi thẳng về hướng chợ Nancy còn tôi rẻ trái vô đường Vỏ Tánh. Đầu xóm có một VC mặc áo đen, quần đùi đi chân đất, hai vai đeo hai dây đạn, tay cầm súng AK đang đứng gác, xa xa những người hàng xóm của tôi từng nhóm năm, ba ngơ ngác nhìn. Tôi về đến nhà khoảng 3 hay 4 giờ chiều rồi.

***

Sau cùng tôi muốn nhắc đến một người bạn cùng TĐ46PB. Trung úy Nguyễn Văn Thảo anh là Trung Đội Trưởng Trung Đội 3C/46PB sáng ngày 30/4/75 tại đồn Thái Văn Minh ( Bà Hom) sau những tác xạ ngăn chận địch. Đạn đã hết anh cho Binh sĩ dưới quyền rời căn cứ, một mình ở lại phá hủy đại bác rồi tự sát. Tôi biết được cái chết thật “Nguyễn Văn Đương”… của anh qua lời kể đầy hãnh diện của Đại úy Hùng. Xin được “Report” cái chết của anh đến với đại gia đình Pháo Thủ và cũng là một nén hương lòng của tôi tưởng nhớ đến anh.

***

“Trải qua một cuộc bể dâu…” với những... “mặn, ngọt, chua, cay đầy đủ cả ” Người Pháo thủ trẻ ham vui ngày nào, giờ tuổi “thọ” cũng được sắp sĩ 60 “niên”, nhìn lại đoạn trường đã đi qua, rất thành thật là thời gian được làm Pháo thủ 46 là “ngọt”, là “tuyệt vời” nhất của tôi. Tôi “thấy” mình là một người “may mắn” vì đã có một thời “hạnh phúc” như thế !?

Vì muốn quyển Kỷ yếu Pháo Binh được ra đời và để góp phần. Tôi nhớ và ghi lại những kỷ niệm “chưa quên” của mình như trên …

Xin được thông cảm bỏ qua cho, nếu những tiếng “nổ” gây ưu phiền, khó chịu cho Quí vị.

Pháo Thủ Nguyễn văn Việt 
TĐ46PB
hoiquanphidung.com
Sinh Tồn chuyển

Bàn ra tán vào (1)

M.79
-Tan hàng... => kẻ mất , người còn...! -Tan hàng : cố gắng ! -Cố gắng chịu đựng khó khăn , gian khổ , nhục nhằn để sống ở quê nhà hay ở xứ người . Và CỐ GẮNG mãi mãi để quên đi nỗi đau : "THUA...VÌ PHẢI THUA !" ./.
----------------------------------------------------------------------------------

Monday, July 7, 2014

Một Kỷ Niệm Xa Xưa

Một Kỷ Niệm Xa Xưa - Ngô Minh Vũ

Theo cấp số, mỗi Sư đoàn có một Đại đội Trinh sát, riêng Sư đoàn này lại có thêm Đại đội TKXN. Sau này tôi mới biết là Đại đội này được thành lập do đề nghị của Đại úy Tú, Trưởng phòng 2 SÐ.
Khi tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Ðức, vì thứ hạng không cao, nên tôi chỉ còn được ưu tiên chọn về đơn vị Bộ binh. Sư Ðoàn 5 Bộ Binh chịu trách nhiệm vùng Bình Dương, Phước Long và Bình Long và bộ Chỉ huy Sư đoàn đóng tại Phú Lợi, tương đối gần Sàigòn, nên tôi tình nguyện về đơn vị này.

Không hiểu nguyên do gì mà tôi lại được bổ nhiệm về đại đội Thám Kích Xâm Nhập (TKXN) thuộc Phòng 2 Sư Ðoàn.

Theo cấp số, mỗi Sư đoàn có một Đại đội Trinh sát, riêng Sư đoàn này lại có thêm Đại đội TKXN. Sau này tôi mới biết là Đại đội này được thành lập do đề nghị của Đại úy Tú, Trưởng phòng 2 SÐ. Nhiệm vụ chính của Đại đội TKXN là yểm trợ phòng 2 trong công tác sưu tầm tin tức nơi vùng địch kiểm soát. Ngoài ra, Đại đội còn chịu trách nhiệm các cuộc hành quân đột kích.

Tư lệnh Sư đoàn lúc bấy giờ là Chuẩn Tướng Phạm Quốc Thuần. Ðại úy Tú, nguyên là Sĩ quan Dù, không hiểu như thế nào mà lại làm Trưởng phòng 2. Do mang dòng máu Dù, nên ông rất năng động; có lẽ vì thế mà ông đề nghị thành lập Đại đội này.

Kể từ khi Đại đội TKXN hoạt động, Phòng 2 Sư Ðoàn 5 được chấm điểm hạng nhất trong công tác Tình báo Vùng 3 Chiến thuật.

***
Như trên đã nói, nhiệm vụ chánh của Đại đội TKXN là yểm trợ Phòng 2 trong việc xác định sự hiện diện của địch trong phạm vi lãnh thổ Sư đoàn. Nói rõ ra, công tác chánh của đơn vị này là xâm nhập vào vùng mà chúng ta nghi là có sự hiện diện của địch.

Nếu Sở Liên Lạc, nằm ẩn mình ngay bên cạnh Bộ Tổng Tham Mưu, chịu trách nhiệm thả người ra miền Bắc, thì nơi đây, Đại đội này cũng nhảy vào lòng địch, nhưng phạm vi thu hẹp hơn, đó là khu 32 chiến thuật. Nói thế không có nghĩa là tôi muốn thổi phòng đơn vị của mình cho được ngang hàng với các vị Anh hùng vô danh kia, mà tôi chỉ muốn tạo một hình ảnh tương tự để chúng ta dễ hình dung việc làm của Đại đội này. Nói chung, Đại đội TKXN không đủ tầm vóc để đem so sánh với công tác của Sở Liên Lạc về mọi mặt. Các vị anh hùng kia, khi ra đi là kể như không có ngày về, trong khi chúng tôi chỉ đi vào lòng địch trong vòng vài ngày cho tới một tuần lễ; bên cạnh đó chúng tôi còn được hậu cứ sẵn sàng tiếp ứng, cứu trợ tức thì.

***

Phương thức xâm nhập mật khu địch tương đối an toàn nhất, là tổ chức một cuộc hành quân lục soát trong ngày, gần khu vực tình nghi có địch. Chiều đến, đơn vị rút về và để lại một bộ phận nhỏ, thường là một Tiểu đội hoặc một toán bảy người, đôi khi có thêm một, hai toán nữa.

Các toán này sẽ âm thầm đi sâu vào khu vực tình nghi để tìm tòi dấu vết địch. Thường thì chúng tôi chỉ đi từ bốn cho đến 7, 8 ngày vì lương khô mang theo có giới hạn.

Sở dĩ phương thức này an toàn nhất là vì khi bắt đầu công tác, chúng tôi đi chung với bạn đồng đội đông đảo nên không ngại những cuộc tao ngộ chiến.


Cách xâm nhập phiêu lưu nhứt là nhảy trực thăng vào mục tiêu. Khi nhảy như vậy, mục tiêu thường sâu trong vùng địch kiểm soát, và khi trực thăng xuất hiện, địch đã nghe biết và báo động. Có lần, chúng tôi vừa sà xuống bãi đáp là thấy ngay bọn chúng chạy tán loạn và ngay cả chúng tôi cũng cầm bằng cái chết trong tay, phải tìm ngay con đường tẩu thoát. Khổ nỗi là lúc bấy giờ Pháo binh không can thiệp gì được vì chiếc trực thăng thả chúng tôi còn đang lơ lửng trên không, cho nên chúng tôi đành chạy trối chết. Chúng tôi gọi cho Đại úy điều hành cuộc nhảy, gởi ngay “phở” lên đầu bọn chúng mà cũng là ngay trên thân mạng của bọn này. Nhờ tìm được một nơi ẩn núp, tạm gọi là an toàn trước mãnh đạn pháo binh, mà chúng tôi thoát hiểm. Làm như thế, chúng tôi chấp nhận cùng chịu chung mức độ rủi ro như địch nhưng thà bị như thế còn hơn để chúng rảnh tay để truy tìm chúng tôi. May mắn là chỗ núp của chúng tôi khá an toàn nên không ai bị "phở" rót trúng, trong khi đó, chúng tôi nghe chúng gọi nhau ơi ới, vừa tránh đạn pháo vừa ra lệnh tìm cho ra chúng tôi; đồng thời chúng cũng lo di chuyển ngay vì địa điểm đóng quân đã bị lộ. Nhờ loạt đạn pháo binh mà lần đó chúng tôi không bị chúng làm thịt. Chúng tôi thừa biết số phận của mình khi bị chúng bắt cho nên chúng tôi thà chịu chết dưới lằn đạn của quân ta hơn là phải chịu chết trong đau đớn dưới sự tra tấn của địch. Lần đó, ngay hôm sau, chúng tôi được trực thăng bốc khẩn cấp vì trên thực tế, chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ là phát hiện sự hiện diện của địch trong vùng nghi ngờ. Ðó là chuyện sau này.

***

Sư Ðoàn 5 BB trong giai đoạn đầu thành lập gồm hầu hết là người Nùng. Ðó là một sắc dân thiểu số nằm ở gần biên giới Việt Hoa. Lúc tôi đáo nhậm đơn vị, Trung úy Đại đội trưởng là một ông già người Nùng tên Ðèo Văn Tý. Vì chiếc lon Chuẩn úy còn sáng chóe, nên tôi được bổ sung về nắm Trung đội 3, do một Trung sĩ nhất thâm niên và dạn dày trận mạc phụ tá. Tuy là Trung đội phó nhưng ông Hạ sĩ quan này đã nhận lệnh ngầm của Đại đội trưởng là “tận tình” giúp đỡ tôi trong lúc chân ướt chân ráo, nếu không muốn nói rõ là huấn luyện tôi thực tập trận mạc.

Bù lại, nhờ có được kiến thức ngoài đời cũng như từ Quân trường, nên tôi cũng nhận được sự kính trọng của người phụ tá. Khi còn ở Quân trường, tôi may mắn được học môn địa hình với một Đại úy có nhiều kinh nghiệm chiến trường. Một trong những kinh nghiệm quí báu tôi học được là cách đi phương giác sao cho không bị lạc mục tiêu. Ông dạy, sau khi lấy phương giác và lên đường, mình phải tìm một địa hình hay địa vật dễ nhận ra tại điểm xuất phát để sau khi di chuyển một lúc, mình sẽ lấy địa hình này làm tiêu chuẩn để đo lại phương giác. Khi đo lại phương giác lúc xuất phát, chúng ta phải cộng thêm hay trừ bớt 3200, tùy theo phương giác lúc khởi hành. Nhờ học được bí quyết này mà tôi đã chinh phục được thuộc cấp trong những ngày đầu ở đơn vị cũng như sau này.

Khi chưa đối diện với thực tế, ta có thói quen xem thường vấn đề. Ðến khi đụng việc mới thấy thực không giống như mộng. Vào rừng già, chỉ di chuyển chừng 5, 7 thước là mất dấu tích điểm khởi hành. Khi di chuyển ta không có cách gì đi đúng được phương giác qui định vì cây cối chằng chịt, chứ đâu có ngay hàng thẳng lối như vườn cao su. Thế nên, kinh nghiệm học được ở Quân trường quả thật đã giúp tôi rất nhiều.


***

Một hôm, Trung úy Đại đội trưởng gọi tôi lên nhận lệnh công tác. Trước mặt ông là tấm bản đồ khu vực Phước Long với những lằn viết chì xanh. Ông cho biết, công điện từ Tổng Tham Mưu cho biết có một Trung đoàn chính qui Bắc Việt vừa xuất hiện trong khu vực này. Thông thường, những tin tình báo từ Tổng Tham Mưu được đánh giá A1, có nghĩa là nguồn tin và nơi cung cấp tin rất chính xác. Tôi nghĩ Bộ Tổng Tham Mưu có được những tin này là nhờ tình báo kỹ thuật của Mỹ và báo cáo của đơn vị 101. Hoạt động của 101 cũng tương tự như Sở Liên Lạc nhưng địa bàn là miền Nam. Nhằm giúp cho Tư lệnh Sư đoàn nắm vững tình hình địch, như nơi đóng quân và hướng di chuyển, để lượng định chiều hướng hoạt động của địch, Đại úy Tú ra lệnh Đại đội TKXN đi thám thính.

Lâu nay, cố vấn Mỹ có nghe nói về hoạt động của Đại đội này nhưng họ không mấy tin lắm, cho nên lần công tác đó, trong mỗi toán của chúng tôi, có một cố vấn Mỹ đi theo.

Sự hiện diện của những anh Mỹ này, kể ra cũng có lợi cho công tác nhưng kèm theo đó, chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn.

Về mặt yểm trợ, Phòng nhì được thỏa mãn hầu hết mọi yêu cầu như máy móc truyền tin, lương khô, trực thăng lúc nào cũng ứng chiến để yểm trợ chúng tôi. Bên cạnh đó, các "Con gà cồ" Mỹ sẵn sàng gáy liên tục trên đầu địch. Chúng tôi hoàn toàn vững tâm về mặt này.

Nhưng trong công tác, chúng tôi bị trở ngại rất lớn. Những lần trước, chúng tôi đi một mình rất dễ xoay trở. Trước khi đi, chúng tôi được biết trước sự hiện diện của các đơn vị địch. Thông thường, một vài người trong toán được trang bị AK, vì lúc bấy giờ chúng tôi đóng vai lính cơ động Tỉnh của VC.

Trong rừng, VC có những đơn vị Chính qui Bắc Việt, cơ động Tỉnh. Bọn cơ động Tỉnh, nhiệm vụ giống như Địa phương quân của ta, gồm người miền Nam. Bọn du kích thì lẻ tẻ, gồm dân địa phương, có khi sống trà trộn trong dân chúng.

Vì nhiệm vụ của chúng tôi là khám phá sự hiện diện của lực lượng chính qui Bắc Việt nên vai trò cơ động tỉnh dễ cho chúng tôi qua mặt bọn Bắc Việt. Chúng tôi phải biết rõ tên cấp Chỉ huy địch, tuy thật sự không cần thiết khi phải đối đầu với quân chính qui vì chúng chẳng biết ai là ai; nhưng rủi khi chạm bọn cơ động thì phải biết cách đối đáp. Ví như khi công tác Phước Long, chúng tôi phải thuộc lòng tên tuổi, cấp bậc, cấp Chỉ huy của các đơn vị cơ động thuộc hai tỉnh Bình Long và Phước Long. Chạm đơn vị Bình Long thì phải đóng vai đơn vị Phước Long. Nếu nói trật thì dễ bị khám phá vì bọn cơ động là người miền Nam nên không dễ nói láo với chúng.

Nay có kèm theo mấy ông mũi lõ này thì hết đường nói dóc. Cán binh VC mà sao lại có Mỹ và lại trang bị toàn là M16 và PRC25 ? Ðấy là cái khổ của chúng tôi.

Cái khổ thứ hai là máy truyền tin của Mỹ rất mạnh, ban đêm tiếng nó khè nghe xa cả cây số. Luật hành quân của Mỹ (Với tinh thần dè dặt, tôi xin thưa trước, những gì tôi biết về cách hành quân của đơn vị bạn, chỉ giới hạn trong công tác này mà thôi) là mỗi đầu giờ họ phải báo cáo về phòng hành quân và máy phải mở thường trực để nhận lệnh trên. Vào rừng ban đêm, một tia lửa bằng cây nhang cũng giúp cho địch khám phá sự có mặt của ta, một tiếng tằng hắng nhỏ cũng đủ chết vì đôi khi hai bên cách nhau không đến 20 thước nhưng không hề biết sự hiện diện của nhau. Tôi phải yêu cầu viên Trung sĩ Mỹ thông báo cho bộ phận trực nơi phòng hành quân của họ là không nên liên lạc với chúng tôi; chỉ khi nào cần thì chúng tôi sẽ gọi. Khi dừng quân qua đêm, tôi báo cáo tọa độ khả nghi địch có thể xuất hiện để tác xạ yểm trợ khi cần, ngoài ra đừng bao giờ liên lạc với chúng tôi. Tuy thế mỗi đầu giờ, chúng tôi vẫn phải bấm cần liên hợp, theo ám hiệu riêng để giữ liên lạc liên tục.

Như đã nói, sự hiện diện của những người bạn to xác làm chậm tốc độ di chuyển nhưng nhờ vậy mà họ tin tưởng sự hoạt động của chúng tôi. Lúc đi một mình, bảy người chúng tôi chia làm hai toán nhỏ, thay nhau dẫn đường. Hai toán này không cách xa nhau mấy. Nay có anh mũi lõ, hai toán phải cách nhau khá xa, và toán có anh ta bao giờ cũng đi phía sau để lỡ khi chạm địch thì kịp lánh mặt. Cũng vì thế mà chúng tôi đi chậm lại.

***

Sau khi bay trên trời hơn một tiếng đồng hồ, chúng tôi được Đại úy chỉ huy ra lệnh chuẩn bị. Một trong ba chiếc UH đang lơ lửng trên không bỗng nhiên sà thấp xuống một vùng trảng trống, chiều dài mỗi bề không quá một cây số. Khi trực thăng còn cách mặt đất chừng hai thước, bọn tôi phải nhảy xuống đất. Trên đầu gió lộng ào ào, tiếng động cơ chác chúa, chúng tôi bất kể mọi sự, cấm đầu phóng ngay vào bìa rừng. Mạng sống của chúng tôi bấy giờ giao cho ông Trời. Chỉ trong tích tắc, chiếc trực thăng đã nghiêng mình lượn trở lên trên không, phóng theo hai chiếc bạn để yểm trợ họ thả hai toán còn lại, thuộc Trung đội của tôi.

Vào được bìa rừng mà không bị chúng hốt, chúng tôi cầm chắc là đã qua mặt được Diêm vương, ít nhứt là 80%. Các bạn tôi, nhanh như những con sóc, bố trí ngay vòng đai quan sát để bảo vệ trong khi tôi xác định điểm đứng và hướng đi.

Tôi liên lạc ngay thượng cấp :

- Tám đây chín gọi, trả lời.

- Tám nghe.

- Diều hâu đang kiếm gà, trả lời

- Tốt.

- Số nhà Thanh Thúy phải ba lẻ một, xuống hai chấm năm trả lời.

- Tốt lắm, tiếp xúc gia chủ. Hết.

Kể từ giờ đây, chúng tôi chẳng những xa cách đời sống thị thành mà còn phải sống lẻ loi, cô độc, không được liên lạc với thượng cấp, đồng đội dù đang cùng chung công tác.

***

Như đã biết, Đại úy trưởng Phòng nhì nguyên là Sĩ quan Dù nên chúng tôi sử dụng mật hiệu liên lạc truyền tin giống như các Thiên thần Mũ đỏ.

Trong phạm vi hành quân, Ban ba chọn sẵn, thường là hai điểm chuẩn và đặt tên là rượu, ca sĩ, thuốc lá, hoặc Tỉnh, Thành v.v… Tên các điểm chuẩn này thường là ám chỉ tổng quát một thể loại nào đó như vừa kể.

Hôm ấy, hai điểm chuẩn làm mật hiệu liên lạc là Rượu và Ca Sĩ; vì thế nên tôi báo cáo điểm đứng của mình là Thanh Thúy (Ca sĩ Thanh Thúy) về phía Ðông ba chấm một, phía Nam hai rưởi.

Những lần liên lạc khác, tôi không dùng Thanh Thúy nữa mà đổi tên ca sĩ khác, miễn là ca sĩ, như Thành Ðược, Hùng Cường v.v… Tên nghe thì khác nhưng vẫn là một điểm chuẩn. Khi chọn điểm chuẩn rượu thì chúng tôi thay nhau gọi nào là Martell, rượu đế, Ông già chống gậy v.v…

***

Sau khi báo cáo xong, chúng tôi ngồi yên, ẩn mình thật kín, quan sát chung quanh thật kỹ và thật lâu, có khi một hai tiếng đồng hồ để xem động tĩnh. Lúc bấy giờ chúng tôi còn gần với trảng trống nên có thể quan sát xa các phía kia. Lúc nãy tuy nói là chúng tôi đã qua mặt được Diêm vương ít ra cũng là 80%, nhưng thật ra, lúc bấy giờ chúng tôi tự biết mình là những con gà con đang bị những cặp mắt cú vọ theo dõi.

Thời gian lúc bấy giờ tựa như ngưng đọng, trái với lúc bắn nhau chí chóe với địch, say trong thuốc súng, thời gian qua mau, qua mau không ngờ.

Ngồi như thế, lúc đầu tâm trí còn tập trung để phản ứng nhanh nếu bị địch hốt. Sau đó chừng nửa tiếng, liền quên mất hiểm nguy trước mắt mà lại nhớ về phố thị, với những cuộc vui trác táng, rượu chè, em út. Bấy giờ lòng thấy chán nản chứ không còn nét ngang tàng, láu cá, tưởng mình như ông trời con, khi ngà ngà say ngả ngớn bên cạnh các em. Ðúng là đời không có ngày mai.

Tôi bấm ống liên hợp mấy lần, theo mật hiệu để báo cáo lên đường. Hạ sĩ Dềnh bắt đầu dò dẫm cất bước. Tuy không thấy dấu hiệu về sự hiện diện của địch nhưng chúng tôi vẫn thận trọng từng bước đi. Tiếng gãy của một cành cây khô trong rừng im vắng không khác gì tiếng kèn xe; trong khi ấy, địch có thể cách chúng tôi không quá mười thước.

Thế nên chúng tôi di chuyển rất chậm, có khi cả hai ba tiếng đồng hồ mới được một cây số. Cái khó của chúng tôi là không được di chuyển trên đường mòn, di chuyển sao cho không để lại dấu vết.

Một trong những hiểm nguy chờ đợi mà chúng tôi không thể tránh né là điểm nước. Chúng tôi phải di chuyển gần những con thanh xà (Dòng nước trên bản đồ) để tự túc nước uống và cũng để phát hiện địch, vì địch cũng cần nước như chúng tôi. Do đó chúng tôi cũng dễ bị địch phát hiện.

Mỗi lần lấy nước, một anh bạn đồng đội phải cầm tất cả bi đông của toán, trườn ra gần dòng nước, phải là một nơi ẩn khuất như là bụi cây, chứ không phải thoáng như bãi biển Vũng Tàu. Tuyệt đối không gây tiếng động nhưng không phải dễ vì khi nước tràn vào bi đông, không khí bên trong tranh nhau chạy trốn gây nên tiếng ục ục. Thế nên lấy nước trong hoàn cảnh này cũng là một “Nghệ thuật”, một kỹ thuật tự lực cánh sinh để thoát hiểm.

Hôm ấy, chúng tôi nghỉ qua đêm cách nơi đáp không quá hai cây số. Rừng về đêm, nhất là rừng sâu sao mà âm u như địa ngục. Tôi chưa ghé thăm địa ngục lần nào trong kiếp sống này nên cảnh tượng đêm nay đối với tôi không khác chi địa ngục mà tôi tưởng tượng. Tiếng côn trùng rả rít, thỉnh thoảng tiếng chim gì không biết, nó kêu to như xé nát màng đêm, khiến chúng tôi, tất cả đều thấy lạnh tóc gáy. Khổ thay, hầu hết bọn chúng tôi đều là những tay nghiện thuốc; thế mà phải chịu nhịn ghiền qua đêm.

Chúng tôi chỉ được ngồi dựa vào gốc cây để ngủ tạm chứ không được nằm. Mọi tiện nghi, dù là tiện nghi của một người lính hành quân cũng phải xếp qua một bên. Chúng tôi không được căng võng, không được trải Poncho để ngả lưng. Mọi người đều được chia phiên gác. Bấy giờ Sĩ quan không phải đi ký sổ gác như thường tình. Lúc bấy giờ, chúng tôi đã vượt xa chế độ Xã hội Chủ nghĩa mà thực sự hòa mình trong thế giới đại đồng; mọi người bình đẳng trong cảnh ngộ này.

Ðêm nặng nề nhưng lại thư thả dần trôi như trêu cợt bảy chàng hiệp sĩ bất đắc dĩ. Mãi khi nghe tiếng chim lao xao báo thức, chúng tôi khai thác ngay phút giây “hỗn độn” này để tiếp tục lên đường. Chờ đến khi trời thật sáng, chúng tôi mới dám dừng chân, tận hưởng hương vị điếu “Bastos” với chút cà phê đen, nguội ngắt được tưng tiu cất kỹ từ khi còn ở hậu cứ. Nương theo sương khói của núi rừng, chúng tôi nén khói thuốc thật sâu tận đáy phổi để sau đó thả ra từ từ chứ không được hút ào ào như người “thế tục”.

Sau khi thỏa mãn những đòi hỏi của thân xác, nào là điểm tâm, chúng tôi còn phải thải ra những chất thừa của cơ thể. Mọi động tác đều phải theo qui củ.

Chiều hôm ấy, tức là ngày thứ hai của chuyến công tác, chúng tôi khám phá được một còn đường mòn. Ðây là một con đường mòn khá cũ. Tưởng cũng cần nói thêm là, trong rừng sâu, vì là vùng chúng kiểm soát nên sự di chuyển của chúng không như chúng tôi. Và cho dù có muốn cũng không được vì với một đại đơn vị, từ cấp trung đoàn trở lên, không sao không để lại dấu vết khi di chuyển.

Khi khám phá thấy con đường mòn, chúng tôi dừng chân, bố trí và phái người bò ra quan sát. Ðối với việc này tôi phải đích thân đảm trách vì dù sao tôi vẫn phải nhận lãnh trách nhiệm. Hơn nữa, tôi phải hướng dẫn người bạn to con quan sát tận mắt để sưu tầm tin tình báo.

Tôi và viên Trung sĩ Mỹ bò nhẹ nhàng đến bên cạnh con rắn điu điu, ám chỉ con đường mòn. Trước khi bò ra, tôi phải bố trí hai nhóm, mỗi nhóm hai người đi “tiền đồn” ở hai đầu mục tiêu. Hai đứa chúng tôi bò đến gần con đường mòn, ẩn mình thật kín trong bụi cây, áp tai trên đất để lắng nghe tiếng động di chuyển. Mọi sự vẫn như tờ.

Bọn chánh qui Bắc Việt chỉ di chuyển ban đêm, ban ngày chúng dừng quân. Biết thế nhưng chúng tôi vẫn lắng nghe tiếng bước di chuyển của địch vì bọn địa phương dẫn đường thường đi do thám ban ngày. Sau gần một tiếng đồng hồ ẩn mình trong bụi rậm, chúng tôi bò ra gần sát con đường mòn. Chỉ cần một nhánh cây khô bị gãy cũng giúp chúng tôi lượng định tình hình. Tầm mắt chúng tôi đảo từ gần đến xa, từ trái qua phải thật chậm. Tôi phát hiện có dấu lá cây bị giẫm tuy đã cũ nhưng không quá lâu. Chúng tôi vội lánh xa con rắn điu điu.

Tôi báo cho người bạn Mỹ biết là đêm nay chúng tôi sẽ trải dọc theo con đường mòn này. Sau đó, chúng tôi tiếp tục quan sát địa thế, xác định điểm đứng và tìm địa điểm thuận lợi để bố trí nhân sự đêm nay. Tôi căn dặn đồng đội cách ứng phó và điểm tập trung nếu bị thất lạc hoặc khi bị địch khám phá.

Chúng tôi chia làm ba toán. Người bạn Mỹ, tôi và người mang máy ở giữa, Hạ sĩ Dềnh cùng với một người bạn đồng đội trấn phía Bắc, hai người còn lại quan sát phía Nam con đường. Tuy nói là trải dài nhưng thật ra khoảng giữa hai đầu không quá mười thước.

Sau khi ấn định vị trí cho anh em, chúng tôi rút ra xa con đường để ăn chiều, nghỉ ngơi. Khi nắng chiều sắp tắt, chim bay về tổ lao xao. Nương theo những tiếng cựa mình của rừng thẳm, tôi liên lạc về nhà, báo cáo số nhà qua đêm.

- Tám đây chín gọi, trả lời.

- Tám nghe, trả lời.

- Nhậu nếp than, trái hai ly rưỡi, trên hai ly ba, trả lời.

- Có gì lạ, sao còn lẩn quẩn ở địa chỉ cũ, trả lời.

- Thấy dấu con rắn điu điu, bò song song với con rắn lục, đang theo dõi, trả lời.

- Tốt, cố gắng và thận trọng, trả lời.

- Hết.

Anh bạn Mỹ cũng lo phần liên lạc với đơn vị của anh ta. Tôi không quên dặn anh thông báo cho họ số nhà những nơi mà tôi yêu cầu để rót "phở" khi cần. Tôi chấm sẵn tọa độ cho từng điểm để khi cần chúng tôi sẽ không lập lại tọa độ. Người bạn Mỹ cho biết ở nhà sẵn sàng thỏa mãn yêu cầu yểm trợ. Tôi yên tâm phần nào.

Thú thật lúc bấy giờ tinh thần chúng tôi rất căng thẳng, nhất là viên Trung sĩ Mỹ. Những người bạn đồng đội của tôi, tuy dày dạn chiến trường nhưng vì kiến thức Quân sự có giới hạn nên họ chăm chú nghe lệnh và nhất nhất làm theo.

Kể từ giờ phút ấy tôi chấm dứt liên lạc với cấp trên nhưng họ phải trực máy 24/24. Tôi yêu cầu anh bạn Mỹ cũng làm tương tự vì như đã nói, ban đêm, tiếng máy khè nghe rất lớn.

Tất cả nhắm mắt dưỡng thần, tuy rất khó nhưng vẫn cố vì chưa biết đêm nay có chợp mắt được chút nào không. Bóng đêm phủ chụp chúng tôi thật nhanh. Ba toán chúng tôi về vị trí. Muỗi rừng tuy không chích chúng tôi nhưng tiếng vo ve của chúng cũng làm mình khó chịu. Thỉnh thoảng tôi phải thoa thêm thuốc chống muỗi.

Ban chiều, chúng tôi đã dọn dẹp chỗ qua đêm để tránh gây tiếng động lúc trở mình hay di động. Cành cây và lá khô đều được dọn sạch. Thời gian nặng nề trôi, tôi thấy thèm điếu thuốc lạ lùng nhưng đành chịu nhịn.

Rừng về đêm cộng thêm sự tịch mịch càng tăng thêm sự rùng rợn. Lúc gần 10 giờ, tôi phát hiện có tiếng động giống như lá khô bị giẫm cùng lúc ấy tổ phía Bắc cũng giựt dây báo động. Tinh thần căng thẳng đến độ tôi như ngừng thở. Tôi giựt dây báo động cho tổ phía Nam và được họ trả lời cho biết họ cũng đã nghe tiếng động. Thế là tôi tạm yên tâm nhưng cơn lo khác lại đến là rủi một người nào đó gây tiếng động như là ho, tằng hắng thì chỉ có nước chết.

Tiếng giẫm chân trên lá khô càng rõ dần. Tôi thò tay khều vào lòng bàn tay người bạn Mỹ, vừa trấn an anh ta mà cũng là để tự cảnh giác mình. Tôi bấm ống liên hợp để thông báo cho nhà biết tôi đang cận kề địch. Họ chỉ nhận được tín hiệu của tôi mà không được hỏi lại vì tôi điều chỉnh nút âm độ đến mức tối thiểu. Tôi nghĩ là cấp trên ở nhà cũng đang hồi họp chờ đợi tín hiệu của tôi.

Màn đêm nơi rừng núi gần như che khuất thị giác của tôi. Tôi cố mở to mắt nhưng vẫn không thấy gì. Chúng tôi hoàn toàn trông cậy vào thính giác. Tôi căn cứ vào tiếng động của cành và lá khô bị giẫm để phỏng tính hướng di chuyển cũng như quân số địch.

Tôi nghĩ địch quân đã được huấn luyện cách di chuyển ban đêm sao cho ít gây tiếng động nhưng như chúng ta biết, hầu như Chính phủ VNCH chỉ kiểm soát được khu Thành thị. Vùng nông thôn và rừng núi về đêm hoàn toàn ngoài vòng kiểm soát của quân ta. Thế nên địch không áp dụng kỷ luật di chuyển chặt chẽ lắm. Thỉnh thoảng chúng tôi có nghe tiếng họ liên lạc nhau.

Trước đó mấy ngày, Phòng nhì Sư Ðoàn nhận được bản tin A1 của Tổng Tham Mưu về sự hiện diện của địch cấp Trung đoàn trong khu vực mà chúng tôi hiện đang công tác. Ðối chiếu hồ sơ trận liệt, cấp trên quyết đoán chúng là Trung đoàn 275. Nhiệm vụ của chúng tôi là tìm số nhà của chúng. Giờ này ở nhà chắc đang định vị số nhà mới của chúng để ước tính tình hình cũng như khả năng và ý đồ của địch trong tương lai gần.

Bấy giờ khoảng 12 giờ đêm, trăng hạ tuần bắt đầu lố dạng đâu đó. Chỉ thấy rừng đêm trở nên mờ ảo, tầm nhìn của chúng tôi bớt bị giới hạn nhưng việc này lại gây khó khăn cho chúng tôi hơn vì địch có thể khám phá sự hiện diện của chúng tôi nhờ ánh trăng. Trong hoàn cảnh này, địch làm chủ tình hình, chúng tôi trở thành đặc công. Lúc bấy giờ, nếu có ai cho vàng bảo ngủ chúng tôi cũng không ngủ được.

May sao, chị Hằng có lẽ vì mặc cảm bị khuyết tật nên không thích chường mặt lâu dài, vội nép mình sau lớp mây mù. Không hiểu chị Hằng đã làm gì mà tiếp theo đó là vài tiếng gầm gừ của lão Thiên lôi, cộng thêm vài tia chớp từ xa. Tôi thầm cám ơn Trời Phật.

Khoảng nửa giờ sau, mưa bắt đầu rơi. Tiếng tí tách của mưa chạm lá rừng giúp chúng tôi thoải mái trở mình. Trong khi đó, tiếng chân di chuyển của địch giờ đây được kèm thêm tiếng sột soạt của những tấm ni lông chạm vào nhau.

Mưa vẫn rơi và địch tiếp tục đi. Thỉnh thoảng chúng tôi giựt dây liên lạc nhau để cảnh giác. Quả thật cơn mưa đã giúp chúng tôi rất nhiều nhưng gây khó chịu cũng không ít. Toàn thân ướt mèm. Cái lạnh lẩn quẩn quanh thân nhưng không trấn áp được nỗi lo sợ trong lòng. Mãi đến khoảng 2 giờ đêm, tiếng địch di chuyển thưa dần và dứt hẳn. Tuy thế chúng tôi vẫn giữ nguyên vị trí cũ và chịu đựng cơn lạnh. Giá mà kéo được một hơi thuốc thì sung sướng biết bao.

Cơn nguy hiểm coi như đã qua nhưng chúng tôi phải trải qua mấy tiếng đồng hồ nữa trong tình trạng như thế cho đến khi gần sáng.

Khi ánh dương rụt rè trở lại với rừng sâu, tôi hỏi ý kiến người bạn Mỹ :

- Mầy nghĩ gì và tính sao ?

Anh ta trả lời nhanh :

- Gọi trực thăng đến bốc về.

Nhiệm vụ của anh ta là muốn kiểm chứng việc làm của Phòng nhì Sư Ðoàn. Nhiệm vụ của toán là phát hiện địch. Giờ đây chắc hẳn là các tên cố vấn Mỹ không còn nghĩ là Phòng nhì Sư đoàn báo cáo không đúng sự thật.

Thực tế, chúng tôi đã chu toàn trách nhiệm, khám phá sự hiện diện của địch. Chúng tôi phải đi thêm vài cây số nữa đến một cái trảng trống để trực thăng bốc về.

Những phút giây nghẹt thở được đền bù bằng mấy ngày phép và mặc sức mà đấu láo khi bắt đầu ngà ngà hơi men !

Ngô Minh Vũ
hoiquanphidung.com
Sinh Tồn chuyển